Chương 3: Bàn tay đen trên lưng
Nhưng Túc tuy phóng túng không ra gì, vốn là một danh sĩ đất Đông. Hắn nghe nói quan học chính là ông Thi Ngu Sơn hiền tài bậc nhất, lại có đức thương người tài, thương học trò, bèn làm một lá đơn kêu oan, lời lẽ thống thiết. Ông Thi đòi lời khai ra, nghĩ đi nghĩ lại, rồi đập bàn nói:
— Người này bị oan!
Ông bèn xin quan trên cho chuyển án về xét lại. Ông hỏi Túc:
— Chiếc giày đánh rơi ở đâu?
— Con quên rồi. Chỉ biết lúc gõ cửa nhà Vương thị thì nó vẫn còn trong tay áo.
Ông quay sang hỏi Vương thị:
— Ngoài Túc Giới ra, mày còn có mấy nhân tình nữa?
— Không có.
— Kẻ dâm đãng, lẽ nào chỉ giữ riêng một người?
— Tôi với Túc Giới quen nhau từ nhỏ, nên không dứt được. Về sau không phải không có kẻ ve vãn, nhưng tôi thật không dám theo.
Ông bảo nàng chỉ đích danh người ấy cho rõ. Nàng khai:
— Gã Mao Đại cùng xóm, nhiều lần ve vãn, tôi đều cự tuyệt cả.
— Sao bỗng dưng trong sạch thế?
Ông sai đánh. Vương thị dập đầu chảy máu, hết sức cãi là không có. Ông bèn tha, lại hỏi:
— Chồng mày đi xa, lẽ nào không có ai viện cớ mà tới nhà?
— Có. Anh Giáp, anh Ất, đều vì chuyện vay mượn biếu xén mà vào nhà tôi một hai lần.
Nguyên Giáp, Ất đều là bọn lêu lổng trong ngõ, có ý với Vương thị mà chưa dám ngỏ. Ông ghi hết tên, bắt cả về.
Bắt đủ rồi, ông tới miếu Thành hoàng, bắt tất cả quỳ trước bàn thờ, nói:
— Mới rồi ta nằm mộng thấy thần báo rằng kẻ giết người không ngoài bốn năm đứa chúng mày. Nay trước mặt thần linh, không được nói dối. Ai chịu tự thú thì còn được khoan dung. Kẻ nói dối mà bị tra ra thì không tha!
Cả bọn đồng thanh nói không hề giết người. Ông sai đặt gông cùm xuống đất, định tra tấn cả bọn. Chúng bị búi tóc cởi áo, đồng loạt kêu oan. Ông sai tha ra, nói:
— Đã không tự khai, thì để quỷ thần chỉ ra.
Ông sai người lấy chăn nệm che kín hết cửa sổ trong điện, không để hở một khe nào. Bắt bọn tù cởi trần lưng, lùa vào chỗ tối, rồi đưa cho chậu nước, bảo từng người rửa tay. Rửa xong, trói chúng đứng sát chân tường, dặn:
— Quay mặt vào tường, không được động đậy. Kẻ giết người, thần sẽ tới viết chữ lên lưng.
Một lát sau, ông gọi ra xem xét, chỉ vào Mao Đại nói:
— Đây đích thực là tên giết người!
Nguyên ông đã sai người trát tro lên tường trước, lại pha muội khói vào nước rửa tay. Kẻ giết người sợ thần tới viết, nên áp lưng vào tường, lưng dính màu tro. Lúc sắp ra, lại lấy tay che lưng, nên lưng dính màu muội đen. Ông vốn đã ngờ Mao, đến đây càng tin. Đem ra tra tấn nặng, Mao khai hết sự thật.
Ông Thi phán quyết. Lời phán dài, văn hoa, đại ý như sau.
Xét Túc Giới: đi vào con đường của kẻ mua hoạ vào thân, mang tiếng háo sắc. Chỉ vì quen nhau từ thuở nhỏ, mà vương vấn chuyện vợ người. Vì một lời hở ra, mà được voi đòi tiên. Trèo tường như chim rơi, mạo danh chàng Ngạc mà lừa được cửa mở. Hành động như thế, kẻ học trò còn ra thể thống gì! May mà còn nghe tiếng van của cô gái ốm, còn biết thương mà dừng tay, chưa đến nỗi cuồng bạo. Thả cô gái ra còn có chút lòng người học trò, nhưng cướp chiếc giày làm tin thì thật là đồ vô lại. Bướm bay qua tường, cách vách có tai. Cánh sen rơi xuống, rơi đâu không dấu. Từ cái giả này sinh ra cái giả khác, nỗi oan chồng nỗi oan, ai mà tin được. Tai hoạ từ trời giáng xuống, bị tra tấn suýt chết. Tội tự mình gây ra, đầu suýt lìa khỏi cổ. Trèo tường khoét vách, vốn đã làm nhơ mũ nhà nho. Nhưng chịu tội thay cho người khác, thật khó tiêu nỗi oan. Nay nên giảm nhẹ hình phạt, coi như trừ vào những đòn đã chịu, tạm giáng làm học trò hạng thấp, mở cho con đường tự sửa mình.
Xét Mao Đại: gian xảo vô lại, côn đồ chợ búa. Ve vãn đàn bà hàng xóm bị cự tuyệt mà lòng dâm vẫn chưa chết. Rình được gã trai ngông vào ngõ, mưu gian bỗng nảy ra. Nhặt được chiếc giày mà mừng như được dấu chân người tình, muốn mượn danh người khác mà ăn cắp hương phấn. Nào ngờ hồn vía bị trời đoạt, quỷ thần xui khiến, đi nhầm cửa, vào nhầm nhà. Lửa tình chưa cháy, sóng dữ đã dâng. Cầm dao xông tới, giết người không chút đắn đo. Giặc cùng đường như thỏ cùng quay lại cắn. Trèo tường vào nhà người, chỉ mong mượn danh người khác. Giật dao, bỏ lại chiếc giày, khiến kẻ có tội thoát lưới mà người vô tội chịu oan. Chốn phong lưu lại sinh ra ác ma này, chốn dịu dàng sao lại có loài quỷ quái thế! Lập tức chém đầu, cho hả lòng người.
Xét Yên Chi: chưa hứa gả cho ai mà đã tới tuổi lấy chồng. Đẹp như tiên trên cung trăng, lẽ ra phải có chồng như ngọc. Thế mà động lòng xuân, mộng mơ tìm bạn, một sợi tơ tình vương vấn, khiến bao ma quỷ kéo đến. Kẻ tranh nhan sắc, mượn cả tên chàng Ngạc. Chiếc giày bị cướp đi, khó giữ được tiếng thơm. Cửa sắt bị gõ, suýt vỡ viên ngọc quý. Hạt đậu tương tư hoá thành mầm tai hoạ, cây cao là người cha bị búa rìu chặt ngã, nhan sắc đáng yêu lại hoá thành dòng nước gây hoạ. May mà giữ mình trong sạch, ngọc trắng không tì vết. Nơi ngục tù khổ sở tranh cãi, mừng là còn có chăn gấm che được. Khen cô đã cự tuyệt ở cửa buồng, vẫn là người tình trong trắng. Cho cô được toại lòng ném quả ngày trước, ấy cũng là chuyện phong nhã. Nay xin nhờ quan huyện sở tại làm người mai mối cho cô.
Án xử xong, xa gần đều truyền tụng.
Từ khi ông Ngô xét xử, Yên Chi mới biết chàng Ngạc bị oan. Gặp nhau dưới công đường, nàng thẹn thùng ngậm lệ, như có lời đau xót tiếc thương mà không nói ra được. Chàng Ngạc cảm tấm lòng quyến luyến của nàng, cũng thương mến tha thiết. Nhưng lại nghĩ nàng xuất thân thấp kém, lại ngày ngày lên công đường bị nghìn người trỏ chỉ, sợ cưới nàng về bị người đời chê cười, ngày đêm vương vấn không biết quyết thế nào. Đến khi bản án ban xuống, lòng chàng mới yên. Quan huyện đứng ra đưa lễ hỏi cho chàng, lại cho kèn trống rước dâu.
Người kể chuyện này có lời bàn: Ghê thay, xét kiện không thể không thận trọng! Dù biết được người này chịu oan thay người khác, mấy ai nghĩ tới người kia cũng có thể bị oan? Việc tuy mờ mịt, ắt có kẽ hở, nhưng không suy xét kỹ lưỡng thì không tìm ra được. Than ôi! Người đời ai cũng phục bậc hiền triết xử án sáng suốt, mà không biết người thợ giỏi đã khổ tâm biết bao. Những kẻ ở trên dân, ngày đánh cờ cho hết giờ, đắp chăn mà nghỉ việc quan, chẳng chịu nhọc lòng chút nào vì nỗi khổ của dân. Đến khi trống nổi mở công đường, ngồi chễm chệ trên cao, kẻ nào kêu la thì lấy gông cùm bắt im. Thảo nào dưới cái chậu úp có biết bao nỗi oan chìm khuất!
Ông Thi Ngu Sơn là thầy của ta. Lúc ông biết tới ta, ta còn là đứa trẻ. Ta thấy ông nâng đỡ học trò, tận tình như sợ chưa đủ. Học trò có chút oan ức, ông đều tìm cách che chở, chưa từng ra oai ở trường học để nịnh kẻ quyền thế. Ông yêu người tài như yêu mạng mình, thật không phải những quan học chính đời sau làm việc lấy lệ có thể sánh được.
— Hết —