Chương 1: Vị phẫu thuật gia vô thần
Có một vị thầy thuốc mà khoa học mang ơn một học thuyết sinh lý học tuyệt vời, và tuy còn trẻ đã đứng vào hàng danh tiếng của Trường Y Pa-ri, trung tâm ánh sáng mà giới y học khắp châu Âu đều kính nể. Bác sĩ Bi-ăng-sông ấy đã làm phẫu thuật một thời gian dài trước khi chuyên tâm vào nội khoa. Những bước học đầu tiên của ông được dìu dắt bởi một trong những nhà phẫu thuật lớn nhất nước Pháp, ông Đét-planh lừng danh, người đã lướt qua khoa học như một ngôi sao băng. Chính kẻ thù của ông cũng phải thừa nhận rằng ông đã mang xuống mồ một phương pháp không ai truyền lại được. Như mọi bậc thiên tài, ông không có người thừa kế: ông mang theo mình tất cả, và đem đi tất cả. Vinh quang của các nhà phẫu thuật giống vinh quang của các diễn viên, chỉ tồn tại khi họ còn sống, và tài năng của họ không còn đánh giá được nữa khi họ đã khuất. Diễn viên và nhà phẫu thuật, cũng như những ca sĩ lớn, như những nghệ sĩ bậc thầy nhân sức mạnh của âm nhạc lên gấp mười bằng tiếng đàn, tất cả đều là anh hùng của một khoảnh khắc. Đét-planh là bằng chứng cho sự giống nhau trong số phận của những thiên tài phù du ấy. Cái tên lừng lẫy hôm qua, hôm nay gần như đã bị quên, sẽ chỉ còn lại trong chuyên ngành của ông mà không vượt ra ngoài. Nhưng chẳng lẽ không cần có những hoàn cảnh hết sức đặc biệt thì tên tuổi một nhà bác học mới bước được từ khoa học vào lịch sử chung của nhân loại sao? Đét-planh có cái hiểu biết bao quát làm cho một người trở thành tiếng nói hay gương mặt của cả một thế kỷ không? Đét-planh có một con mắt thần: ông nhìn thấu người bệnh và căn bệnh bằng một trực giác, do rèn luyện hay bẩm sinh, cho phép ông nắm được chẩn đoán riêng cho từng người, xác định đúng lúc, đúng giờ, đúng phút phải mổ, có tính tới cả thời tiết và đặc điểm thể trạng. Để đi song song được với Tạo hoá như thế, phải chăng ông đã nghiên cứu sự kết hợp không ngừng giữa các sinh vật với những chất cơ bản có trong không khí, hay những chất mà đất đai cung cấp cho con người, để con người hấp thụ và chế biến chúng theo cách riêng của mình? Phải chăng ông dùng sức mạnh suy luận và loại suy, thứ đã làm nên thiên tài của Cu-vi-ê? Dù thế nào đi nữa, con người ấy đã trở thành người được Xác Thịt tâm sự, ông nắm được nó cả trong quá khứ lẫn tương lai, dựa trên hiện tại. Nhưng ông có tóm thâu cả nền khoa học vào con người mình như Hi-pô-crát, Ga-li-en, A-ri-xtốt đã làm không? Ông có dẫn cả một trường phái tới những thế giới mới không? Không. Dù không thể phủ nhận rằng con người suốt đời quan sát thứ hoá học của cơ thể người ấy có được cái học thuật cổ xưa của các pháp sư, tức là hiểu biết về những nguyên lý đang hoà quyện, về căn nguyên của sự sống, về sự sống trước khi có sự sống, về cái nó sẽ thành nhờ những bước chuẩn bị trước khi nó hiện hữu, thì đáng tiếc là mọi thứ nơi ông đều chỉ là của riêng ông. Sống cô lập vì lòng ích kỷ, chính lòng ích kỷ ấy hôm nay đang giết chết vinh quang của ông. Trên mộ ông không có pho tượng biết cất tiếng, để nhắc lại cho mai sau những bí ẩn mà Thiên tài phải trả giá đắt mới tìm ra. Nhưng có lẽ tài năng của Đét-planh gắn liền với niềm tin của ông, và vì thế cũng phải chết.
Với ông, bầu khí quyển trái đất là một cái túi sinh sản: ông coi trái đất như quả trứng trong vỏ, và vì không biết được trứng có trước hay gà có trước, nên ông chẳng thừa nhận gà mà cũng chẳng thừa nhận trứng. Ông không tin có con vật trước con người, cũng không tin có linh hồn sau con người. Đét-planh không hoài nghi, ông khẳng định. Chủ nghĩa vô thần thuần tuý và thẳng thắn của ông giống chủ nghĩa vô thần của nhiều nhà bác học, những người tốt nhất trên đời, nhưng vô thần không gì lay chuyển nổi, vô thần theo kiểu mà những người mộ đạo không tin là có thể có người vô thần như thế. Quan điểm ấy khó lòng khác đi được ở một người từ thuở nhỏ đã quen mổ xẻ con người, sinh vật cao quý nhất, trước, trong và sau khi sống, lục lọi nó trong mọi bộ phận mà chẳng tìm thấy cái linh hồn duy nhất, thứ rất cần cho các học thuyết tôn giáo. Ông nhận ra trong con người một trung tâm não bộ, một trung tâm thần kinh và một trung tâm khí huyết, trong đó hai trung tâm đầu thay thế cho nhau giỏi tới mức những ngày cuối đời ông tin chắc rằng thính giác không hẳn cần thiết để nghe, thị giác không hẳn cần thiết để nhìn, và đám rối thần kinh ở bụng có thể thay cho chúng, điều ấy không còn ngờ gì nữa. Tìm thấy hai linh hồn trong con người, Đét-planh lấy điều đó củng cố thêm cho chủ nghĩa vô thần của mình, dù nó vẫn chưa nói lên được gì về Thượng đế. Người ta bảo con người ấy đã chết mà đến phút cuối vẫn không ăn năn, như bao thiên tài lớn đáng tiếc đã chết như thế. Cầu Chúa tha thứ cho họ.
Cuộc đời của con người vĩ đại ấy có nhiều điều nhỏ nhen, nếu dùng chữ của những kẻ thù muốn hạ thấp vinh quang của ông, nhưng gọi chúng là những điều trái khoáy bề ngoài thì đúng hơn. Không bao giờ hiểu được những lý do khiến các đầu óc lớn hành động, những kẻ ganh ghét hay những kẻ ngốc nghếch lập tức vớ lấy vài mâu thuẫn bề ngoài để dựng lên một bản cáo trạng, rồi đem các vĩ nhân ra xét xử tạm thời. Nếu về sau thành công đến với những dự tính từng bị công kích, cho thấy rõ mối liên hệ giữa việc chuẩn bị và kết quả, thì vẫn luôn còn sót lại chút ít những lời vu khống đi trước. Như thời chúng ta, Na-pô-lê-ông từng bị người cùng thời lên án khi ông giương cánh đại bàng hướng về nước Anh: phải tới năm 1816 người ta mới hiểu được năm 1804 và những chiếc thuyền đáy bằng ở Bu-lô-nhơ.
Với Đét-planh, vì vinh quang và học vấn của ông không ai công kích nổi, kẻ thù quay sang chê tính khí kỳ quặc của ông, tính cách của ông, trong khi ông chỉ đơn giản có cái đức tính mà người Anh gọi là sự lập dị. Có khi ông ăn mặc lộng lẫy như nhà soạn bi kịch Cờ-rê-bi-giông, có khi lại tỏ ra thờ ơ lạ lùng chuyện quần áo. Người ta thấy ông khi đi xe, khi đi bộ. Lúc cộc cằn lúc tử tế, bề ngoài khắc nghiệt và keo kiệt, nhưng lại có thể dâng cả gia tài cho những vị chủ cũ đang lưu vong, và họ đã làm ông vinh dự bằng cách nhận nó trong vài ngày. Chưa có ai gây ra nhiều lời phán xét trái ngược nhau như ông. Dù sẵn sàng, để được một dải huân chương đen mà lẽ ra giới thầy thuốc không nên chạy chọt, làm rơi một cuốn sách kinh từ trong túi giữa triều đình, xin tin rằng trong thâm tâm ông chế giễu tất cả. Ông khinh bỉ sâu sắc loài người, sau khi đã quan sát họ từ trên xuống và từ dưới lên, sau khi đã bắt gặp bộ mặt thật của họ giữa những lúc trọng đại nhất lẫn nhỏ mọn nhất của cuộc đời. Ở một vĩ nhân, các phẩm chất thường gắn bó với nhau. Nếu trong số những người khổng lồ ấy có ai tài năng nhiều hơn trí tuệ, thì trí tuệ của người ấy vẫn còn rộng hơn trí tuệ của kẻ mà người ta chỉ khen đơn giản: "Anh ta thông minh." Mọi thiên tài đều đòi hỏi một tầm nhìn về đạo lý. Tầm nhìn ấy có thể dành cho một chuyên ngành nào đó, nhưng ai đã thấy bông hoa thì phải thấy mặt trời. Người đã nghe một nhà ngoại giao, được chính mình cứu sống, hỏi: "Hoàng đế khoẻ không?", và đáp: "Kẻ xu nịnh đã hồi lại, con người rồi cũng sẽ hồi theo!", người ấy không chỉ là nhà phẫu thuật hay thầy thuốc, mà còn thông minh dí dỏm lạ thường. Cho nên người quan sát nhẫn nại và chuyên cần về nhân loại sẽ thấy những tham vọng quá lớn của Đét-planh là chính đáng, và sẽ tin như chính ông tự tin rằng ông có thể thành một vị bộ trưởng lớn chẳng kém gì nhà phẫu thuật.
Trong những điều bí ẩn mà đời Đét-planh bày ra trước mắt nhiều người đương thời, chúng tôi đã chọn một điều thú vị nhất, vì lời giải của nó nằm ở đoạn kết câu chuyện, và nó sẽ rửa sạch cho ông vài lời buộc tội ngu xuẩn.
Trong tất cả các học trò Đét-planh có ở bệnh viện, Ô-rát Bi-ăng-sông là một trong những người ông gắn bó nhất. Trước khi làm bác sĩ nội trú ở bệnh viện Ô-ten-Điơ, Ô-rát Bi-ăng-sông là một sinh viên y khoa, ở trong một nhà trọ tồi tàn thuộc khu La-tinh, tên là nhà trọ Vô-ke. Chàng trai nghèo ấy nếm đủ những đòn của cảnh túng quẫn cùng cực, thứ lò luyện mà những tài năng lớn phải bước ra trong sạch và không gì làm hư hỏng được, như những viên kim cương chịu mọi va đập mà không vỡ. Trong ngọn lửa dữ dội của những đam mê bị kìm nén, họ có được đức liêm chính không gì lay chuyển, và quen dần với những cuộc vật lộn đang chờ thiên tài, nhờ sự lao động không ngừng mà họ dùng để trói chặt những thèm muốn không được thoả mãn. Ô-rát là một chàng trai ngay thẳng, không biết lần khân trong chuyện danh dự, đi thẳng vào việc không cần rào đón, sẵn sàng vì bạn mà đem cầm chiếc áo khoác, cũng như dành cho bạn thời gian và những đêm thức trắng. Tóm lại Ô-rát là một trong những người bạn chẳng bận tâm tới việc mình nhận lại được gì cho những thứ mình cho, vì tin chắc tới lượt mình sẽ nhận được nhiều hơn những gì mình cho đi. Phần lớn bạn bè anh dành cho anh thứ kính trọng thầm kín mà một đức hạnh không phô trương vẫn gợi ra, và nhiều người trong số họ sợ lời chê trách của anh. Nhưng Ô-rát thể hiện những phẩm chất ấy mà chẳng chút ra vẻ thông thái. Không khắc khổ, không rao giảng, anh vừa khuyên bảo vừa văng tục một cách vui vẻ, và gặp dịp thì sẵn lòng chè chén một bữa ra trò. Một người bạn đường tốt, không hay e lệ hơn một anh kỵ binh, thẳng thắn và cởi mở, không phải như một thuỷ thủ, vì thuỷ thủ thời nay là những nhà ngoại giao ranh mãnh, mà như một chàng trai tốt bụng chẳng có gì phải giấu giếm trong đời, anh bước đi ngẩng cao đầu và với một tâm hồn tươi vui. Nói gọn trong một câu, Ô-rát là người bạn chí cốt của biết bao kẻ bị chủ nợ truy đuổi, mà chủ nợ thời nay chính là hình ảnh thật nhất của những nữ thần báo oán thời xưa. Anh mang cảnh nghèo của mình với một sự vui tươi mà có lẽ là một trong những yếu tố lớn nhất của lòng can đảm, và như mọi người chẳng có gì, anh ít khi mắc nợ. Chịu đói khát giỏi như lạc đà, nhanh nhẹn như hươu, anh vững vàng trong ý nghĩ và trong việc làm. Cuộc đời may mắn của Bi-ăng-sông bắt đầu từ ngày nhà phẫu thuật lừng danh có bằng chứng về những ưu điểm cũng như khuyết điểm của anh, những thứ làm cho bác sĩ Ô-rát Bi-ăng-sông quý giá gấp đôi trong mắt bạn bè. Khi một trưởng khoa đã nâng đỡ một chàng trai, thì chàng trai ấy, như người ta vẫn nói, đã đặt được chân lên bàn đạp. Đét-planh không bao giờ quên dẫn Bi-ăng-sông theo phụ việc cho mình ở các nhà giàu có, nơi gần như lần nào cũng có chút tiền thưởng rơi vào túi anh bác sĩ nội trú, và nơi những bí mật của đời sống Pa-ri dần dần hé lộ cho chàng trai tỉnh lẻ. Ông giữ anh trong phòng khám những lúc ông khám bệnh và giao việc cho anh. Có khi ông cử anh đi theo một bệnh nhân giàu có tới các khu nghỉ dưỡng suối nước nóng. Tóm lại, ông chuẩn bị cho anh một lượng khách bệnh. Kết quả là sau một thời gian, ông vua chuyên chế của ngành phẫu thuật có được một kẻ tín đồ một lòng một dạ. Hai con người ấy, một người ở đỉnh cao danh vọng và học vấn, hưởng một gia tài khổng lồ và một vinh quang khổng lồ, một người là kẻ khiêm nhường đứng hàng chót, chẳng tiền tài, chẳng danh vọng, trở nên thân thiết. Ông Đét-planh vĩ đại nói hết mọi chuyện với anh bác sĩ nội trú. Anh biết người đàn bà nào đã ngồi trên ghế cạnh thầy, hay trên chiếc trường kỷ nổi tiếng trong phòng làm việc, nơi Đét-planh vẫn ngủ. Bi-ăng-sông biết những bí mật của cái thể trạng vừa sư tử vừa bò mộng ấy, thứ thể trạng rốt cuộc làm nở rộng, phình to quá mức lồng ngực của vĩ nhân, và gây ra cái chết của ông vì tim to ra. Anh nghiên cứu những điều kỳ quặc trong cuộc đời bận rộn ấy, những toan tính của thói keo kiệt bủn xỉn ấy, những hy vọng của nhà chính trị ẩn trong nhà bác học. Anh đoán trước được những nỗi thất vọng đang chờ thứ tình cảm duy nhất chôn giấu trong trái tim ấy, một trái tim không hẳn bằng đồng, chỉ là đã chai sạn.
Một hôm, Bi-ăng-sông kể với Đét-planh rằng có một anh gánh nước nghèo ở khu Xanh-Giắc mắc một căn bệnh khủng khiếp vì làm lụng vất vả và vì nghèo khổ. Anh chàng người xứ Ô-véc-nhơ tội nghiệp ấy chỉ ăn toàn khoai tây suốt mùa đông giá rét năm 1821. Đét-planh bỏ hết các bệnh nhân khác. Bất chấp nguy cơ làm con ngựa chết gục, ông phóng như bay, có Bi-ăng-sông theo sau, tới nhà người đàn ông nghèo, rồi tự tay chở anh ta tới nhà dưỡng bệnh do ông Đuy-boa nổi tiếng lập ra ở khu ngoại ô Xanh-Đơ-ni. Ông tới đó chữa cho người ấy, và khi anh ta bình phục, ông cho anh ta đủ tiền mua một con ngựa và một thùng chở nước. Anh chàng Ô-véc-nhơ ấy nổi bật vì một nét độc đáo. Một người bạn của anh ngã bệnh, anh vội đưa người ấy tới nhà Đét-planh, rồi nói với ân nhân của mình:
— Tôi không để cho nó đi tìm ông thầy nào khác đâu.
Cộc cằn là thế, Đét-planh vẫn nắm chặt tay người gánh nước, bảo:
— Cứ đưa hết bọn họ tới cho tôi.
Rồi ông cho người con xứ Can-tan ấy vào bệnh viện Ô-ten-Điơ, và chăm sóc anh ta hết sức chu đáo. Bi-ăng-sông đã nhiều lần để ý thấy thầy mình có cảm tình đặc biệt với người xứ Ô-véc-nhơ, nhất là với những người gánh nước. Nhưng vì Đét-planh vẫn có chút kiêu hãnh về những ca chữa trị ở bệnh viện Ô-ten-Điơ, nên người học trò chẳng thấy có gì quá lạ.
Một hôm, đi ngang qua quảng trường Xanh-Xuyn-pi-xơ, Bi-ăng-sông thấy thầy mình bước vào nhà thờ lúc chừng chín giờ sáng. Đét-planh, hồi ấy không bao giờ bước một bước mà thiếu chiếc xe ngựa nhỏ của mình, lại đang đi bộ, và lẻn vào qua cửa phía phố Sư Tử Nhỏ, như thể ông đang vào một căn nhà đáng ngờ. Tất nhiên là tò mò, anh bác sĩ nội trú vốn biết quan điểm của thầy, và chính anh cũng là một môn đồ của Ca-ba-ni vô thần tới mức quỷ sứ cũng phải chào thua, bèn lẻn vào nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ. Anh ngạc nhiên không ít khi thấy ông Đét-planh vĩ đại, con người vô thần chẳng chút nể nang các thiên thần, những kẻ chẳng để cho dao mổ vào đâu, chẳng thể bị lở loét hay đau dạ dày, nói tóm lại là con người chế giễu không biết sợ ấy, đang khiêm nhường quỳ gối. Mà quỳ ở đâu?... Ở nhà nguyện Đức Mẹ. Trước bàn thờ ấy ông nghe trọn một thánh lễ, dâng tiền cho việc thờ phụng, bố thí cho người nghèo, nét mặt nghiêm trang như đang làm một ca mổ.
— Chắc chắn ông ấy không tới để làm sáng tỏ những vấn đề về việc Đức Mẹ sinh nở, Bi-ăng-sông tự nhủ, kinh ngạc không sao tả xiết. Nếu thấy ông cầm một sợi dây của chiếc lọng che Mình Thánh trong ngày lễ Mình Thánh Chúa thì chỉ việc cười thôi. Nhưng vào giờ này, một mình, chẳng có ai chứng kiến, thì rõ là có chuyện đáng suy nghĩ!
Bi-ăng-sông không muốn có vẻ đang theo dõi nhà phẫu thuật trưởng của bệnh viện Ô-ten-Điơ, nên bỏ đi. Tình cờ, ngay hôm ấy Đét-planh mời anh đi ăn tối cùng mình, không phải ở nhà mà ở một quán ăn.
Giữa lúc tráng miệng, bằng những bước dẫn dắt khéo léo, Bi-ăng-sông lái được câu chuyện sang lễ mi-sa, gọi nó là trò hề, là màn kịch.
— Một màn kịch, Đét-planh nói, đã làm đổ máu người theo đạo nhiều hơn mọi trận đánh của Na-pô-lê-ông và mọi con đỉa của ông Bờ-ru-xê! Lễ mi-sa là một phát minh của các giáo hoàng, có từ thế kỷ thứ sáu là cùng, dựa trên câu "Này là mình Ta". Đã phải đổ biết bao dòng máu mới lập được lễ Mình Thánh Chúa, qua đó toà thánh La Mã muốn khẳng định chiến thắng của mình trong vụ tranh cãi về sự hiện diện thật của Chúa trong bánh thánh, cuộc ly giáo đã làm rối loạn Giáo hội suốt ba thế kỷ! Những cuộc chiến của bá tước Tu-lu-dơ và phái An-bi chỉ là cái đuôi của vụ ấy. Phái Van-đô và phái An-bi đã không chịu thừa nhận cái điều mới đặt ra ấy.
Rồi Đét-planh khoái chí tuôn ra hết cái tài hùng biện của người vô thần, thành một tràng đùa cợt theo kiểu Vôn-te, hay nói cho đúng hơn, một bản nhái tồi tệ cuốn sách "Kẻ trích dẫn".
"Ô hay!" Bi-ăng-sông tự nhủ. "Ông thầy mộ đạo của mình sáng nay đâu rồi?"
Anh im lặng, đâm ngờ không biết có đúng mình đã thấy thầy ở nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ không. Đét-planh chẳng việc gì phải mất công nói dối Bi-ăng-sông. Hai người hiểu nhau quá rõ, họ đã từng trao đổi ý kiến về những chuyện cũng hệ trọng như thế, đã tranh luận về các học thuyết bàn về bản chất vạn vật, thăm dò hay mổ xẻ chúng bằng dao và dao mổ của sự Hoài nghi. Ba tháng trôi qua. Bi-ăng-sông không tìm hiểu thêm chuyện ấy, dù nó vẫn in sâu trong trí nhớ anh. Trong năm ấy, một hôm, một bác sĩ của bệnh viện Ô-ten-Điơ nắm tay Đét-planh trước mặt Bi-ăng-sông, như để hỏi chuyện.
— Thưa thầy kính mến, thầy tới nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ làm gì thế? Ông ta hỏi.
— Tới khám cho một linh mục bị mục xương đầu gối, mà bà nữ công tước Ăng-gu-lem đã làm tôi vinh dự bằng cách giới thiệu ông ấy với tôi, Đét-planh đáp.
Ông bác sĩ kia chịu lời thoái thác ấy, nhưng Bi-ăng-sông thì không.
"À! Ông ấy tới nhà thờ để xem đầu gối đau! Ông ấy đi nghe lễ thì có," anh bác sĩ nội trú tự nhủ.
Bi-ăng-sông tự hứa sẽ rình Đét-planh. Anh nhớ lại ngày, giờ mà anh đã bắt gặp ông vào nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ, và tự hứa năm sau sẽ tới đúng ngày ấy, đúng giờ ấy, để xem có bắt gặp ông lần nữa không. Nếu có, thì tính định kỳ của lòng mộ đạo ấy sẽ cho phép một cuộc điều tra khoa học, vì ở một con người như thế không thể có một sự mâu thuẫn trực tiếp giữa ý nghĩ và hành động. Năm sau, đúng ngày giờ đã định, Bi-ăng-sông, khi ấy đã không còn là bác sĩ nội trú của Đét-planh nữa, thấy chiếc xe ngựa của nhà phẫu thuật dừng ở góc phố Tuốc-nông và phố Sư Tử Nhỏ. Từ đó, người bạn của anh lén lút men theo chân tường như một tay thầy tu xảo quyệt, tới nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ, và lại nghe lễ ở bàn thờ Đức Mẹ. Đúng là Đét-planh! Nhà phẫu thuật trưởng, kẻ vô thần trong thâm tâm, người mộ đạo vì tình cờ. Mối bí ẩn càng thêm rối. Sự đều đặn của nhà bác học lừng danh ấy làm mọi thứ phức tạp thêm. Khi Đét-planh đã ra về, Bi-ăng-sông tới gần ông từ đang ra dọn bàn thờ, hỏi xem quý ông kia có phải là khách quen không.
— Tôi ở đây đã hai mươi năm, ông từ nói, và từ hồi ấy, mỗi năm ông Đét-planh tới nghe lễ này bốn lần. Chính ông ấy đã lập ra nó.
— Một thánh lễ do chính ông ấy lập ra! Bi-ăng-sông vừa đi vừa nói. Chuyện này cũng đáng sánh với mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, thứ mà chỉ riêng nó đã đủ làm một thầy thuốc mất lòng tin.
Một thời gian trôi qua mà bác sĩ Bi-ăng-sông, dù là bạn của Đét-planh, vẫn không có dịp nói với ông về điều đặc biệt ấy trong đời ông. Họ có gặp nhau trong các buổi hội chẩn hay ngoài xã hội, nhưng khó mà tìm được lúc tin cẩn và riêng tư, khi người ta gác chân lên giá sưởi, ngả đầu lên lưng ghế bành, và hai người đàn ông kể cho nhau nghe những bí mật của mình. Rốt cuộc, bảy năm sau, sau cuộc cách mạng năm 1830, khi dân chúng xông vào toà Tổng giám mục, khi những cảm hứng cộng hoà thúc họ đập phá những cây thánh giá mạ vàng loé lên như những tia chớp giữa đại dương nhà cửa mênh mông, khi sự Vô tín sánh vai với cuộc Bạo loạn nghênh ngang khắp phố phường, Bi-ăng-sông lại bắt gặp Đét-planh bước vào nhà thờ Xanh-Xuyn-pi-xơ. Bác sĩ đi theo vào, tới quỳ cạnh ông, mà người bạn của anh chẳng hề ra hiệu gì hay tỏ chút ngạc nhiên nào. Cả hai cùng nghe thánh lễ do ông lập.
— Anh bạn thân mến, ông có chịu nói cho tôi biết, Bi-ăng-sông hỏi Đét-planh khi họ ra khỏi nhà thờ, vì sao ông làm cái trò lễ lạy này không? Tôi đã ba lần bắt gặp ông đi lễ. Ông đấy! Ông phải giải thích cho tôi điều bí ẩn này, phải cắt nghĩa cho tôi sự trái ngược rành rành giữa quan điểm và hành động của ông. Ông không tin có Chúa, vậy mà ông đi lễ! Thưa thầy kính mến, thầy buộc phải trả lời tôi.
— Tôi cũng giống nhiều kẻ mộ đạo khác thôi, giống những người bề ngoài rất sùng đạo, nhưng cũng vô thần y như anh và tôi.
Và thế là một tràng câu châm biếm dồn dập về vài nhân vật chính trị, mà người nổi tiếng nhất trong số đó đang cho thế kỷ chúng ta thấy một phiên bản mới của gã Tác-tuýp đạo đức giả trong kịch Mô-li-e.
— Tôi đâu có hỏi ông những chuyện ấy, Bi-ăng-sông nói. Tôi muốn biết lý do của việc ông vừa làm ở đây, vì sao ông lập ra thánh lễ này.
— Thôi được, anh bạn thân mến, Đét-planh nói, tôi đã kề miệng lỗ rồi, tôi cũng có thể kể cho anh nghe về những ngày đầu đời mình.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn