Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Lão gác rừng Ca-va-li-ê

của Guy de Maupassant

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 12.910 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Sau bữa tối, mọi người kể những chuyện phiêu…
  2. 2:41"Tôi buộc túi đồ sau yên, súng đeo chéo…
  3. 4:26"'Chuyện gì thế, bác? Kể tôi nghe nào.'
  4. 5:25"Tuy vậy người gác rừng vẫn ngập ngừng, giọng…
  5. 7:28"Tôi ngồi trên một chiếc ghế rơm, mặt nghiêm…
  6. 8:20"'Nó là cái giống xấu,' lão nói.
  7. 9:37"Sáu ô kính văng tung vào trong buồng thành…
  8. 10:37"Nhưng một ý nghĩ khủng khiếp lóe qua đầu…

Sau bữa tối, mọi người kể những chuyện phiêu lưu và tai nạn trong các cuộc đi săn.

Một ông bạn già của tất cả chúng tôi, ông Bô-ni-pha-xơ, một tay săn cừ khôi và uống rượu cũng cừ khôi, một người khỏe mạnh và vui tính, đầy hóm hỉnh, hiểu biết và triết lý, một thứ triết lý mỉa mai và cam chịu, chỉ lộ ra bằng những câu bông đùa sắc sảo chứ chẳng bao giờ bằng nỗi buồn, bỗng lên tiếng:

"Tôi cũng biết một chuyện, một chuyện đi săn, hay đúng hơn là một tấn kịch đi săn khá kỳ lạ. Nó chẳng giống chút nào những chuyện cùng loại mà người ta vẫn biết. Vì thế tôi chưa kể bao giờ, nghĩ rằng nó chẳng làm ai vui cả.

"Nó không dễ chịu, các ông hiểu tôi chứ? Tôi muốn nói là nó không có cái kiểu hấp dẫn làm người ta say mê, hay quyến rũ, hay xúc động một cách êm ái.

"Thôi, chuyện thế này.

"Hồi ấy tôi chừng ba mươi lăm tuổi, và tôi đi săn như điên.

"Thời đó tôi có một khu đất rất hẻo lánh gần Giuy-miê-giơ, rừng bao quanh, rất nhiều thỏ rừng và thỏ hang. Mỗi năm tôi chỉ tới đó một mình bốn năm ngày, vì chỗ ở không cho phép tôi đưa bạn bè theo.

"Tôi đặt ở đó một người gác rừng, một cựu hiến binh đã về hưu, một người tốt bụng, nóng nảy, giữ phép tắc nghiêm ngặt, đáng sợ với bọn săn trộm, và chẳng sợ gì cả. Lão sống một mình, xa làng, trong một ngôi nhà nhỏ, đúng hơn là một túp nhà tồi tàn gồm hai gian dưới nhà, bếp và kho, với hai buồng trên gác. Một buồng, kiểu một cái hộp vừa đủ chỗ cho một cái giường, một cái tủ và một cái ghế, dành cho tôi.

"Lão Ca-va-li-ê ở buồng kia. Nói lão sống một mình trong căn nhà ấy là tôi nói chưa đúng. Lão có đem theo đứa cháu trai, một thằng ranh mười bốn tuổi, nó đi mua đồ ở cái làng cách ba cây số, và giúp ông già những việc lặt vặt hằng ngày.

"Thằng nhãi ấy gầy, dài, hơi khòm, tóc vàng hoe và mỏng đến mức trông như lông tơ của con gà vừa vặt, lại thưa đến nỗi nó như bị hói. Thêm nữa, nó có đôi bàn chân to tướng và đôi bàn tay khổng lồ, bàn tay của một gã hộ pháp.

"Nó hơi lác mắt và chẳng bao giờ nhìn thẳng ai. Trong loài người, nó làm tôi nghĩ tới những con thú hôi hám trong loài vật. Đó là một con chồn hôi, một con cáo, cái thằng nhãi ấy.

"Nó ngủ trong một cái hốc trên đầu cái cầu thang nhỏ dẫn lên hai buồng.

"Nhưng trong những lần tôi tới ở ngắn ngày nơi Căn Chòi, tôi gọi túp nhà ấy là Căn Chòi, thằng Ma-ri-uýt nhường cái ổ của nó cho một bà già ở làng Ê-coóc-sơ-vin tên là Xê-lét, bà tới nấu nướng cho tôi, vì món hầm của lão Ca-va-li-ê thì quá ư tồi.

"Vậy là các ông đã biết các nhân vật và chỗ ở. Giờ đây là câu chuyện.

"Đó là năm 1854, ngày 15 tháng 10. Tôi nhớ cái ngày ấy và sẽ chẳng bao giờ quên.

"Tôi cưỡi ngựa rời Ru-ăng, theo sau là con chó Bốc của tôi, một con chó săn lớn giống Poa-tu, ngực nở, mõm khỏe, sục bụi gai giỏi như một con chó xù.

"Tôi buộc túi đồ sau yên, súng đeo chéo vai. Đó là một ngày lạnh, một ngày gió lớn buồn bã, mây đen vần vũ trên trời.

"Lên dốc Căng-tơ-lơ, tôi ngắm thung lũng sông Xen bao la, dòng sông uốn khúc như con rắn chạy tới tận chân trời. Bên trái, Ru-ăng dựng tất cả các tháp chuông lên trời, còn bên phải tầm mắt dừng lại ở những sườn đồi xa phủ rừng. Rồi tôi băng qua rừng Ru-ma, lúc đi bước một, lúc chạy nước kiệu, và khoảng năm giờ thì tới trước Căn Chòi, nơi lão Ca-va-li-ê và bà Xê-lét đang chờ tôi.

"Đã mười năm, cứ vào mùa ấy, tôi lại tới theo cùng một kiểu, và vẫn những cái miệng ấy chào tôi bằng vẫn những lời ấy:

"'Chào ông chủ. Ông vẫn khỏe mạnh chứ ạ?'

"Lão Ca-va-li-ê chẳng thay đổi mấy. Lão chống chọi với thời gian như một cây cổ thụ. Nhưng bà Xê-lét, nhất là từ bốn năm nay, đã đổi khác tới mức không nhận ra được nữa.

"Bà gần như gập đôi người, và tuy vẫn nhanh nhẹn, bà bước đi mà nửa người trên cúi rạp tới mức gần như vuông góc với đôi chân.

"Bà già rất tận tụy, lần nào gặp lại tôi cũng có vẻ xúc động, và mỗi lần tôi đi, bà lại nói:

"'Phải nghĩ là có khi đây là lần cuối cùng rồi đấy, ông chủ quý hóa của tôi.'

"Và lời từ biệt buồn rầu, sợ sệt của người hầu tội nghiệp ấy, sự cam chịu tuyệt vọng trước cái chết không tránh được và chắc chắn đã gần kề với bà, năm nào cũng làm lòng tôi xao động một cách kỳ lạ.

"Vậy là tôi xuống ngựa, và trong khi lão Ca-va-li-ê, sau cái bắt tay, dắt ngựa của tôi tới cái nhà nhỏ dùng làm chuồng, tôi bước vào bếp, bà Xê-lét theo sau. Gian bếp cũng là phòng ăn.

"Rồi người gác rừng vào với chúng tôi. Ngay cái nhìn đầu tiên, tôi thấy lão không có vẻ mặt thường ngày. Lão có vẻ bận tâm, khó ở, lo lắng.

"Tôi hỏi lão:

"'Thế nào, Ca-va-li-ê? Mọi sự có như ý bác không?'

"Lão lẩm bẩm:

"'Có cái được có cái không. Có chuyện chẳng vừa ý tôi chút nào.'

"Tôi hỏi:

"'Chuyện gì thế, bác? Kể tôi nghe nào.'

"Nhưng lão lắc đầu:

"'Không, chưa đâu, thưa ông. Tôi không muốn làm ông phiền lòng ngay lúc vừa tới, với những chuyện rắc rối của tôi.'

"Tôi nài nỉ, nhưng lão nhất định không chịu kể trước bữa tối. Tuy vậy, nhìn mặt lão tôi hiểu là chuyện nghiêm trọng.

"Chẳng biết nói gì nữa, tôi bảo:

"'Còn thú săn thì sao? Có nhiều không?'

"'Ồ, thú săn thì có, có chứ! Ông muốn bao nhiêu cũng có. Nhờ trời, tôi đã canh giữ cẩn thận.'

"Lão nói thế với vẻ nghiêm trọng đến vậy, một vẻ nghiêm trọng buồn rầu đến mức nó thành ra buồn cười. Bộ ria xám rậm của lão như sắp rơi khỏi môi.

"Bỗng tôi chợt nhớ ra là chưa thấy thằng cháu lão.

"'Thế còn Ma-ri-uýt đâu? Sao không thấy nó ra?'

"Người gác rừng giật thót mình, và nhìn thẳng vào mặt tôi:

"'Thôi được, thưa ông, tôi thà nói ngay với ông cho xong. Phải, tôi thà nói. Chính vì nó mà tôi nặng lòng đây.'

"'À, à! Thế nó đâu?'

"'Nó ở trong chuồng ngựa, thưa ông. Tôi chờ đúng lúc mới cho nó ra.'

"'Nó đã làm gì vậy?'

"'Chuyện là thế này, thưa ông...'

"Tuy vậy người gác rừng vẫn ngập ngừng, giọng đổi khác, run run, gương mặt bỗng hằn sâu những nếp nhăn, những nếp nhăn của người già.

"Lão chậm rãi kể:

"'Thế này. Mùa đông vừa rồi, tôi thấy rõ có người đặt bẫy thòng lọng trong rừng Hoa Hồng, mà tôi không tóm được thằng cha ấy. Tôi rình ở đó bao nhiêu đêm, thưa ông, đêm này qua đêm khác. Chẳng được gì. Thế mà trong lúc đó, người ta lại bắt đầu đặt bẫy phía làng Ê-coóc-sơ-vin. Tôi tức đến gầy cả người. Nhưng bắt được kẻ trộm thì không thể nào! Cứ như là nó được báo trước mọi bước đi của tôi, cái thằng khốn ấy, mọi dự tính của tôi.

"'Thế rồi một hôm, lúc chải cái quần của thằng Ma-ri-uýt, cái quần ngày chủ nhật của nó, tôi thấy trong túi có hai quan. Thằng nhóc lấy đâu ra món ấy?

"'Tôi nghĩ suốt tám ngày, và tôi thấy là nó hay đi ra ngoài. Nó đi ra đúng lúc tôi về nghỉ, thật đấy, thưa ông.

"'Thế là tôi rình nó, nhưng không cho nó ngờ gì, ồ, không ngờ chút nào. Rồi một buổi sáng, vừa đi nằm ngay trước mắt nó, tôi lại dậy ngay mà bám theo nó. Nói về chuyện bám theo người thì chẳng ai bằng tôi đâu, thưa ông.

"'Thế là tôi tóm được nó. Phải, thằng Ma-ri-uýt, nó đặt bẫy trên đất của ông, thưa ông, nó, cháu tôi, còn tôi, người gác rừng của ông!

"'Máu tôi sôi lên, và tôi suýt giết nó tại chỗ, tôi đánh dữ quá. Ồ phải, tôi đánh, ông ạ! Và tôi đã hứa với nó là khi ông tới, nó sẽ ăn thêm một trận nữa trước mặt ông, một trận đòn, do chính tay tôi, để làm gương.

"'Thế đấy. Tôi buồn đến gầy cả người. Ông biết đấy, bị trái ý như thế thì khổ lắm. Nhưng ông bảo, ông thì ông làm thế nào? Nó chẳng còn cha còn mẹ, thằng nhóc ấy, nó chẳng còn ai ruột thịt ngoài tôi. Tôi đã giữ nó lại, tôi đâu thể đuổi nó đi, phải không ông?

"'Nhưng tôi đã bảo nó là nếu nó còn tái phạm thì hết, hết, không thương xót gì nữa. Thế đấy. Tôi làm thế có phải không, thưa ông?'

"Tôi chìa tay ra cho lão, đáp:

"'Bác làm phải lắm, Ca-va-li-ê. Bác là người tốt.'

"Lão đứng dậy.

"'Cảm ơn ông. Giờ tôi đi lôi nó ra đây. Phải có trận đòn, để làm gương.'

"Tôi biết thừa có cố can ông già bỏ một ý định cũng vô ích. Vậy nên tôi để mặc lão.

"Lão đi tìm thằng nhãi và lôi nó về, túm tai nó.

"Tôi ngồi trên một chiếc ghế rơm, mặt nghiêm trang như một quan tòa.

"Tôi thấy thằng Ma-ri-uýt có vẻ lớn hơn, còn xấu hơn năm ngoái, với cái vẻ độc ác, lấm lét.

"Và đôi bàn tay to tướng của nó trông như tay quái vật.

"Ông chú đẩy nó tới trước mặt tôi, và bằng cái giọng nhà binh:

"'Xin lỗi ông chủ đi.'

"Thằng bé chẳng nói một lời.

"Thế là cựu hiến binh xốc nách nó, nhấc bổng khỏi mặt đất, và bắt đầu đánh vào mông nó dữ dội đến nỗi tôi phải đứng dậy ngăn lại.

"Giờ thì thằng bé gào lên:

"'Tha cho con! Tha cho con! Tha cho con! Con hứa...'

"Ca-va-li-ê đặt nó xuống đất, và ấn lên vai nó, bắt nó quỳ xuống:

"'Xin lỗi đi,' lão nói.

"Thằng nhãi lí nhí, mắt nhìn xuống đất:

"'Con xin lỗi.'

"Lúc ấy ông chú mới kéo nó dậy, và đuổi nó đi bằng một cái tát suýt làm nó ngã lộn nhào lần nữa.

"Nó chạy biến, và cả tối hôm ấy tôi không gặp lại nó.

"Nhưng lão Ca-va-li-ê có vẻ suy sụp.

"'Nó là cái giống xấu,' lão nói.

"Và suốt bữa ăn lão cứ lặp đi lặp lại:

"'Ôi, chuyện ấy làm tôi đau lòng, thưa ông, ông không biết nó làm tôi đau lòng đến thế nào đâu.'

"Tôi cố an ủi lão, nhưng vô ích.

"Rồi tôi đi ngủ sớm để sáng tinh mơ còn đi săn.

"Con chó của tôi đã ngủ trên sàn, dưới chân giường tôi, khi tôi thổi tắt nến.

"Khoảng nửa đêm, tôi bị đánh thức bởi tiếng sủa dữ dội của con Bốc. Và lập tức tôi nhận ra buồng mình đầy khói. Tôi nhảy khỏi giường, thắp đèn, chạy ra cửa mở toang. Một cơn lốc lửa ùa vào. Ngôi nhà đang cháy.

"Tôi vội vàng đóng ập cánh cửa gỗ sồi dày lại, mặc vội cái quần, rồi trước hết thả con chó qua cửa sổ bằng một sợi dây kết từ khăn trải giường cuộn lại. Rồi ném quần áo, túi săn và khẩu súng ra ngoài, tôi cũng trốn ra bằng cách ấy.

"Và tôi bắt đầu gào hết sức:

"'Ca-va-li-ê! Ca-va-li-ê! Ca-va-li-ê!'

"Nhưng người gác rừng không tỉnh dậy. Lão có giấc ngủ say của một cựu hiến binh.

"Trong khi đó, qua các cửa sổ dưới nhà, tôi thấy cả tầng trệt chỉ còn là một lò lửa rực cháy. Và tôi nhận ra người ta đã nhồi đầy rơm vào đó cho lửa bén nhanh hơn.

"Vậy là có kẻ đã phóng hỏa!

"Tôi lại gào lên, điên cuồng:

"'Ca-va-li-ê!'

"Rồi tôi chợt nghĩ là khói đang làm lão ngạt thở. Tôi nảy ra một ý, nhét hai viên đạn vào súng và bắn một phát thẳng vào cửa sổ buồng lão.

"Sáu ô kính văng tung vào trong buồng thành bụi thủy tinh. Lần này ông già đã nghe thấy, lão hiện ra, hớt hải, mặc áo ngủ, hoảng loạn nhất là vì cái ánh lửa đang soi sáng rực cả mặt trước căn nhà.

"Tôi hét với lão:

"'Nhà bác cháy rồi. Nhảy qua cửa sổ đi, mau, mau lên!'

"Những ngọn lửa bỗng phụt ra từ các ô cửa dưới nhà, liếm lên tường, vươn tới chỗ lão, sắp vây lấy lão. Lão nhảy xuống, rơi đứng trên hai chân, như một con mèo.

"Vừa kịp lúc. Mái rạ nứt toác ở giữa, ngay trên cái cầu thang, cái cầu thang giờ chẳng khác gì một ống khói cho đám cháy dưới nhà. Và một bó lửa đỏ khổng lồ vọt lên không trung, xòe ra như ngọn vòi phun nước, rải một trận mưa tàn lửa quanh túp nhà tranh.

"Và chỉ trong vài giây, nó chỉ còn là một khối lửa.

"Lão Ca-va-li-ê, chết sững, hỏi:

"'Sao lại cháy thế này?'

"Tôi đáp:

"'Có kẻ châm lửa trong bếp.'

"Lão lẩm bẩm:

"'Ai mà lại đi châm lửa?'

"Còn tôi, bỗng đoán ra tất cả, tôi nói:

"'Ma-ri-uýt!'

"Và ông già hiểu ra. Lão lắp bắp:

"'Ôi, lạy Chúa lạy Mẹ! Thảo nào nó không về nhà.'

"Nhưng một ý nghĩ khủng khiếp lóe qua đầu tôi. Tôi hét lên:

"'Còn bà Xê-lét? Bà Xê-lét đâu?'

"Lão không đáp. Nhưng ngôi nhà sụp đổ ngay trước mắt chúng tôi, chỉ còn là một đống than hồng dày đặc, chói lòa, nhức mắt, đỏ như máu, một giàn hỏa thiêu khủng khiếp, trong đó người đàn bà tội nghiệp hẳn cũng chỉ còn là một cục than đỏ, một cục than bằng thịt người.

"Chúng tôi không hề nghe thấy một tiếng kêu nào.

"Nhưng vì lửa bắt sang cái lán bên cạnh, tôi chợt nghĩ tới con ngựa của mình, và lão Ca-va-li-ê chạy đi thả nó ra.

"Lão vừa mở cửa chuồng ngựa thì một cái thân hình mềm mại và nhanh nhẹn lách qua giữa hai chân lão, xô lão ngã sấp mặt. Đó là thằng Ma-ri-uýt, đang chạy trốn hết tốc lực.

"Chỉ trong một giây, lão đã đứng dậy. Lão định chạy theo bắt thằng khốn, nhưng hiểu ra là không đuổi kịp. Thế là, điên lên vì một cơn giận không cưỡng nổi, chiều theo một trong những cử động không suy nghĩ, chớp nhoáng, mà người ta chẳng thể lường trước cũng chẳng thể kìm lại, lão chộp lấy khẩu súng của tôi để dưới đất ngay cạnh, áp lên vai, và trước khi tôi kịp nhúc nhích, lão bóp cò, thậm chí chẳng biết súng có đạn hay không.

"Một trong hai viên đạn tôi nạp vào để báo cháy vẫn chưa nổ. Và cả chùm đạn ghém trúng thẳng vào lưng kẻ đang chạy, quật nó ngã sấp mặt, đầm đìa máu. Nó lập tức cào đất bằng hai tay và hai đầu gối như thể còn muốn chạy bằng bốn chân, giống những con thỏ rừng bị thương chí tử thấy người thợ săn đang tới.

"Tôi lao tới. Thằng bé đã thở hắt ra. Nó tắt thở trước khi ngôi nhà cháy hết, không nói được một lời.

"Lão Ca-va-li-ê, vẫn mặc áo ngủ, chân trần, đứng sững cạnh chúng tôi, bất động, ngây dại.

"Khi dân làng kéo tới, người ta đưa người gác rừng của tôi đi, lão như một kẻ điên.

"Tôi ra tòa làm nhân chứng, và tôi kể lại các sự việc từng chi tiết, không thay đổi gì. Ca-va-li-ê được tha bổng. Nhưng ngay hôm ấy lão biến mất, bỏ xứ mà đi.

"Tôi không bao giờ gặp lại lão nữa.

"Thưa các ông, chuyện đi săn của tôi là thế đấy."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1884
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Garde, in trên báo Le Gaulois năm 1884, tập Yvette, Ollendorff 1902
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →