Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Liêu Trai: Hồng Ngọc

của Bồ Tùng Linh

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 10.348 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ông Phùng ở Quảng Bình có một con trai…
  2. 1:18Cha còn đó, anh không được tự quyết. Nếu…
  3. 2:04Ông gật đầu. Chàng mượn đầy tớ ngựa nghẽo…
  4. 4:25Chàng ngờ là người họ Tống sai tới dò…
  5. 5:32Đầy tớ họ Tống cùng lính quan đi lùng…
  6. 6:12Đêm ấy quan huyện vừa nằm xuống, nghe có…
  7. 7:52Nói thật với chàng: trước kia bảo là con…
  8. 8:50Từ đống tro tàn, nàng tay trắng gây dựng…

Ông Phùng ở Quảng Bình có một con trai tên chữ là Tương Như. Hai cha con đều là tú tài. Ông đã gần sáu mươi, tính ngay thẳng cứng cỏi, mà nhà thường túng thiếu. Mấy năm liền, vợ ông và con dâu lần lượt qua đời, việc giếng nước cối gạo ông phải tự làm lấy.

Một đêm, Tương Như ngồi dưới trăng, bỗng thấy cô gái nhà hàng xóm phía đông ở trên tường nhìn sang. Nhìn kỹ thì xinh đẹp. Lại gần thì cô mỉm cười. Chàng vẫy tay gọi, cô không sang mà cũng không đi. Chàng cố mời mãi, cô mới bắc thang trèo sang, rồi hai người ăn ở với nhau. Hỏi tên, cô nói:

— Em là Hồng Ngọc, con gái nhà hàng xóm.

Chàng rất yêu, hẹn ước trăm năm. Cô nhận lời. Đêm nào cũng qua lại, chừng nửa năm.

Một đêm ông Phùng dậy, nghe trong phòng con có tiếng cười nói, nhìn vào thấy cô gái. Ông giận, gọi con ra mắng:

— Đồ súc sinh, làm chuyện gì thế! Nhà cửa tiêu điều thế này, không chịu khó học hành, lại học thói trăng hoa à? Người ta biết thì mất đức của mày, người ta không biết thì giảm tuổi thọ của mày!

Tương Như quỳ xuống nhận tội, khóc nói đã biết hối. Ông quát cô gái:

— Con gái không giữ khuê môn, đã tự làm nhơ mình lại còn làm nhơ người khác. Nếu việc lộ ra, đâu chỉ để xấu hổ cho nhà ta!

Mắng xong, ông hầm hầm về ngủ. Cô gái rơi nước mắt nói:

— Bị cha chàng trách mắng, thật đáng nhục nhã! Duyên phận hai ta hết rồi!

— Cha còn đó, anh không được tự quyết. Nếu em có tình, thì hãy chịu nhục mà ở lại với anh.

Cô gái lời lẽ dứt khoát. Chàng rơi nước mắt. Cô ngăn lại, nói:

— Thiếp với chàng không có lời mai mối, không có lệnh cha mẹ, trèo tường khoét vách, sao bạc đầu với nhau được? Ở gần đây có một người vợ tốt, chàng nên hỏi.

Chàng nói nhà nghèo. Cô nói:

— Tối mai chàng đợi, thiếp sẽ tính cho chàng.

Tối hôm sau cô quả nhiên tới, đưa chàng bốn mươi lạng bạc, nói:

— Cách đây sáu mươi dặm có nhà họ Vệ ở làng Ngô, con gái mười tám tuổi rồi. Vì đòi sính lễ cao nên chưa gả được. Chàng đưa nhiều tiền, ắt họ bằng lòng.

Nói xong cô từ biệt đi.

Tương Như nhân dịp thưa với cha, muốn đi xem mặt, nhưng giấu chuyện được cho tiền. Ông tự nghĩ không có tiền, nên ngăn lại. Chàng lại khéo nói:

— Cứ thử xem, được thì được.

Ông gật đầu. Chàng mượn đầy tớ ngựa nghẽo tới nhà họ Vệ. Ông Vệ vốn là nhà nông. Chàng mời ông ra, kéo ra chỗ riêng nói chuyện. Ông Vệ biết chàng là con nhà danh giá, lại thấy dáng điệu phóng khoáng, trong lòng đã ưng, chỉ lo chàng tiếc tiền. Chàng nghe lời ông ấp úng, hiểu ý, dốc hết túi bày lên bàn. Ông Vệ mừng, nhờ một anh học trò hàng xóm làm chứng, viết giấy đỏ định ước.

Chàng vào lạy bà mẹ. Trong căn phòng chật hẹp, cô gái nép sau lưng mẹ. Chàng liếc nhìn, tuy áo vải trâm gai mà thần sắc rạng rỡ, trong lòng thầm mừng. Ông Vệ mượn nhà bên đãi con rể, rồi nói:

— Cậu không cần tới rước dâu, đợi tôi may ít áo xống, sẽ đưa con sang.

Chàng hẹn ngày rồi về, nói dối với cha là nhà họ Vệ quý nhà nho thanh bạch, không đòi tiền. Ông Phùng cũng mừng.

Đúng ngày, ông Vệ đưa con gái tới. Cô dâu cần kiệm, nết na hiền thuận, vợ chồng rất đằm thắm. Hai năm sau sinh được một con trai, đặt tên là Phúc Nhi.

Tiết Thanh minh, nàng bế con đi tảo mộ, gặp ông thân sĩ họ Tống trong huyện. Họ Tống từng làm ngự sử, vì ăn hối lộ mà mất chức, về ở nhà, ra oai tác quái dữ lắm. Hôm ấy hắn cũng đi tảo mộ về, thấy nàng đẹp, hỏi người trong làng, biết là vợ Phùng sinh. Hắn đoán họ Phùng là học trò nghèo, đem nhiều tiền ra dụ ắt lung lay được, bèn sai người nhà tới ngỏ ý.

Tương Như mới nghe thì giận ra mặt. Rồi nghĩ thế mình không địch nổi, nén giận làm vui, về thưa với cha. Ông Phùng giận lắm, chạy ra, trước mặt người nhà họ Tống, chỉ trời vạch đất, chửi mắng đủ điều. Người nhà họ Tống lủi như chuột mà về. Họ Tống cũng giận, sai mấy người xông vào nhà Phùng, đánh cả cha lẫn con, ầm ĩ như vạc sôi. Vợ Tương Như nghe động, bỏ con trên giường, xoã tóc kêu cứu. Bọn chúng xúm lại khiêng nàng đi, ồn ào kéo về. Hai cha con bị thương, nằm rên dưới đất. Đứa trẻ khóc oa oa trong nhà. Hàng xóm thương, đỡ hai cha con lên giường.

Qua một ngày, Tương Như chống gậy dậy được. Ông Phùng uất ức không ăn, thổ huyết rồi chết. Tương Như khóc to, bế con đi kiện, lên tới quan tổng đốc tuần phủ, kiện khắp nơi, rốt cuộc không được xử phải. Sau lại nghe tin vợ không chịu khuất phục mà chết, chàng càng đau đớn. Nỗi oan nghẹn cổ, không đường giãi bày. Chàng thường nghĩ chặn đường đâm chết họ Tống, nhưng lo hắn đông người hầu, con thơ lại không có ai gửi gắm. Ngày đêm đau xót, chàng không chợp mắt được.

Bỗng có một người đàn ông tới nhà viếng, râu quai nón, cằm bạnh, chưa từng quen biết. Chàng mời ngồi, định hỏi quê quán. Người khách nói ngay:

— Anh có thù giết cha, hận cướp vợ, mà quên báo thù sao?

Chàng ngờ là người họ Tống sai tới dò la, bèn giả vờ ậm ừ. Người khách giận, trợn mắt muốn rách khoé, đứng phắt dậy đi ra, nói:

— Ta tưởng anh là người, nay mới biết là thứ hèn hạ không đáng nhắc tới!

Chàng thấy người này khác thường, quỳ xuống níu lại, nói:

— Thật vì sợ người họ Tống dò lời tôi. Nay xin nói thật lòng: tôi nằm gai nếm mật đã lâu rồi. Chỉ thương đứa bé còn trong tã này, sợ dứt mất hương hoả. Ông là nghĩa sĩ, có thể vì tôi mà làm như Trình Anh nuôi con cô nhi họ Triệu không?

Người khách nói:

— Đó là việc của đàn bà con gái, ta không làm được. Việc anh muốn nhờ người khác, xin anh tự gánh lấy. Việc anh muốn tự làm, ta xin làm thay.

Chàng nghe thế, dập đầu xuống đất. Người khách không ngoảnh lại, đi ra. Chàng đuổi theo hỏi tên họ. Người ấy nói:

— Không xong thì không chịu oán, xong thì cũng không nhận ơn.

Rồi đi.

Tương Như sợ hoạ tới mình, bế con trốn đi. Đêm ấy, cả nhà họ Tống đang ngủ, có người trèo qua mấy lớp tường vào, giết cha con quan ngự sử ba người, cùng một nàng dâu và một con hầu. Nhà họ Tống làm đơn trình quan. Quan kinh hãi. Họ Tống một mực đổ cho Tương Như, quan bèn sai lính đi bắt. Chàng đã trốn không biết đi đâu, thế là tội lại càng như thật.

Đầy tớ họ Tống cùng lính quan đi lùng khắp nơi. Đêm tới núi Nam, nghe tiếng trẻ khóc, lần theo bắt được chàng, trói giải đi. Đứa bé càng khóc dữ, bọn chúng giằng lấy ném đi. Chàng uất hận đến muốn chết.

Gặp quan huyện, quan hỏi:

— Sao lại giết người?

— Oan quá! Người kia chết ban đêm, tôi đi ban ngày, lại bế đứa bé oa oa, sao trèo tường giết người được?

— Không giết người thì trốn làm gì?

Chàng cứng lời, không cãi được. Quan tống giam chàng vào ngục. Chàng khóc:

— Tôi chết không đáng tiếc, đứa con côi có tội gì?

Quan huyện nói:

— Mày giết con người ta nhiều rồi, người ta giết con mày thì oán gì?

Chàng bị lột áo mũ tú tài, mấy lần bị tra tấn thảm khốc, rốt cuộc vẫn không nhận.

Đêm ấy quan huyện vừa nằm xuống, nghe có vật gì đập vào giường, chấn động mạnh. Ông sợ quá kêu ầm lên. Cả nhà giật mình dậy, xúm lại soi đèn, thì thấy một con dao ngắn sắc lạnh như sương, cắm phập vào thành giường sâu hơn một tấc, chặt cứng không rút ra được. Quan huyện nhìn thấy, hồn vía lên mây. Lính cầm giáo lùng khắp nơi, không thấy dấu vết gì. Quan huyện trong lòng nhụt chí. Lại nghĩ người họ Tống đã chết, chẳng còn gì phải sợ, bèn làm tờ trình lên quan trên, xin gỡ tội cho chàng, rồi thả chàng ra.

Tương Như về nhà, trong vò không còn một hạt gạo, một bóng lẻ loi trước bốn bức tường. May có hàng xóm thương cho ăn uống, sống tạm qua ngày. Nghĩ tới mối thù lớn đã trả, thì nhẹ nhõm mừng vui. Nghĩ tới tai hoạ thảm khốc, suýt nữa tuyệt cả nhà, thì nước mắt rơi lã chã. Đến khi nghĩ nửa đời nghèo thấu xương, dòng dõi không nối được, thì ở chỗ vắng người khóc to thành tiếng, không tự kìm được.

Như thế nửa năm, việc truy bắt lơi dần. Chàng bèn xin quan huyện cho đem hài cốt vợ về. Chôn cất xong trở về, đau đớn muốn chết. Trằn trọc trên chiếc giường trống, thấy chẳng còn đường sống.

Bỗng có người gõ cửa. Chàng lắng tai nghe, thấy có người ngoài cửa đang rì rầm nói chuyện với một đứa trẻ. Chàng vội dậy nhìn trộm, hình như là một người con gái. Cửa vừa mở, người ấy đã hỏi:

— Nỗi oan lớn đã được rửa, chàng có được bình yên không?

Giọng nói rất quen, mà vội quá chàng nhớ không ra. Soi đèn lên, thì là Hồng Ngọc. Nàng dắt một đứa bé, đang đùa nghịch dưới chân. Chàng không kịp hỏi, ôm nàng khóc nức nở. Nàng cũng xót xa. Rồi nàng đẩy đứa bé ra, bảo:

— Con quên cha con rồi sao?

Đứa bé níu áo nàng, mắt sáng long lanh nhìn chàng. Nhìn kỹ, thì là Phúc Nhi. Chàng kinh ngạc, khóc hỏi:

— Con ở đâu mà về được?

Nàng nói:

— Nói thật với chàng: trước kia bảo là con gái nhà hàng xóm, là nói dối đấy. Thiếp thật là hồ ly. Hôm ấy đi đêm, thấy đứa bé khóc ở cửa hang, thiếp bế về nuôi ở đất Tần. Nghe tin tai nạn lớn đã qua, nên đưa nó về đoàn tụ với chàng.

Chàng gạt nước mắt lạy tạ. Đứa bé trong lòng nàng, quấn quýt như với mẹ ruột, chẳng còn nhận ra cha nữa.

Trời chưa sáng, nàng đã vội dậy. Chàng hỏi, nàng đáp:

— Thiếp muốn đi.

Chàng cởi trần quỳ bên giường, khóc không ngẩng lên được. Nàng cười:

— Thiếp đùa chàng thôi. Nay gia đình mới gây dựng lại, phải dậy sớm thức khuya mới được.

Rồi nàng phát cỏ quét sân, làm lụng như đàn ông. Chàng lo nghèo, không đủ sống. Nàng nói:

— Chàng cứ buông rèm đọc sách, đừng hỏi chuyện đủ thiếu, chắc cũng không đến nỗi chết đói.

Nàng bèn bỏ tiền sắm khung cửi, thuê mấy chục mẫu ruộng, mướn người cày cấy. Vác thuổng phát cỏ, kéo dây leo vá mái nhà, ngày nào cũng thế. Làng xóm nghe tiếng nàng dâu hiền, càng vui lòng giúp đỡ. Chừng nửa năm, nhà cửa đông vui khói bếp, như nhà giàu xưa nay.

Chàng nói:

— Từ đống tro tàn, nàng tay trắng gây dựng lại tất cả. Nhưng còn một việc chưa xong, biết làm sao?

Nàng hỏi, chàng đáp:

— Kỳ thi sắp tới, mà khăn áo tú tài của ta chưa được trả lại.

Nàng cười:

— Trước đây thiếp đã gửi bốn lạng vàng cho quan giáo thụ, tên chàng đã được ghi lại trong sổ rồi. Nếu đợi chàng nói, thì đã lỡ từ lâu.

Chàng càng thấy nàng thần diệu. Khoa ấy chàng đỗ cử nhân. Bấy giờ chàng ba mươi sáu tuổi, ruộng tốt liền bờ, nhà cao cửa rộng. Hồng Ngọc dáng mảnh mai như sắp theo gió bay đi, mà làm lụng còn hơn đàn bà nhà nông. Mùa đông giá rét tự mình chịu khổ, mà tay vẫn mịn như mỡ đông. Nàng tự nói hai mươi tám tuổi, người ta nhìn thì vẫn như mới ngoài hai mươi.

Người kể chuyện này có lời bàn: Con hiền, cha có đức, nên được báo đáp theo lối hiệp nghĩa. Không chỉ người hiệp nghĩa, mà hồ ly cũng hiệp nghĩa. Cuộc gặp gỡ thật là kỳ lạ! Có điều quan huyện kia hồ đồ, làm người ta dựng tóc gáy. Con dao đã cắm phập vào gỗ, sao không chịu nhích lên giường thêm nửa thước? Nếu Tô Tử Mỹ đọc tới đây, ắt sẽ nâng chén mà than: tiếc thay, đâm không trúng!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảBồ Tùng Linh (1640 – 1715)
Năm mất1715
Xuất bản lần đầu1766
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Hồng Ngọc, Liêu Trai chí dị, quyển 2 (bản 12 quyển trên Wikisource chữ Hán)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →