Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Lấn về phía tây

của Jack London

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 17.362 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04"Dù làm gì đi nữa, cũng phải lấn về…
  2. 4:22Cuộc sống trên tàu Ma-ri Rô-giơ xám xịt, xám…
  3. 11:12Bẻ lái hết cỡ!
  4. 12:14Mốp nhô lên trên một ngọn sóng phía sau,…
  5. 14:03Thuyền trưởng Cơ-lơn thậm chí không cau mày. Trong…
  6. 15:00Tới Xan Phran-xi-xcô rồi ông định làm gì? ông…
  7. 16:59Viên thuyền phó rên rỉ không thành lời.
  8. 17:55Thuyền trưởng Đan Cơ-lơn đọc lại tác phẩm văn…

"Dù làm gì đi nữa, cũng phải lấn về phía tây! Phải lấn về phía tây!" Đó là lời chỉ dẫn hải trình cho những con tàu vòng qua mũi Hoóc.

Suốt bảy tuần, con tàu Ma-ri Rô-giơ quần quật ở khoảng giữa vĩ tuyến năm mươi nam bên Đại Tây Dương và vĩ tuyến năm mươi nam bên Thái Bình Dương. Nghĩa là suốt bảy tuần nó vật lộn để vòng qua mũi Hoóc. Suốt bảy tuần nó ở giữa thời tiết xấu, hoặc sát bên thời tiết xấu. Chỉ có một lần là không, và lần ấy, sau sáu ngày bão tố dữ dội mà nó phải nép vào bờ biển Đất Lửa đáng sợ để chống chọi, nó suýt mắc cạn giữa những đợt sóng lừng lớn, trong một cơn lặng gió chết chóc bất ngờ ập xuống. Suốt bảy tuần nó vật lộn với những con sóng bạc đầu ở mũi Hoóc, và đáp lại, bị chúng vùi dập, đập phá. Đó là một con tàu gỗ, và cứ bị vặn xoắn không ngừng, những đường nối ván đã hở ra, đến nỗi mỗi ngày hai lần, phiên trực phải thay nhau bơm nước.

Con tàu Ma-ri Rô-giơ kiệt sức, thuỷ thủ kiệt sức, và thuyền trưởng Đan Cơ-lơn to lớn cũng kiệt sức. Có lẽ ông là người kiệt sức hơn cả, vì trách nhiệm của cuộc vật lộn khổng lồ ấy đè lên vai ông. Phần lớn thời gian ông ngủ nguyên quần áo, dù hiếm khi ông ngủ. Đêm đêm ông lởn vởn trên boong như một bóng ma to lớn, vạm vỡ, lực lưỡng, đen sạm vì ba mươi năm nắng biển, lông lá như con đười ươi. Còn ông thì bị ám bởi một ý nghĩ duy nhất, một lời chỉ dẫn hải trình cho mũi Hoóc: "Dù làm gì đi nữa, cũng phải lấn về phía tây! Phải lấn về phía tây!" Đó là một nỗi ám ảnh. Ông chẳng nghĩ tới gì khác, trừ đôi lúc nguyền rủa Chúa vì đã gửi tới thứ thời tiết khắc nghiệt nhường ấy.

Lấn về phía tây! Ông bám sát mũi Hoóc, và cả chục lần phải neo tàu đứng gió, trong khi mũi đất sắt đá ấy nằm ở phía đông bắc, cách chừng ba chục cây số. Và lần nào cũng thế, ngọn gió tây muôn thuở lại đánh bạt ông về phía đông. Ông chống chọi hết trận bão này tới trận bão khác, xuống tận vĩ tuyến sáu mươi tư nam, vào giữa vùng băng trôi Nam Cực, và đem linh hồn bất tử của mình ra thề với các thế lực bóng tối để đổi lấy một chút lấn về phía tây, một làn gió xiên đưa ông vòng qua. Thế mà ông vẫn bị đẩy về phía đông. Tuyệt vọng, ông đã thử đi qua eo biển Lơ Me. Mới được nửa đường, gió xoay lên hướng bắc tây bắc, khí áp kế tụt vọt xuống, và ông phải quay tàu chạy trước một trận bão dữ như lốc, suýt nữa thì để con tàu Ma-ri Rô-giơ đâm nát vào những mỏm đá đen nhọn như răng. Hai lần ông đã lấn được về tây tới tận dãy đá Đi-ê-gô Ra-mi-rết, và một trong hai lần ấy, ông thoát nạn giữa hai cơn bão tuyết nhờ kịp nhìn thấy những mỏm đá, mồ chôn của bao con tàu, nằm ngay trước mũi, chỉ cách chừng bốn trăm mét.

Gió ư! Thuyền trưởng Đan Cơ-lơn viện dẫn cả ba mươi năm đi biển của mình để chứng minh rằng chưa bao giờ gió thổi dữ như thế. Lúc ông đưa ra bằng chứng ấy, con tàu Ma-ri Rô-giơ đang neo đứng gió. Và như để chứng minh cho chắc, chưa đầy nửa giờ sau, con tàu bị quật nghiêng tới tận miệng hầm hàng. Cánh buồm đỉnh cột chính mới thay và cánh buồm sau mới tinh bị thổi bay như giấy lụa. Năm cánh buồm đã cuộn chặt dưới hai lớp dây buộc cũng bị giật tung, lột khỏi xà buồm. Và trước khi trời sáng, con tàu Ma-ri Rô-giơ còn bị quật nghiêng hai lần nữa, người ta phải đục thủng mạn tàu cho nước biển nặng nề đè trên boong thoát ra.

Trung bình mỗi tuần một lần, thuyền trưởng Đan Cơ-lơn được thoáng thấy mặt trời. Có lần, mặt trời chiếu sáng mười phút vào giữa trưa, rồi mười phút sau một trận bão mới đã rít lên, cả hai phiên trực đều phải thu bớt buồm, và mọi thứ chìm trong mịt mù của một cơn bão tuyết. Có lần suốt hai tuần liền, thuyền trưởng Đan Cơ-lơn không đo được kinh tuyến giữa trưa, cũng không đo được giờ để tính kinh độ. Hiếm khi ông biết vị trí của mình sai lệch dưới nửa độ, trừ khi nhìn thấy đất liền. Vì mặt trời và sao đều nấp sau bầu trời, và trời âm u đến nỗi ngay cả lúc tốt nhất, đường chân trời cũng chẳng đủ rõ để đo cho chính xác. Một màn u ám xám xịt bao trùm thế giới. Mây xám. Những con sóng lớn cuồn cuộn xám như chì. Những ngọn sóng bốc khói là một vùng xám sôi sục. Ngay cả những con hải âu lớn thỉnh thoảng xuất hiện cũng xám, còn những đợt tuyết rơi không trắng, mà xám, dưới tấm khăn liệm u ám của bầu trời.

Cuộc sống trên tàu Ma-ri Rô-giơ xám xịt, xám xịt và u ám. Mặt mũi thuỷ thủ xám ngắt màu chì. Họ bị những vết nứt nẻ và mụn nhọt do nước biển hành hạ, đau đớn khôn tả. Họ chỉ còn là những cái bóng người. Suốt bảy tuần, dù dưới khoang thuỷ thủ hay trên boong, họ không biết tới cảm giác khô ráo là gì. Họ đã quên ngủ trọn một phiên là thế nào, vì phiên nào cũng là "Tất cả lên boong!" Họ chộp lấy những mẩu giấc ngủ quằn quại, và ngủ nguyên áo dầu, sẵn sàng cho tiếng gọi muôn thuở. Họ yếu ớt và kiệt quệ tới mức phải cả hai phiên mới làm nổi việc của một phiên. Vì vậy mà phần lớn thời gian cả hai phiên đều ở trên boong. Và không cái bóng người nào được trốn việc. Chỉ có gãy chân mới được nghỉ làm. Và có hai người như thế, bị những con sóng tràn lên boong vùi dập, giập nát.

Một người khác cũng chỉ còn là cái bóng người là Giooc-giơ Đô-rơ-ti. Ông là hành khách duy nhất trên tàu, bạn của hãng tàu, và đã chọn chuyến đi này để dưỡng bệnh. Nhưng bảy tuần ở mũi Hoóc chẳng làm sức khoẻ ông khá lên. Suốt những đêm dài con tàu chồng chềnh, ông nằm thở hổn hển trên giường. Còn khi lên boong, ông quấn nhiều lớp áo cho ấm tới nỗi trông như một cửa hàng quần áo cũ biết đi. Giữa trưa, ngồi ăn ở bàn trong phòng chung, trong cảnh tối tăm tới mức những ngọn đèn treo đung đưa lúc nào cũng phải thắp, trông ông cũng xám ngắt như người ốm yếu nhất, buồn bã nhất dưới khoang thuỷ thủ. Mà nhìn sang thuyền trưởng Đan Cơ-lơn bên kia bàn cũng chẳng làm ông vui lên chút nào. Thuyền trưởng Cơ-lơn nhai, cau mày, và im lặng. Cái cau mày là dành cho Chúa, còn mỗi lần nhai ông lại nhắc lại ý nghĩ duy nhất của cuộc đời mình: lấn về phía tây. Ông là một con thú to lớn, lông lá, và nhìn ông chẳng kích thích chút nào sự ngon miệng của người khác. Ông coi Giooc-giơ Đô-rơ-ti là kẻ mang vận rủi lên tàu, và nói thẳng ra điều đó, mỗi bữa một lần, hung dữ chuyển cái cau mày từ Chúa sang hành khách rồi lại chuyển về.

Viên thuyền phó cũng chẳng giúp gì cho cái miệng uể oải. Ông ta tên là Giô-suê Hích-ghin, làm nghề đi biển nhờ có chỗ dựa, nhưng tài cán chỉ đáng phụ bếp. Một sinh vật lỏng khỏng, sụt sịt, nhẫn tâm, ích kỷ và hèn nhát, không có linh hồn, sợ Đan Cơ-lơn mất mật, và hống hách với thuỷ thủ. Mà thuỷ thủ thì biết rằng đứng sau viên thuyền phó là thuyền trưởng Cơ-lơn, kẻ đặt ra luật và cưỡng bức người ta theo, kẻ đánh đập và huỷ diệt, hiện thân của cả chục tên thuyền phó vũ phu nhất. Trong thời tiết hoang dại ở tận cùng phương nam của trái đất, Giô-suê Hích-ghin thôi không rửa mặt nữa. Khuôn mặt cáu bẩn của ông ta thường cướp nốt chút ngon miệng ít ỏi mà Giooc-giơ Đô-rơ-ti gom góp được. Bình thường, cái tội lười tắm rửa ấy hẳn đã lọt vào mắt thuyền trưởng Cơ-lơn và hứng trọn kho từ ngữ của ông. Nhưng lúc này đầu óc ông đầy ắp chuyện lấn về phía tây, chẳng còn chỗ cho bất cứ thứ gì không góp phần vào việc ấy. Mặt viên thuyền phó sạch hay bẩn chẳng dính dáng gì tới chuyện lấn về phía tây. Sau này, khi tới được vĩ tuyến năm mươi nam bên Thái Bình Dương, Giô-suê Hích-ghin sẽ rửa mặt rất đột ngột. Còn trong lúc này, bên bàn ăn, nơi ánh hoàng hôn xám xịt thay phiên với ánh đèn trong lúc người ta châm dầu, Giooc-giơ Đô-rơ-ti ngồi giữa hai người đàn ông, một con hổ và một con linh cẩu, và tự hỏi Chúa tạo ra họ để làm gì. Viên thuyền phó hai, Ma-thiu Tơ-nơ, là một thuỷ thủ thực thụ và một con người tử tế, nhưng Giooc-giơ Đô-rơ-ti không có được niềm an ủi được ngồi cùng ông, vì ông ăn một mình, lặng lẽ, sau khi họ đã ăn xong.

Sáng thứ bảy, ngày hai mươi bốn tháng bảy, Giooc-giơ Đô-rơ-ti thức dậy với cảm giác có sự sống và chuyển động lao vun vút. Lên boong, ông thấy con tàu Ma-ri Rô-giơ đang chạy trước một cơn gió đông nam gào thét. Chỉ có mấy cánh buồm dưới và cánh buồm mũi là được giương. Con tàu chỉ chịu nổi chừng ấy, thế mà nó vẫn chạy được mười bốn hải lý một giờ, như ông Tơ-nơ hét vào tai Đô-rơ-ti khi ông lên boong. Và tất cả đều là lấn về phía tây. Cuối cùng nó cũng đang vòng qua mũi Hoóc, nếu gió cứ giữ thế này. Ông Tơ-nơ trông vui vẻ. Cuộc vật lộn đã thấy hồi kết. Nhưng thuyền trưởng Cơ-lơn không có vẻ vui. Ông cau mày với Đô-rơ-ti khi đi ngang qua. Thuyền trưởng Cơ-lơn không muốn Chúa biết rằng ông hài lòng với ngọn gió ấy. Ông hình dung Chúa là một kẻ ác ý, và trong thâm tâm, ông tin rằng nếu Chúa biết đây là ngọn gió ông mong muốn, Chúa sẽ lập tức xoá nó đi và gửi tới một trận gió dữ từ phía tây. Vì thế ông rón rén trước mặt Chúa, đè nén niềm vui dưới những cái cau mày và những lời rủa lầm bầm. Và cứ thế, ông lừa Chúa, vì Chúa là thứ duy nhất trong vũ trụ mà Đan Cơ-lơn sợ.

Suốt ngày thứ bảy và đêm thứ bảy, con tàu Ma-ri Rô-giơ lao vun vút về phía tây. Nó bền bỉ ghi đều mười bốn hải lý một giờ vào nhật ký, đến nỗi tới sáng chủ nhật nó đã đi được hơn sáu trăm cây số. Nếu gió cứ giữ, nó sẽ vòng qua được. Nếu gió tắt, và trận gió dữ ập tới từ bất cứ hướng nào giữa tây nam và bắc, thì con tàu Ma-ri Rô-giơ sẽ bị hất ngược trở lại, chẳng khá gì hơn bảy tuần trước. Và sáng chủ nhật, gió đang tắt dần. Biển lớn đang lắng xuống, sóng dài và êm. Cả hai phiên trực đều ở trên boong, giương thêm hết cánh buồm này tới cánh buồm khác, nhanh nhất mà con tàu chịu nổi. Và giờ thì thuyền trưởng Cơ-lơn trơ tráo đi lại trước mặt Chúa, hút một điếu xì gà to, tươi cười hớn hở, như thể gió tắt làm ông thích thú lắm. Trong khi trong lòng, ông đang nổi giận với Chúa vì đã rút mất sự sống của ngọn gió quý báu ấy. Lấn về phía tây! Ông sẽ lấn được, nếu Chúa chịu để ông yên. Ông lại lén đem mình ra thề với các thế lực bóng tối, nếu chúng chịu cho ông lấn về phía tây. Ông thề dễ dàng thế vì ông không tin vào các thế lực bóng tối. Thật ra ông chỉ tin vào Chúa, dù ông không biết điều đó. Và trong cái thần học lộn ngược của ông, Chúa mới thật là Chúa tể Bóng tối. Thuyền trưởng Cơ-lơn là kẻ thờ quỷ, chỉ có điều ông gọi quỷ bằng một cái tên khác, thế thôi.

Giữa trưa, sau khi đánh tám tiếng chuông, thuyền trưởng Cơ-lơn ra lệnh giương các cánh buồm cao. Thuỷ thủ leo lên cột nhanh hơn bao tuần qua. Họ nhanh nhẹn không chỉ vì con tàu đang lấn về phía tây, mà còn vì một vầng mặt trời hiền hậu đang chiếu xuống, làm mềm lại những thân thể cứng đờ. Giooc-giơ Đô-rơ-ti đứng ở đuôi tàu, gần thuyền trưởng Cơ-lơn, quấn ít áo hơn mọi khi, tắm mình trong hơi ấm dễ chịu trong lúc ngắm cảnh. Sự việc xảy ra nhanh và đột ngột. Từ xà buồm cao của cột mũi vang lên tiếng thét: "Người rơi xuống biển!" Có ai đó ném một chiếc phao cứu sinh qua mạn tàu. Cùng lúc ấy, giọng viên thuyền phó hai vọng về phía đuôi tàu, vang dội và dứt khoát:

— Bẻ lái hết cỡ!

Người cầm lái không xoay bánh lái lấy một nấc. Anh ta biết điều hơn thế, vì thuyền trưởng Đan Cơ-lơn đang đứng ngay cạnh. Anh muốn xoay một nấc, xoay hết mọi nấc, quay bánh lái hết cỡ, vì người đồng đội đang chết đuối dưới biển. Anh liếc nhìn thuyền trưởng Đan Cơ-lơn, và thuyền trưởng Đan Cơ-lơn không ra dấu gì.

— Bẻ lái! Bẻ hết cỡ! viên thuyền phó hai gầm lên, nhảy vọt về phía đuôi tàu.

Nhưng ông thôi nhảy, thôi ra lệnh, đứng sững lại khi thấy Đan Cơ-lơn bên bánh lái. Và Đan Cơ-lơn to lớn rít xì gà, không nói gì. Phía sau đuôi tàu, mỗi lúc một tụt xa, có thể thấy người thuỷ thủ. Anh đã bám được chiếc phao, đang ôm chặt lấy nó. Không ai nói gì. Không ai nhúc nhích. Những người trên cột buồm bám vào xà buồm cao, nhìn xuống với vẻ mặt kinh hoàng. Và con tàu Ma-ri Rô-giơ vẫn lao đi, lấn về phía tây. Một phút dài im lặng trôi qua.

— Ai thế? thuyền trưởng Cơ-lơn hỏi.

— Mốp, thưa thuyền trưởng, người cầm lái hối hả đáp.

Mốp nhô lên trên một ngọn sóng phía sau, rồi tạm khuất vào lòng sóng. Đó là một con sóng lớn, nhưng không phải sóng bạc đầu. Một chiếc xuồng nhỏ có thể dễ dàng trụ được trên biển như thế, và trên biển như thế, con tàu Ma-ri Rô-giơ có thể dễ dàng quay mũi đứng gió. Nhưng nó không thể vừa quay mũi đứng gió vừa lấn về phía tây cùng một lúc.

Lần đầu tiên trong đời, Giooc-giơ Đô-rơ-ti chứng kiến một tấn kịch sinh tử thật sự. Một tấn kịch nhỏ nhen, bẩn thỉu, trong đó bàn cân đặt một thuỷ thủ vô danh tên là Mốp lên một bên, và vài dặm kinh độ lên bên kia. Lúc đầu ông nhìn theo người thuỷ thủ phía sau đuôi tàu, nhưng giờ ông nhìn Đan Cơ-lơn to lớn, lông lá và đen sạm, đang nắm quyền sinh sát, đang hút xì gà.

Thuyền trưởng Đan Cơ-lơn hút thêm một phút dài im lặng nữa. Rồi ông bỏ điếu xì gà khỏi miệng. Ông liếc nhìn lên những cột buồm của con tàu Ma-ri Rô-giơ, rồi nhìn ra biển qua mạn tàu.

— Kéo căng buồm cao! ông hô.

Mười lăm phút sau, họ ngồi vào bàn ăn trong phòng chung, thức ăn đã dọn sẵn trước mặt. Một bên Giooc-giơ Đô-rơ-ti là Đan Cơ-lơn, con hổ. Bên kia là Giô-suê Hích-ghin, con linh cẩu. Không ai nói gì. Trên boong, thuỷ thủ đang kéo căng những cánh buồm cao nhất. Giooc-giơ Đô-rơ-ti nghe tiếng họ hô hò, trong khi một hình ảnh cứ dai dẳng ám ảnh ông: một người tên là Mốp, còn sống, còn khoẻ, đang bám vào chiếc phao cách xa hàng dặm phía sau, giữa đại dương vắng lặng. Ông liếc nhìn thuyền trưởng Cơ-lơn, và thấy buồn nôn, vì người ấy đang ăn ngon lành, gần như ăn ngấu nghiến.

— Thuyền trưởng Cơ-lơn, Đô-rơ-ti nói, ông là người chỉ huy con tàu này, và giờ tôi không có tư cách bình phẩm việc ông làm. Nhưng tôi muốn nói một điều. Có một thế giới bên kia, và thế giới bên kia của ông sẽ nóng bỏng đấy.

Thuyền trưởng Cơ-lơn thậm chí không cau mày. Trong giọng ông có vẻ tiếc nuối khi ông nói:

— Lúc ấy đang bão to. Không thể cứu người ấy được.

— Anh ấy rơi từ xà buồm cao xuống, Đô-rơ-ti kêu lên nóng nảy. Lúc ấy ông đang cho giương buồm cao. Mười lăm phút sau ông lại cho giương những cánh buồm cao nhất.

— Lúc ấy đang bão to, phải không ông Hích-ghin? thuyền trưởng Cơ-lơn nói, quay sang viên thuyền phó.

— Nếu ông cho tàu quay mũi thì cột buồm gãy hết rồi, viên thuyền phó đáp. Ông đã làm đúng, thuyền trưởng Cơ-lơn ạ. Người ấy chẳng có lấy một tia hy vọng nào.

Giooc-giơ Đô-rơ-ti không đáp, và cho tới hết bữa không ai nói gì. Từ đó, Đô-rơ-ti cho dọn bữa ăn vào phòng riêng. Thuyền trưởng Cơ-lơn không cau mày với ông nữa, dù giữa hai người không trao đổi lời nào, trong khi con tàu Ma-ri Rô-giơ lao về phía bắc, tới những vĩ độ ấm áp hơn. Cuối tuần, Đan Cơ-lơn chặn Đô-rơ-ti lại trên boong.

— Tới Xan Phran-xi-xcô rồi ông định làm gì? ông hỏi thẳng thừng.

— Tôi sẽ xin lệnh bắt ông, Đô-rơ-ti bình thản đáp. Tôi sẽ buộc ông tội giết người, và tôi sẽ thấy ông bị treo cổ vì tội ấy.

— Ông tự tin ghê nhỉ, thuyền trưởng Cơ-lơn cười khẩy, quay gót bỏ đi.

Tuần thứ hai trôi qua, và một buổi sáng, Giooc-giơ Đô-rơ-ti đứng ở lối cầu thang lên xuống phía đầu boong lái dài, đưa mắt nhìn quanh boong lần đầu trong ngày. Con tàu Ma-ri Rô-giơ đang chạy xiên gió, gió thổi mạnh. Mọi cánh buồm đều giương và căng gió, kể cả những cánh buồm tam giác. Thuyền trưởng Cơ-lơn thong thả đi dọc boong lái về phía trước. Ông đi có vẻ vô tình, liếc nhìn hành khách qua khoé mắt. Đô-rơ-ti đang nhìn về phía khác, đầu và vai nhô ra khỏi lối cầu thang, chỉ thấy được gáy ông. Bằng con mắt nhanh nhạy, thuyền trưởng Cơ-lơn thu vào một lượt cả cái ròng rọc của cánh buồm tam giác chính lẫn cái đầu kia, và ước lượng khoảng cách. Ông đưa mắt nhìn quanh. Không ai nhìn cả. Ở phía đuôi tàu, Giô-suê Hích-ghin đang đi tới đi lui, vừa quay lưng đi về hướng kia. Thuyền trưởng Cơ-lơn bỗng cúi xuống, tháo sợi dây buồm khỏi cọc buộc. Cái ròng rọc nặng trịch lao vút qua không trung, đập vỡ đầu Đô-rơ-ti như vỏ trứng, rồi tiếp tục lao tới lao lui khi cánh buồm quật phần phật trong gió. Giô-suê Hích-ghin quay lại xem cái gì vừa bung ra, và hứng trọn trận mưa những lời chửi rủa bẩn thỉu nhất của thuyền trưởng Cơ-lơn.

— Chính tôi đã buộc sợi dây ấy, viên thuyền phó rên rỉ trong lúc ngớt chửi đầu tiên, còn quấn thêm một vòng cho chắc. Tôi nhớ rõ mà.

— Buộc ư? viên thuyền trưởng gầm lên, cố ý cho cả phiên trực nghe, trong khi họ đang vật lộn túm lấy cánh buồm bay phần phật trước khi nó rách tả tơi. Ngươi đến bà ngoại ngươi cũng buộc không nổi, đồ phụ bếp địa ngục vô dụng. Nếu ngươi buộc sợi dây ấy, còn quấn thêm một vòng, thì cớ quái gì nó lại không giữ chặt? Ta muốn biết điều đó đấy. Cớ quái gì nó lại không giữ chặt?

Viên thuyền phó rên rỉ không thành lời.

— Thôi, câm mồm! là lời cuối cùng của thuyền trưởng Cơ-lơn.

Nửa giờ sau, ông cũng ngạc nhiên như mọi người khi thấy xác Giooc-giơ Đô-rơ-ti nằm trên sàn bên trong lối cầu thang. Buổi chiều, một mình trong phòng, ông sửa sang lại cuốn nhật ký hải trình.

"Thuỷ thủ thường Các Brun", ông viết, "rơi xuống biển từ xà buồm cao cột mũi trong lúc bão to. Khi ấy tàu đang chạy xuôi gió, và vì an toàn của con tàu, không dám quay mũi đứng gió. Xuồng cũng không thể trụ được trên biển động lúc bấy giờ."

Ở một trang khác, ông viết:

"Đã nhiều lần cảnh báo ông Đô-rơ-ti về nguy hiểm do ông bất cẩn khi đi trên boong. Có lần tôi đã nói với ông rằng sẽ có ngày ông bị một cái ròng rọc đập vỡ đầu. Nguyên nhân tai nạn là sợi dây buồm tam giác chính buộc cẩu thả. Đây là một tai nạn hết sức đáng tiếc, vì ông Đô-rơ-ti được tất cả chúng tôi quý mến."

Thuyền trưởng Đan Cơ-lơn đọc lại tác phẩm văn chương của mình với vẻ thán phục, thấm khô trang giấy, rồi gấp cuốn nhật ký lại. Ông châm một điếu xì gà, nhìn trân trân về phía trước. Ông cảm thấy con tàu Ma-ri Rô-giơ nâng lên, nghiêng mình, lướt sóng lao đi, và biết nó đang chạy chín hải lý một giờ. Một nụ cười hài lòng từ từ nở trên khuôn mặt đen sạm và lông lá của ông. Thôi thì, dù sao ông cũng đã lấn được về phía tây, và đã lừa được Chúa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảJack London (1876 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Make Westing, Jack London, 1907; in trong tập When God Laughs and Other Stories (1911)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →