Cô Li-nét Đác-măng quay lưng lại với Brốt-uê. Ăn miếng trả miếng thôi, vì Brốt-uê cũng thường quay lưng với cô Đác-măng. Nhưng xem ra phía trả miếng vẫn thắng thế, vì cô cựu đào chính của gánh hát "Gặt lấy bão giông" có đủ thứ phải cầu xin Brốt-uê, còn Brốt-uê thì chẳng cần gì ở cô.
Vậy nên cô Li-nét Đác-măng xoay lưng ghế về phía cửa sổ nhìn xuống Brốt-uê, ngồi xuống khâu kịp thời cái gót bằng chỉ sợi của một chiếc tất lụa đen. Cảnh huyên náo lấp lánh của Brốt-uê gầm vang dưới cửa sổ chẳng còn quyến rũ gì cô. Điều cô khao khát là bầu không khí ngột ngạt của một phòng hoá trang trên con phố thần tiên ấy và tiếng hò reo của khán giả tụ họp ở cái khu phố thất thường ấy. Trong khi chờ đợi, không được bỏ bê mấy chiếc tất. Lụa thì mau rách lắm, nhưng mà, suy cho cùng, đó chẳng phải là thứ hàng duy nhất đáng gọi là hàng hay sao?
Khách sạn Tha-li-a nhìn xuống Brốt-uê như Ma-ra-tông nhìn ra biển. Nó đứng như một vách đá u ám bên trên xoáy nước, nơi hai dòng thuỷ triều của hai đại lộ lớn đụng nhau. Ở đây, các gánh hát tụ về sau những chuyến lưu diễn, để cởi đôi hài bi kịch và phủi bụi đôi giày hài kịch. Dày đặc trên những con phố quanh đó là văn phòng đặt diễn, nhà hát, người môi giới, trường dạy diễn xuất, và những nhà hàng tôm hùm sang trọng mà những con đường đầy chông gai ấy dẫn tới.
Lang thang qua những hành lang kỳ quặc của toà Tha-li-a mờ tối, ẩm mốc, bạn ngỡ mình đang ở trong một con tàu lớn hay một đoàn lữ hành sắp sửa ra khơi, cất cánh, hay lăn bánh đi xa. Quanh ngôi nhà vương vất một cảm giác bất an, chờ đợi, tạm bợ, thậm chí lo âu và sợ hãi. Hành lang là cả một mê cung. Không có người dẫn đường, bạn lạc lối như một linh hồn lạc trong trò đố chữ.
Rẽ qua bất cứ góc nào, một chiếc áo choàng phòng hoá trang hay một ngõ cụt cũng có thể chặn bạn lại. Bạn gặp những diễn viên bi kịch đáng sợ khoác áo choàng tắm sải bước đi tìm những phòng tắm mà người ta đồn là có. Từ hàng trăm căn phòng vọng ra tiếng chuyện trò ồn ã, những mẩu bài hát mới và cũ, và tiếng cười dễ dãi của các diễn viên tụ họp.
Mùa hè đã tới. Các gánh hát đã giải tán, và họ nghỉ ngơi ở cái quán trọ ưa thích của mình, trong khi vây hãm các ông bầu để xin hợp đồng cho mùa diễn tới.
Vào giờ này buổi chiều, việc lặn lội khắp các văn phòng môi giới trong ngày đã xong. Khi bạn lơ đãng đi lang thang qua những hành lang phủ rêu, những bóng tiên nữ lướt qua bên bạn, nghe được cả tiếng, đôi mắt sao sau tấm mạng, những dải áo bay bay và tiếng lụa sột soạt, để lại cho những hành lang buồn tẻ mùi hương của niềm vui và kỷ niệm về hương hoa đại. Những anh diễn viên hài trẻ nghiêm trang, cục yết hầu linh hoạt, tụ tập ở các ngưỡng cửa bàn về những tài danh sân khấu thuở trước. Từ đâu đó xa xa bay tới mùi giăm bông với bắp cải đỏ, và tiếng bát đĩa loảng xoảng của bữa ăn trọn gói.
Tiếng sống rì rầm không rõ nét trong toà Tha-li-a được làm sinh động thêm bởi tiếng nút chai bia bật ra kín đáo, cách nhau những khoảng hợp lý và lành mạnh. Được chấm câu như thế, đời sống trong quán trọ vui vẻ này đọc lên trôi chảy lắm. Dấu phẩy là dấu được ưa chuộng nhất, dấu chấm phẩy bị nhăn mặt, còn dấu chấm thì bị cấm hẳn.
Phòng cô Đác-măng nhỏ. Chỗ giữa bàn trang điểm và bàn rửa mặt chỉ vừa đủ kê chiếc ghế đu của cô nếu đặt theo chiều dọc. Trên bàn trang điểm có những vật dụng thường lệ, thêm những kỷ vật cô cựu đào chính sưu tầm từ các chuyến lưu diễn và ảnh của những bạn đồng nghiệp thân thiết nhất, tốt nhất của cô.
Đang mạng tất, cô nhìn một trong những tấm ảnh ấy hai ba lần, mỉm cười thân thiết.
— Không biết lúc này con Rô-da đang ở đâu nhỉ, — cô nói nửa thầm nửa to.
Nếu bạn có đặc ân được xem tấm ảnh được ưu ái như thế, thoạt nhìn bạn sẽ ngỡ đó là ảnh một bông hoa trắng nhiều cánh đang bị bão cuốn bay giữa không trung. Nhưng vương quốc loài hoa chẳng có phần gì trong cái xoáy cánh trắng ấy.
Bạn đang thấy chiếc váy ngắn mỏng manh của cô Rô-da-li Rây khi cô lộn trọn một vòng đầu xuống gót lên trên chiếc đu quấn hoa tử đằng, bay vút xa khỏi sân khấu, cao trên đầu khán giả. Bạn thấy cái hình ảnh ống kính máy ảnh ghi lại chẳng tới nơi của cú đá duyên dáng mà mạnh mẽ, mà đúng vào khoảnh khắc hồi hộp ấy, cô hất bay thật cao, thật xa chiếc nịt bít tất bằng lụa vàng. Tối nào chiếc nịt cũng xoay tít bay ra khỏi cái chân nhanh nhẹn của cô, rơi xuống đám khán giả thích thú bên dưới.
Bạn cũng thấy, giữa đám khán giả áo đen, phần đông là đàn ông, của một rạp tạp kỹ chọn lọc, cả trăm cánh tay giơ lên với hi vọng chụp được món tín vật rực rỡ đang bay trong không trung.
Tiết mục này đã đem lại cho cô Rô-da-li Rây bốn mươi tuần diễn ở những tuyến rạp tốt nhất, suốt hai năm liền. Trong mười hai phút trên sân khấu cô còn làm những việc khác, một bài vừa hát vừa múa, nhại lại hai ba diễn viên vốn chỉ là bản nhại của chính họ, một màn giữ thăng bằng với chiếc thang gấp và cây chổi lông gà. Nhưng khi chiếc đu kết hoa được thả xuống từ trên giàn, và cô Rô-da-li tươi cười nhảy lên ghế đu, chiếc vòng vàng nổi bật ở chỗ mà chẳng bao lâu nữa nó sẽ tuột ra và thành phần thưởng bay vút, ai cũng thèm muốn, thì lúc ấy cả khán phòng đứng bật dậy như một người, ít ra là người ta cho là thế, tán thưởng cái tiết mục đặc biệt đã làm tên tuổi cô Rây được các văn phòng đặt diễn ưa chuộng.
Hết hai năm, cô Rây bỗng báo với người bạn thân, cô Đác-măng, rằng cô sẽ về nghỉ hè ở một ngôi làng cổ lỗ trên bờ bắc đảo Dài, và sân khấu sẽ không bao giờ thấy cô nữa.
Mười bảy phút sau khi cô Li-nét Đác-măng nói ra mong muốn được biết người bạn cũ đang ở đâu, có tiếng gõ cửa dồn dập.
Bạn đừng ngờ gì cả, đó chính là Rô-da-li Rây. Nghe tiếng mời vào lanh lảnh, cô bước vào, có vẻ hơi mệt và bồn chồn, thả phịch chiếc túi xách nặng xuống sàn. Tôi xin thề, đúng là Rô-da-li, trong chiếc áo khoác đi đường rộng thùng thình, lấm bụi đường, chẳng phải áo đi ô-tô gì cả, tấm mạng nâu buộc chặt có hai đuôi dài cả mét bay phấp phới, bộ đồ đi bộ màu xám và đôi giày nâu thấp cổ với ghệt màu hoa oải hương.
Khi cô hất tấm mạng và chiếc mũ ra, bạn thấy một khuôn mặt khá xinh, giờ đang đỏ bừng và xao động vì một cảm xúc khác thường, đôi mắt to bồn chồn, vẻ bất mãn làm mờ đi ánh sáng của chúng. Một búi tóc nâu đỏ xỉn, dày nặng, vấn vội, đang xổ ra thành những sợi quăn gợn sóng và những lọn nhỏ khỏi đám lược và kẹp giữ nó.
Cuộc gặp gỡ của hai người không có cái màn ồn ã, nhảy cẫng, hôn hít và hỏi han tới tấp vốn là đặc điểm trong những cuộc chào hỏi của các chị em ngoài nghề trong giới thượng lưu. Chỉ một cái ôm ngắn, hai cái chạm môi cùng lúc, và họ lại đứng ngang hàng như ngày xưa. Cuộc đón chào giữa những người hát rong gặp nhau ở những ngã tư đan chéo của họ rất giống lời chào ngắn gọn của những người lính hay những người du hành nơi hoang dã xứ người.
— Tớ thuê căn phòng hẹp cuối hành lang, trên phòng cậu hai tầng, — Rô-da-li nói, — nhưng tớ xuống thẳng đây gặp cậu trước khi lên. Tới khi họ bảo tớ mới biết cậu ở đây.
— Tớ ở đây từ cuối tháng Tư, — Li-nét nói. — Tớ sắp đi lưu diễn với gánh "Gia tài định mệnh". Tuần sau mở màn ở thị trấn Ê-li-da-bét. Tớ tưởng cậu bỏ sân khấu rồi chứ, Rô-da. Kể tớ nghe chuyện cậu đi.
Rô-da-li khéo léo uốn mình ngồi lên nóc chiếc rương quần áo của cô Đác-măng, ngả đầu vào bức tường dán giấy. Vì quen từ lâu, các cô đào chính lưu diễn và chị em của họ có thể ngồi thoải mái như thế, như đang được những chiếc ghế bành sâu nhất ôm lấy.
— Tớ sẽ kể cậu nghe, Li-nét ạ, — cô nói, khuôn mặt trẻ trung mang một vẻ mỉa mai kỳ lạ, mà lại cam chịu một cách bất cần. — Rồi mai tớ lại lên đường mòn Brốt-uê, lại mài mòn thêm ít sơn trên mấy cái ghế ở các văn phòng môi giới. Ba tháng qua, cho tới bốn giờ chiều nay, nếu có ai bảo tớ rằng tớ sẽ còn nghe cái câu nhảm nhí "để lại tên và địa chỉ" của bọn đặt diễn, tớ đã cười vào mặt người đó theo đúng kiểu nữ hoàng bi kịch. Cho tớ mượn cái khăn tay nào, Li-nét. Trời ơi, tàu hoả trên đảo Dài kinh khủng thật. Mặt tớ dính đủ bụi than để lên sân khấu đóng vai thợ mỏ khỏi cần hoá trang. Mà nhân tiện, cậu có gì uống không, Li-nét?
Cô Đác-măng mở cánh tủ bàn rửa mặt, lấy ra một cái chai.
— Còn gần nửa lít cốc-tai Man-hát-tan. Trong cái cốc uống nước đang cắm một bó cẩm chướng, nhưng mà...
— Ôi, đưa cả chai đây. Cốc để dành tiếp khách. Cảm ơn! Đúng là đã khát. Chúc cậu. Ly đầu tiên của tớ trong ba tháng!
Phải, Li-nét ạ, cuối mùa diễn vừa rồi tớ bỏ sân khấu. Tớ bỏ vì tớ chán cuộc đời ấy rồi. Và nhất là vì tim gan tớ phát ốm lên vì đàn ông, cái loại đàn ông mà dân sân khấu bọn mình phải đối mặt. Cậu biết cái trò ấy với bọn mình rồi đấy, là cuộc chiến đấu với họ suốt từ trên xuống dưới, từ ông bầu muốn mình đi thử chiếc ô-tô mới của ông ta cho tới mấy gã dán áp-phích muốn gọi mình bằng tên riêng.
Mà bọn đàn ông phải gặp sau buổi diễn là tệ nhất. Cái loại chờ ở cửa sau sân khấu, rồi bạn bè ông bầu đưa mình đi ăn khuya, khoe nhẫn kim cương, nói chuyện sẽ gặp ông này ông nọ trong giới để nâng đỡ mình. Toàn lũ cầm thú, tớ ghét chúng nó.
Tớ nói cậu nghe, Li-nét ạ, những đứa con gái như bọn mình trên sân khấu mới đáng thương. Những cô gái con nhà tử tế, có hoài bão chân chính, làm lụng vất vả để tiến lên trong nghề, nhưng chẳng bao giờ tới được. Người ta đổ khối lời thương cảm cho mấy cô đồng ca với mười lăm đô-la một tuần. Vớ vẩn! Trong dàn đồng ca chẳng có nỗi buồn nào mà một đĩa tôm hùm không chữa được.
Nếu có nước mắt để rơi, thì hãy rơi cho cô diễn viên lĩnh từ ba mươi tới bốn lăm đô-la một tuần để đóng vai chính trong một vở kịch dở ẹc. Cô ta biết mình sẽ chẳng bao giờ khá hơn, nhưng vẫn cứ bám trụ hàng năm trời, mong một cái "cơ hội" chẳng bao giờ tới.
Mà mấy vở kịch ngớ ngẩn bọn mình phải đóng nữa chứ! Bị một đứa con gái khác nắm cẳng đẩy lăn khắp sân khấu như đẩy xe cút kít trong một màn đồng ca ở vở hài kịch âm nhạc còn là kịch nghệ đàng hoàng so với những trò ngu ngốc tớ phải làm ở mấy rạp ba mươi xu.
Nhưng cái tớ ghét nhất là bọn đàn ông. Bọn đàn ông liếc đểu và nói nhảm với mình qua bàn ăn, tìm cách mua mình bằng bia hay sâm-banh, tuỳ theo chúng định giá mình bao nhiêu. Rồi đàn ông trong khán phòng, vỗ tay, gào thét, gầm gừ, chen lấn, quằn quại, thèm thuồng, như một bầy thú hoang, mắt dán chặt vào mình, sẵn sàng ăn tươi nuốt sống nếu mình lọt vào tầm móng vuốt của chúng. Ôi, tớ ghét chúng nó biết bao!
Ấy, tớ chưa kể gì mấy về chuyện tớ nhỉ, Li-nét?
Tớ dành dụm được hai trăm đô-la, và đầu hè tớ cắt đứt với sân khấu. Tớ sang đảo Dài và tìm được một ngôi làng nhỏ xinh nhất trên đời, tên là Xao-pót, ngay sát mặt nước. Tớ định ở đó cả mùa hè, học thêm về nghệ thuật ngâm đọc, và thử mở một lớp vào mùa thu. Có một bà goá già có căn nhà nhỏ gần bãi biển, thỉnh thoảng cho thuê một hai phòng cho có bạn, và bà nhận tớ vào ở. Bà còn một người thuê trọ nữa, mục sư Ác-thơ Lai-lơ.
Phải, anh ấy là vai chính. Cậu đoán đúng rồi đấy, Li-nét. Tớ sẽ kể hết ngay đây. Chỉ là một vở kịch một hồi thôi.
Lần đầu anh ấy bước ra sân khấu, Li-nét ạ, tớ đã thấy mình chao đảo. Anh ấy nói câu thoại đầu tiên là đã chinh phục được tớ. Anh ấy khác hẳn bọn đàn ông trong khán phòng. Anh ấy cao, mảnh khảnh, và khi anh vào phòng mình chẳng nghe thấy tiếng, mà chỉ cảm thấy. Anh có khuôn mặt như tranh vẽ một hiệp sĩ, như một trong mấy chàng hiệp sĩ Bàn Tròn ấy, giọng nói như tiếng đàn xen-lô độc tấu. Còn phong thái của anh nữa chứ!
Li-nét ạ, nếu cậu lấy cái ông tài tử lịch lãm nhất trong cảnh phòng khách hay nhất của ông ta mà đem so với anh ấy, thì cậu sẽ cho bắt ông ta vì tội phá rối trật tự.
Tớ bỏ qua các chi tiết cho cậu đỡ mệt. Chưa đầy một tháng, anh Ác-thơ và tớ đã đính hôn. Anh giảng đạo ở một nhà thờ Giám lý nhỏ xíu, kiểu gánh hát diễn một đêm rồi đi. Cưới xong sẽ có một ngôi nhà mục sư to bằng cái xe bán đồ ăn trưa, có gà mái và hoa kim ngân. Anh Ác-thơ hay giảng cho tớ nghe nhiều về Thiên đường, nhưng chẳng bao giờ làm tớ thôi nghĩ tới mấy bông kim ngân với mấy con gà mái được.
Không, tớ không nói với anh ấy là tớ từng đi hát. Tớ ghét cái nghề ấy với tất cả những gì đi kèm. Tớ đã cắt đứt với nó mãi mãi, và tớ chẳng thấy khuấy lên làm gì. Tớ là con gái đứng đắn, tớ chẳng có gì phải thú tội, ngoài chuyện làm nghề ngâm đọc, mà chừng ấy đã là hết sức chịu đựng của lương tâm tớ rồi.
Ôi, tớ nói cậu nghe, Li-nét, tớ hạnh phúc lắm. Tớ hát trong đội thánh ca, đi dự hội may vá, ngâm bài "An-ni Lô-ri" có đoạn huýt sáo, "theo một phong cách gần như chuyên nghiệp", như tờ báo tuần của làng tường thuật. Anh Ác-thơ với tớ đi chèo thuyền, đi dạo trong rừng, đi bắt nghêu, và ngôi làng nhỏ buồn tẻ ấy với tớ là nơi tuyệt nhất trên đời. Tớ đã sẵn lòng sống ở đó mãi mãi, nếu không...
Nhưng một buổi sáng, trong lúc tớ giúp bà goá già, bà Gơ-li, tước đậu ngoài hiên sau, bà nổi hứng buôn chuyện, bắt đầu tuôn ra tin tức như mấy người cho thuê phòng vẫn hay làm. Ông Lai-lơ trong mắt bà là một vị thánh trên đời, trong mắt tớ cũng vậy. Bà kể lể hết mọi đức tính và vẻ đáng mến của anh, rồi cuối cùng bảo tớ rằng cách đây không lâu anh Ác-thơ từng có một mối tình hết sức lãng mạn, kết thúc không vui. Bà có vẻ không nắm được chi tiết, nhưng bà biết là anh bị một đòn khá nặng. Bà bảo anh xanh xao hơn, gầy hơn, và anh giữ một thứ gì đó làm kỷ niệm của người phụ nữ ấy trong một chiếc hộp gỗ hồng mộc nhỏ, khoá kỹ trong ngăn kéo bàn làm việc ở phòng đọc sách.
"Đã mấy lần," bà bảo, "tôi thấy cậu ấy ngồi rầu rĩ bên cái hộp ấy vào buổi tối, mà hễ có ai vào phòng là cậu ấy khoá ngay lại."
Thôi, cậu thừa biết là chẳng bao lâu sau tớ đã nắm cổ tay anh Ác-thơ, dắt xuống tận mép sân khấu mà rít vào tai anh ấy.
Ngay chiều hôm đó, bọn tớ đang lười nhác bồng bềnh trên thuyền giữa đám hoa súng ở mép vịnh.
"Anh Ác-thơ," tớ nói, "anh chưa bao giờ kể với em là anh từng có một mối tình khác. Nhưng bà Gơ-li thì kể rồi," tớ nói tiếp, để anh ấy biết là tớ biết. Tớ ghét nghe đàn ông nói dối.
"Trước khi em tới," anh ấy nói, nhìn thẳng vào mắt tớ, "anh đã có một tình cảm trước, một tình cảm mãnh liệt. Em đã biết thì anh sẽ hoàn toàn thành thật với em."
"Em đang nghe đây," tớ nói.
"Ai-đa yêu quý," anh Ác-thơ nói, dĩ nhiên hồi ở Xao-pót tớ dùng tên thật, "tình cảm trước kia thật ra là một tình cảm tinh thần. Dù người phụ nữ ấy đã khơi dậy những tình cảm sâu sắc nhất của anh, và anh từng nghĩ cô ấy là người phụ nữ lý tưởng của anh, anh chưa bao giờ gặp cô ấy, chưa bao giờ nói với cô ấy một lời. Đó là một tình yêu lý tưởng. Tình yêu của anh dành cho em, cũng lý tưởng không kém, nhưng khác. Em sẽ không để chuyện ấy chen vào giữa chúng ta chứ."
"Cô ấy có đẹp không?" tớ hỏi.
"Cô ấy rất đẹp," anh Ác-thơ nói.
"Anh có hay gặp cô ấy không?" tớ hỏi.
"Chừng một tá lần," anh ấy nói.
"Lần nào cũng từ xa à?" tớ nói.
"Lần nào cũng từ khá xa," anh ấy nói.
"Và anh yêu cô ấy?" tớ hỏi.
"Cô ấy như hình mẫu lý tưởng của anh về cái đẹp, sự duyên dáng, và cả tâm hồn," anh Ác-thơ nói.
"Còn cái kỷ niệm anh khoá kỹ, thỉnh thoảng lại ngồi mơ màng bên nó, có phải là của cô ấy không?"
"Một kỷ vật," anh Ác-thơ nói, "mà anh hằng nâng niu."
"Cô ấy gửi cho anh à?"
"Nó từ cô ấy mà tới tay anh," anh nói.
"Theo đường vòng vèo à?" tớ hỏi.
"Hơi vòng vèo," anh nói, "mà cũng khá trực tiếp."
"Sao anh chưa bao giờ gặp cô ấy?" tớ hỏi. "Địa vị hai người trong đời khác nhau đến thế sao?"
"Cô ấy ở rất cao trên anh," anh Ác-thơ nói. "Thôi, Ai-đa," anh nói tiếp, "đó là chuyện quá khứ rồi. Em không ghen đấy chứ?"
"Ghen á!" tớ nói. "Trời, anh nói gì thế? Biết chuyện này rồi, em còn quý anh gấp mười lần trước."
Mà đúng thế thật, Li-nét ạ, nếu cậu hiểu được. Tình yêu lý tưởng ấy là chuyện mới mẻ với tớ, nhưng tớ thấy nó là điều đẹp đẽ và cao quý nhất tớ từng được nghe. Thử nghĩ xem, một người đàn ông yêu một người đàn bà mà anh ta chưa từng nói với một lời, và chung thuỷ chỉ với hình ảnh mà trí óc và trái tim anh ta vẽ ra về cô ấy! Ôi, tớ nghe mà thấy tuyệt vời. Bọn đàn ông tớ quen xưa nay xáp lại mình hoặc bằng kim cương, hoặc bằng thuốc mê, hoặc bằng lời hứa tăng lương. Còn lý tưởng của chúng ấy à! Thôi, chẳng nói nữa.
Phải, chuyện đó làm tớ quý anh Ác-thơ hơn trước. Tớ không thể ghen với vị nữ thần xa xôi mà anh từng tôn thờ, vì chính tớ sắp có được anh. Và tớ bắt đầu coi anh như một vị thánh trên đời, y như bà già Gơ-li.
Khoảng bốn giờ chiều nay, có một người tới nhà mời anh Ác-thơ đi thăm một người ốm trong đám con chiên của anh. Bà già Gơ-li đang ngáy giấc chiều trên chiếc đi-văng, nên tớ gần như ở một mình.
Đi ngang phòng đọc sách của anh Ác-thơ, tớ nhìn vào, thấy chùm chìa khoá của anh treo ngay ở ngăn kéo bàn, anh quên không rút. Ừ thì, thỉnh thoảng ai trong bọn mình chẳng thành bà vợ lão Râu Xanh một chút, phải không Li-nét? Tớ quyết định xem thử cái kỷ vật anh giữ bí mật thế. Chẳng phải tớ quan tâm nó là cái gì, chỉ là tò mò thôi.
Trong lúc mở ngăn kéo, tớ tưởng tượng ra một hai thứ có thể nằm trong đó. Tớ nghĩ có khi là một nụ hồng khô cô ấy thả từ ban công xuống cho anh, hay có khi là một tấm ảnh cô ấy anh cắt từ tạp chí, vì cô ấy ở tít trên cao trong xã hội mà.
Tớ mở ngăn kéo, và kia là chiếc hộp gỗ hồng mộc to cỡ hộp đựng cổ áo của đàn ông. Tớ tìm trong chùm chìa khoá chiếc chìa nhỏ vừa ổ, mở khoá và nhấc nắp lên.
Tớ nhìn kỷ vật ấy đúng một lần, rồi về phòng xếp rương. Tớ ném vài thứ vào túi xách, lấy lược cào cào mái tóc vài cái, đội mũ, rồi đi vào đá vào chân bà già một cái. Suốt thời gian ở đó, vì anh Ác-thơ, tớ đã cố hết sức nói năng cho đúng mực đàng hoàng, và tớ đã quen nếp ấy lắm rồi, nhưng lúc đó nó bỏ tớ mà đi.
"Thôi ngáy đi," tớ nói, "ngồi dậy mà nghe này. Tới giờ phát lương rồi. Tôi đi khỏi đây, tôi còn nợ bà tám đô-la. Người của hãng vận chuyển sẽ tới lấy rương."
Tớ đưa tiền cho bà.
"Trời đất ơi, cô Cờ-rốt-bi!" bà nói. "Có chuyện gì thế? Tôi tưởng cô thích ở đây lắm. Trời đất ơi, đám đàn bà con gái trẻ thật khó hiểu, cứ khác hẳn với những gì mình chờ đợi."
"Bà nói đúng đấy," tớ nói. "Có một số như thế. Nhưng đàn ông thì không ai nói thế được. Biết một thằng đàn ông là biết hết cả lũ! Thế là xong câu hỏi về loài người."
Thế rồi tớ bắt chuyến tàu bốn giờ ba mươi tám, chạy than đá xả bụi không giới hạn, và tớ ở đây đây.
— Cậu chưa nói trong hộp có cái gì, Rô-da, — cô Đác-măng hỏi, lo lắng.
— Một trong mấy chiếc nịt bít tất lụa vàng mà tớ vẫn đá văng từ chân xuống khán giả trong cái màn đu tạp kỹ ngày xưa của tớ đấy. Còn chút cốc-tai nào không, Li-nét?
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn