Chương 1: Bức thư của Hoàng đế
Ngài công tước Ta-ren-tơ, hay Mác-đô-nan như các chiến hữu cũ thích gọi, như tôi nhận thấy, đang ở trong tâm trạng tồi tệ nhất. Khuôn mặt người Xcốt-len dữ dằn của ông giống như một trong những cái vòng gõ cửa hình mặt quỷ kỳ quái mà người ta vẫn thấy ở khu phố Xanh Giéc-manh. Về sau chúng tôi nghe nói Hoàng đế đã đùa rằng lẽ ra Người đã cử ông xuống phía nam đánh Oen-linh-tơn, nhưng sợ không dám để ông ở gần nơi nghe được tiếng kèn túi quê nhà. Thiếu tá Sác-păng-chi-ê và tôi thấy rõ ông đang âm ỉ giận dữ.
— Lữ đoàn trưởng Giê-ra của kỵ binh nhẹ, — ông nói, với cái giọng của viên hạ sĩ gọi lính mới.
Tôi giơ tay chào.
— Thiếu tá Sác-păng-chi-ê của kỵ binh lựu đạn.
Người bạn đồng hành của tôi đáp lại khi nghe tên mình.
— Hoàng đế có một nhiệm vụ cho các anh.
Không nói thêm lời nào, ông mở toang cửa và báo tên chúng tôi.
Tôi đã thấy Na-pô-lê-ông cưỡi ngựa mười lần thì mới thấy Người đi bộ một lần, và tôi nghĩ Người khôn ngoan khi xuất hiện trước quân sĩ theo kiểu ấy, vì trên lưng ngựa Người trông rất oai. Như lúc này chúng tôi thấy, Người thấp hơn cả một gang tay so với năm trên sáu người đàn ông, ấy vậy mà bản thân tôi cũng chẳng to lớn gì, dù tôi đủ nặng ký so với một kỵ binh nhẹ. Rõ ràng là thân Người quá dài so với đôi chân. Với cái đầu to tròn, đôi vai khom, gương mặt mày râu nhẵn nhụi, Người giống một giáo sư đại học Xoóc-bon hơn là người lính số một của nước Pháp. Mỗi người mỗi sở thích, nhưng tôi cho rằng nếu tôi gắn được lên mặt Người một cặp ria mép kỵ binh nhẹ thật đẹp như của tôi thì cũng chẳng hại gì. Tuy vậy, Người có cái miệng cương nghị, còn đôi mắt thì đáng nể. Tôi đã có một lần thấy đôi mắt ấy giận dữ nhìn tôi, và tôi thà phi một con ngựa kiệt sức xông vào một đội hình bộ binh vuông còn hơn phải đối mặt với chúng lần nữa. Mà tôi đâu phải người dễ nao núng.
Người đang đứng một bên phòng, xa cửa sổ, ngước nhìn tấm bản đồ lớn treo trên tường. Thống chế Béc-chi-ê đứng cạnh, cố tỏ ra thông thái, và đúng lúc chúng tôi bước vào, Na-pô-lê-ông sốt ruột giật lấy thanh kiếm của ông ta, dùng nó chỉ lên bản đồ. Người nói nhanh và nhỏ, nhưng tôi nghe Người nói "thung lũng sông Mơ-dơ", và hai lần nhắc tới "Béc-lin". Khi chúng tôi vào, viên sĩ quan tuỳ tùng bước tới, nhưng Hoàng đế ngăn lại và vẫy chúng tôi tới bên Người.
— Anh chưa được nhận Bắc Đẩu bội tinh, phải không, lữ đoàn trưởng Giê-ra? — Người hỏi.
Tôi đáp là chưa, và định nói thêm rằng đó không phải vì tôi không xứng đáng, thì Người đã cắt ngang theo lối dứt khoát của Người.
— Còn anh, thiếu tá?
— Thưa bệ hạ, chưa ạ.
— Vậy thì giờ cả hai sẽ có cơ hội.
Người dẫn chúng tôi tới tấm bản đồ lớn trên tường, đặt mũi kiếm của Béc-chi-ê lên thành Răng-xơ.
— Tôi sẽ nói thẳng với các anh, như với hai người chiến hữu. Tôi nhớ cả hai đã theo tôi từ trận Ma-ren-gô, phải không?
Người có một nụ cười dễ chịu lạ lùng, thường làm bừng sáng khuôn mặt nhợt nhạt của Người như một thứ ánh nắng lạnh.
— Đây, ở Răng-xơ, là đại bản doanh hiện nay của ta, hôm nay là ngày mười bốn tháng ba. Rất tốt. Đây là Pa-ri, theo đường bộ cách đây dễ đến trăm cây số. Quân của Blu-khơ ở phía bắc, quân của Sơ-vác-xen-bơ ở phía nam.
Người vừa nói vừa dùng kiếm chọc chọc lên bản đồ.
— Giờ thì, — Người nói, — bọn chúng càng tiến sâu vào đất nước, ta càng nghiền nát chúng triệt để. Chúng sắp tiến về Pa-ri. Rất tốt. Cứ để chúng tiến. Anh trai ta, vua Tây Ban Nha, sẽ ở đó với một trăm nghìn quân. Chính là tới chỗ anh ấy mà ta cử các anh đi. Các anh sẽ trao cho anh ấy bức thư này, ta giao cho mỗi người một bản. Thư báo rằng ta sẽ tới ngay, trong hai ngày nữa, với toàn bộ người, ngựa và đại bác để giải vây. Ta phải cho quân sĩ bốn mươi tám giờ để hồi sức. Rồi thẳng tiến Pa-ri! Các anh hiểu chứ?
Chao ôi, giá mà tôi tả được niềm tự hào rực cháy trong lòng tôi khi được vĩ nhân tin cậy tới thế. Khi Người trao thư cho chúng tôi, tôi gõ gót cho đinh thúc ngựa kêu cạch một tiếng, ưỡn ngực, mỉm cười gật đầu để Người biết tôi hiểu Người đang tính gì. Người cũng mỉm cười, và đặt tay một lúc lên vạt áo khoác kỵ binh của tôi. Tôi sẵn lòng đổi nửa số lương còn nợ để mẹ tôi được thấy tôi lúc ấy.
— Ta sẽ chỉ đường cho các anh, — Người nói, quay lại tấm bản đồ. — Lệnh của các anh là cùng đi tới Ba-dốt. Ở đó hai người tách ra, một người đi Pa-ri qua Un-si và Nơ-i-y, người kia đi lên phía bắc qua Bren, Xoa-xông và Xăng-lít. Anh có gì muốn nói không, lữ đoàn trưởng Giê-ra?
Tôi là một người lính thô kệch, nhưng tôi có ngôn từ và ý tưởng. Tôi vừa bắt đầu nói về vinh quang và hiểm hoạ của nước Pháp thì Người đã cắt ngang.
— Còn anh, thiếu tá Sác-păng-chi-ê?
— Nếu thấy đường đi không an toàn, chúng tôi có được chọn đường khác không? — anh ta hỏi.
— Người lính không chọn, người lính tuân lệnh.
Người nghiêng đầu ra hiệu cho chúng tôi lui ra, rồi quay sang Béc-chi-ê. Tôi không biết Người nói gì, nhưng tôi nghe cả hai cùng cười.
Như các bạn có thể nghĩ, chúng tôi chẳng phí chút thời gian nào để lên đường. Nửa tiếng sau chúng tôi đã phi xuống phố chính của Răng-xơ, và chuông điểm mười hai giờ khi chúng tôi đi ngang nhà thờ lớn. Tôi cưỡi con ngựa cái nhỏ lông xám của tôi, Vi-ô-lét, con mà tướng Xê-bát-chi-a-ni từng muốn mua sau trận Đơ-rết-xđen. Đó là con ngựa nhanh nhất trong sáu lữ đoàn kỵ binh nhẹ, chỉ thua con ngựa đua mua từ nước Anh của công tước Rô-vi-gô. Còn Sác-păng-chi-ê thì cưỡi đúng loại ngựa mà một kỵ binh lựu đạn hay kỵ binh thiết giáp hay cưỡi, lưng như cái giường, chân như cột nhà, các bạn hiểu đấy. Bản thân anh ta cũng là một gã to xác vụng về, nên trông họ thành một cặp kỳ cục. Ấy vậy mà với thói tự phụ điên rồ, anh ta liếc mắt đưa tình với các cô gái đang vẫy khăn tay chào tôi từ cửa sổ, lại còn xoắn bộ ria đỏ xấu xí của mình vểnh lên tận mắt, cứ như thể họ chú ý tới anh ta vậy.
Ra khỏi thị trấn, chúng tôi đi ngang doanh trại Pháp, rồi băng qua chiến trường hôm qua, vẫn còn ngổn ngang cả những người lính tội nghiệp của ta lẫn quân Nga. Nhưng trong hai cảnh ấy, doanh trại là cảnh buồn hơn. Quân đội của chúng tôi đang tan dần như băng tuyết. Đội cận vệ vẫn ổn, dù đội cận vệ trẻ đầy những lính mới tuyển. Pháo binh và kỵ binh nặng cũng tốt, giá mà đông hơn, nhưng lính bộ binh cùng các hạ sĩ quan của họ trông như học trò đi với thầy giáo. Mà chúng tôi lại không có quân dự bị. Khi nghĩ rằng có tám mươi nghìn quân Phổ ở phía bắc và một trăm năm mươi nghìn quân Nga, quân Áo ở phía nam, thì người dũng cảm nhất cũng phải lo.
Về phần mình, tôi thú thật đã rơi một giọt nước mắt, cho tới khi nghĩ ra rằng Hoàng đế vẫn ở bên chúng tôi, và ngay sáng hôm ấy Người đã đặt tay lên áo tôi, hứa ban cho tôi huân chương danh dự. Ý nghĩ ấy khiến tôi cất tiếng hát, và tôi thúc Vi-ô-lét chạy nhanh, tới mức Sác-păng-chi-ê phải van tôi thương lấy con lạc đà to xác đang phì phò thở dốc của anh ta. Con đường đã bị bánh pháo nghiền nát thành bùn nhão, vết bánh xe sâu tới nửa mét, nên anh ta nói đúng rằng đó không phải chỗ để phi nước đại.
Tôi chưa bao giờ thân thiết lắm với tay Sác-păng-chi-ê này, và giờ suốt ba chục cây số đường tôi chẳng moi được của anh ta một lời. Anh ta cau mày, cằm gục xuống ngực, như một người đang nặng trĩu suy tư. Đã hơn một lần tôi hỏi anh ta đang nghĩ gì, nghĩ rằng với trí thông minh nhanh nhạy hơn, có lẽ tôi sẽ gỡ rối giúp được. Lần nào anh ta cũng trả lời rằng anh ta đang nghĩ về nhiệm vụ, điều đó khiến tôi ngạc nhiên, vì dù tôi chưa bao giờ đánh giá cao trí thông minh của anh ta, tôi vẫn thấy không thể có ai lại băn khoăn trước một nhiệm vụ đơn giản, đúng chất nhà binh như thế.
Cuối cùng chúng tôi tới Ba-dốt, nơi anh ta sẽ rẽ đường phía nam, còn tôi đường phía bắc. Trước khi chia tay, anh ta xoay nửa người trên yên, nhìn tôi với một vẻ dò hỏi kỳ lạ.
— Anh nghĩ sao về chuyện này, lữ đoàn trưởng? — anh ta hỏi.
— Về chuyện gì?
— Về nhiệm vụ của chúng ta.
— Chắc chắn là rõ ràng rồi.
— Anh nghĩ vậy à? Tại sao Hoàng đế lại kể kế hoạch của Người cho chúng ta?
— Vì Người nhận ra trí thông minh của chúng ta.
Người bạn đồng hành của tôi bật cười theo một kiểu khiến tôi bực mình.
— Tôi hỏi anh nhé, nếu thấy mấy thị trấn ấy đầy lính Phổ thì anh định làm gì? — anh ta hỏi.
— Tôi sẽ tuân lệnh.
— Nhưng anh sẽ bị giết.
— Rất có thể.
Anh ta lại cười, và cười xấc xược tới mức tôi đặt tay lên chuôi kiếm. Nhưng tôi chưa kịp nói cho anh ta biết tôi nghĩ gì về sự ngu ngốc và thô lỗ của anh ta thì anh ta đã quay ngựa, nặng nề phi xuống con đường kia. Tôi nhìn chiếc mũ lông to của anh ta khuất sau đỉnh đồi, rồi tiếp tục lên đường, lấy làm lạ về thái độ của anh ta. Thỉnh thoảng tôi lại đặt tay lên ngực áo, nghe tờ giấy sột soạt dưới ngón tay. Ôi, tờ giấy quý giá của tôi, thứ sẽ biến thành tấm huân chương bạc nhỏ mà tôi khao khát bấy lâu. Suốt quãng đường từ Bren tới Xéc-moa-dơ, tôi cứ nghĩ mẹ tôi sẽ nói gì khi thấy nó.
Tôi dừng lại cho Vi-ô-lét ăn ở một quán trọ ven đường trên sườn đồi không xa Xoa-xông, một nơi có những cây sồi già bao quanh, với nhiều quạ tới mức người ta khó nghe được cả tiếng mình nói. Chính ông chủ quán cho tôi biết thống chế Mác-mông đã rút lui hai ngày trước, và quân Phổ đã vượt sông En. Một tiếng sau, trong ánh chiều đang tắt, tôi thấy hai lính trinh sát của chúng trên ngọn đồi bên phải, rồi khi bóng tối dày lên, cả bầu trời phía bắc lấp lánh ánh lửa của một khu trại.
Khi nghe nói Blu-khơ đã ở đó hai ngày, tôi rất ngạc nhiên rằng Hoàng đế lại không biết vùng đất mà Người ra lệnh cho tôi mang bức thư quý giá đi qua đã bị quân địch chiếm. Dù vậy, tôi nhớ lại giọng Người khi nói với Sác-păng-chi-ê rằng người lính không được chọn mà phải tuân lệnh. Tôi sẽ đi theo con đường Người đã vạch, chừng nào Vi-ô-lét còn nhấc được một cái móng, hay tôi còn đặt được một ngón tay lên dây cương của nó. Suốt từ Xéc-moa-dơ tới Xoa-xông, nơi con đường lên xuống uốn lượn giữa những rừng thông, tôi luôn để súng ngắn sẵn sàng, đai kiếm thắt chặt, phi nhanh ở chỗ đường thẳng, rồi thong thả vòng qua các khúc quanh theo cách chúng tôi đã học ở Tây Ban Nha.
Khi tới trang trại nằm bên phải đường, ngay sau khi qua cây cầu gỗ bắc ngang sông Crơ-dơ, gần chỗ có pho tượng Đức Mẹ lớn, một người đàn bà từ ngoài đồng gọi tôi, bảo rằng quân Phổ đang ở Xoa-xông. Bà nói ngay chiều hôm ấy một toán nhỏ kỵ binh cầm thương của chúng đã vào thị trấn, và trước nửa đêm sẽ có cả một sư đoàn tới. Tôi không chờ nghe hết chuyện, thúc đinh vào Vi-ô-lét, và năm phút sau đã phi nó vào thị trấn.
Ba tên kỵ binh cầm thương đứng ở đầu phố chính, ngựa buộc một bên, đang chuyện gẫu với nhau, mỗi tên ngậm một cái tẩu dài như thanh kiếm của tôi. Tôi thấy rõ chúng dưới ánh sáng từ một cánh cửa mở, còn chúng thì chỉ có thể thấy loáng qua sườn xám của Vi-ô-lét và vạt áo choàng đen của tôi phần phật. Một lát sau tôi lao vút qua một dòng lính đang ùa ra từ một cổng lớn. Vai Vi-ô-lét hất một tên lảo đảo, tôi đâm một tên khác nhưng trượt. Đoàng, đoàng, hai khẩu súng kỵ binh nổ, nhưng tôi đã vút qua khúc quanh của con phố, chẳng nghe cả tiếng đạn rít. Chao ôi, chúng tôi thật tuyệt vời, cả Vi-ô-lét và tôi. Nó rạp mình xuống chạy như con thỏ bị chó săn đuổi, lửa toé ra từ móng. Tôi đứng thẳng trên bàn đạp, vung kiếm. Có kẻ nhảy ra chộp dây cương của tôi. Tôi chém một nhát vào cánh tay hắn, nghe hắn gào lên sau lưng. Hai kỵ binh áp sát tôi. Tôi chém ngã một tên và bỏ xa tên kia. Một phút sau tôi đã ra khỏi thị trấn, phi như bay trên con đường trắng rộng, hai bên là những hàng dương đen. Một lúc tôi còn nghe tiếng vó ngựa lộp cộp phía sau, nhưng nó nhỏ dần, nhỏ dần, cho tới khi tôi không phân biệt nổi với tiếng tim mình đập. Chẳng bao lâu tôi ghìm ngựa lắng nghe, nhưng tất cả im lặng. Chúng đã bỏ cuộc truy đuổi.
Việc đầu tiên tôi làm là xuống ngựa, dắt con ngựa cái vào một khu rừng nhỏ có con suối chảy qua. Ở đó tôi cho nó uống nước, lau chải cho nó, cho nó ăn hai viên đường tẩm rượu cô-nhắc từ bình rượu của tôi. Nó đã kiệt sức sau cuộc rượt đuổi gắt gao, nhưng thật kỳ diệu khi thấy chỉ sau nửa tiếng nghỉ nó đã hồi lại. Khi hai đùi tôi lại kẹp lấy nó, qua độ nảy và nhịp lắc lư của nó, tôi biết rằng nếu tôi không tới được Pa-ri an toàn thì đó không phải lỗi của nó.
Lúc này hẳn tôi đã ở sâu trong phòng tuyến địch, vì tôi nghe một đám lính đang gào một bài hát uống rượu thô lỗ từ một ngôi nhà ven đường, và tôi phải vòng qua cánh đồng để tránh. Một lần khác có hai người bước ra dưới ánh trăng, vì lúc này trời đã không một gợn mây, và quát gì đó bằng tiếng Đức, nhưng tôi cứ thế phi qua mặc kệ họ, và họ không dám bắn, vì kỵ binh nhẹ của chính họ ăn mặc y hệt tôi. Những lúc như thế tốt nhất là đừng để ý gì, và họ sẽ coi mình là một gã điếc.
Trăng đẹp tuyệt, mỗi thân cây đổ một vạch đen ngang đường. Tôi nhìn thấy cả vùng quê rõ như ban ngày, và nó trông thật bình yên, trừ một đám cháy lớn đang bừng bừng đâu đó ở phía bắc. Giữa đêm khuya im ắng, lại biết rằng hiểm nguy đang chờ cả phía trước lẫn phía sau, cảnh tượng đám cháy lớn xa xa ấy thật ấn tượng và đáng sợ. Nhưng tôi đâu dễ u ám, vì tôi đã thấy quá nhiều điều lạ lùng, nên tôi khẽ ngâm nga một điệu nhạc qua kẽ răng và nghĩ tới cô Li-dét bé nhỏ, người mà có lẽ tôi sẽ gặp ở Pa-ri. Đầu tôi đang đầy hình bóng nàng thì, vừa phi nước kiệu qua một khúc quanh, tôi đâm thẳng vào nửa tá kỵ binh nặng Đức đang ngồi quanh một đống lửa cành khô bên vệ đường.
Tôi là một người lính xuất sắc. Tôi nói thế không phải vì tôi thiên vị bản thân, mà vì tôi thật sự là như vậy. Tôi có thể cân nhắc mọi khả năng trong chớp mắt, và quyết định chắc chắn như thể đã nghiền ngẫm cả tuần. Lúc ấy tôi thấy ngay như một tia chớp rằng dù thế nào tôi cũng sẽ bị truy đuổi, trên một con ngựa đã chạy một chặng dài gần năm chục cây số. Nhưng bị đuổi về phía trước vẫn hơn bị đuổi ngược lại. Trong đêm trăng này, với những con ngựa còn khoẻ phía sau, đằng nào tôi cũng phải liều. Nhưng nếu cắt đuôi được chúng, tôi muốn đó là ở gần Xăng-lít hơn là gần Xoa-xông.
Tất cả loé lên trong đầu tôi như theo bản năng, các bạn hiểu chứ. Mắt tôi vừa chạm những khuôn mặt râu ria dưới mũ sắt bằng đồng thì gót thúc ngựa của tôi đã chạm vào Vi-ô-lét, và nó lao đi với tiếng vó dồn dập như hồi trống xung phong. Ôi, tiếng la hét, tiếng chạy rầm rập, tiếng dậm chân phía sau chúng tôi! Ba tên nổ súng, ba tên nhảy lên ngựa. Một viên đạn đập vào phần sau yên ngựa của tôi, kêu như gậy gõ vào cửa. Vi-ô-lét chồm lên điên cuồng, tôi tưởng nó bị thương, nhưng đó chỉ là một vết sượt phía trên khớp cổ chân trước bên trái. Ôi, con ngựa nhỏ thân yêu, tôi yêu nó biết bao khi cảm thấy nó bắt vào nhịp phi dài, nhẹ nhàng quen thuộc, bốn vó gõ như cặp phách của một cô gái Tây Ban Nha. Tôi không kìm được mình. Tôi quay người trên yên, la hét, gào lên: "Hoàng đế muôn năm!" Tôi hét lên và cười vang trước một tràng chửi rủa vọng lại phía tôi.
Nhưng chuyện vẫn chưa xong. Nếu nó còn sung sức, cứ năm dặm nó có thể bỏ xa chúng một dặm. Giờ nó chỉ giữ được khoảng cách, nhỉnh hơn chút ít. Trong bọn chúng có một tên, một sĩ quan trẻ măng, cưỡi ngựa tốt hơn những tên khác. Mỗi sải ngựa hắn lại vượt lên. Sau hắn chừng hai trăm mét là hai tên lính, nhưng mỗi lần ngoái lại tôi đều thấy khoảng cách giữa họ ngày càng xa. Ba tên còn lại, những tên đã dừng lại bắn, tụt lại rất xa phía sau.
Con ngựa của viên sĩ quan màu hồng nâu, một con ngựa đẹp, dù chẳng thể sánh với Vi-ô-lét. Nhưng nó là một con vật khoẻ, và tôi thấy rằng chỉ vài dặm nữa sự sung sức của nó có thể quyết định. Tôi chờ cho tới khi cậu trai đã vượt xa đồng đội, rồi cho ngựa chậm lại một chút, một chút xíu thôi, để cậu ta tưởng mình thật sự sắp đuổi kịp tôi. Khi cậu ta tới gần trong tầm súng ngắn, tôi rút súng, lên cò, ngoái đầu qua vai xem cậu ta sẽ làm gì. Cậu ta không định bắn, và tôi sớm hiểu vì sao. Cậu bé ngốc nghếch đã tháo súng ra khỏi bao khi cắm trại qua đêm. Giờ cậu ta vung kiếm về phía tôi, gầm lên một lời đe doạ nào đó. Có vẻ cậu ta không hiểu rằng mình đang nằm trong tay tôi. Tôi cho Vi-ô-lét chậm lại cho tới khi giữa cái đuôi xám và cái mõm nâu chỉ còn chưa tới một cây thương dài.
— Đầu hàng đi! — cậu ta hét lên bằng tiếng Pháp.
— Tôi phải khen tiếng Pháp của ngài, — tôi nói, gác nòng súng lên cánh tay cầm cương, cách tôi luôn thấy tốt nhất khi bắn trên lưng ngựa.
Tôi nhắm vào mặt cậu ta, và ngay cả dưới ánh trăng tôi cũng thấy cậu ta tái mét khi hiểu rằng mình đã hết đường. Nhưng đúng lúc ngón tay tôi bóp cò, tôi nghĩ tới mẹ cậu ta, và tôi bắn viên đạn vào vai con ngựa. Tôi e là cậu ta bị đau khi ngã, vì đó là một cú ngã khủng khiếp, nhưng tôi còn phải nghĩ tới bức thư của mình, nên lại thúc con ngựa cái phi nước đại.
Nhưng chẳng dễ gì cắt đuôi được bọn cướp ấy. Hai tên lính chẳng thèm bận tâm tới viên sĩ quan trẻ của chúng, coi như cậu ta là lính mới bị ngã ngựa ở trường tập. Chúng để mặc cậu ta cho những tên phía sau, rồi tiếp tục phi rầm rập đuổi theo tôi. Tôi đã ghìm ngựa trên đỉnh một ngọn đồi, tưởng sẽ không còn nghe thấy chúng nữa, nhưng thề có trời, tôi sớm thấy chẳng còn thì giờ mà la cà, nên lại phi đi, con ngựa hất bờm còn tôi hất chiếc mũ cao, để tỏ cho thấy chúng tôi nghĩ gì về hai tên kỵ binh nặng định bắt một kỵ binh nhẹ. Nhưng đúng lúc ấy, ngay khi tôi đang bật cười với ý nghĩ đó, tim tôi như ngừng đập, vì ở cuối con đường trắng dài có một khối kỵ binh đen sẫm đang chờ đón tôi. Với một người lính trẻ, có lẽ đó chỉ là bóng cây, nhưng với tôi đó là một đội kỵ binh nhẹ, và dù quay về phía nào, cái chết dường như cũng đang chờ tôi.
Phía sau tôi là kỵ binh nặng, phía trước là kỵ binh nhẹ. Kể từ Mát-xcơ-va tôi chưa từng lâm vào cảnh hiểm nghèo như thế. Nhưng vì danh dự của lữ đoàn, tôi thà bị một kỵ binh nhẹ chém ngã còn hơn bị một kỵ binh nặng. Vì thế tôi không hề ghìm cương hay ngập ngừng một giây nào, mà thả lỏng cho Vi-ô-lét phi. Tôi nhớ là tôi đã cố cầu nguyện trong lúc phi, nhưng tôi hơi lâu không thực hành việc ấy, và những lời duy nhất tôi nhớ được là bài cầu cho trời đẹp mà chúng tôi vẫn đọc ở trường vào tối trước kỳ nghỉ. Thế cũng còn hơn không, và tôi đang lầm rầm đọc thì bỗng nghe tiếng Pháp phía trước. Ôi, lạy Chúa, niềm vui xuyên qua tim tôi như một viên đạn súng hoả mai. Đó là quân ta, những chàng trai lém lỉnh thân yêu của quân đoàn Mác-mông. Hai tên kỵ binh nặng của tôi quay ngoắt lại, phi bán sống bán chết, ánh trăng lấp loáng trên mũ đồng của chúng, còn tôi thong thả cho ngựa đi nước kiệu tới chỗ bạn bè, chẳng vội vã gì, vì tôi muốn họ hiểu rằng tuy một kỵ binh nhẹ có thể chạy, bản tính anh ta không phải là chạy thật nhanh. Ấy vậy mà tôi e rằng hai mạng sườn phập phồng và cái mõm lấm tấm bọt của Vi-ô-lét đã tố cáo vẻ ung dung của tôi.
Người dẫn đầu đội quân lại chính là lão Bu-vê, người tôi đã cứu ở trận Lai-xích! Khi thấy tôi, đôi mắt nhỏ hồng hồng của lão rưng rưng nước mắt, và quả thật trước niềm vui của lão, tôi cũng không cầm được vài giọt lệ. Tôi kể cho lão nghe về nhiệm vụ của mình, nhưng lão bật cười khi tôi nói tôi phải đi qua Xăng-lít.
— Quân địch ở đó, — lão nói. — Anh không đi được đâu.
— Tôi thích đi tới chỗ có quân địch hơn, — tôi đáp.
— Nhưng sao không đi thẳng tới Pa-ri với công văn của anh? Sao lại chọn đi qua đúng cái nơi mà anh gần như chắc chắn sẽ bị bắt hoặc bị giết?
— Người lính không chọn, người lính tuân lệnh, — tôi nói, đúng như tôi đã nghe Na-pô-lê-ông nói.
Lão Bu-vê cười khò khè, cho tới khi tôi phải xoắn ria mép, nhìn lão từ đầu tới chân theo một kiểu khiến lão phải tỉnh lại.
— Thôi được, — lão nói, — tốt nhất anh đi cùng chúng tôi, vì tất cả chúng tôi đều đang tới Xăng-lít. Lệnh của chúng tôi là trinh sát nơi ấy. Một đội kỵ binh cầm thương Ba Lan của tướng Pô-ni-a-tốp-xki đang đi trước chúng tôi. Nếu anh nhất định phải đi qua đó, có lẽ chúng tôi đi cùng anh được.
Thế là chúng tôi lên đường, leng keng loảng xoảng giữa đêm yên tĩnh, cho tới khi đuổi kịp những người Ba Lan, tất cả đều là những người lính già dặn tuyệt vời, dù hơi nặng so với ngựa của họ. Nhìn họ thật thích mắt, vì nếu thuộc lữ đoàn của chính tôi thì họ cũng không thể đường hoàng hơn. Chúng tôi cùng đi cho tới khi, lúc tờ mờ sáng, thấy ánh đèn của Xăng-lít. Một bác nông dân đang đánh xe tới, và qua bác chúng tôi biết được tình hình ở đó.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám