— Mẹ ơi, con vừa thấy một người kỳ lạ lắm, — một hôm, cậu bé nói khi bước vào một túp lều ở xứ Lắp-pi, tay ôm bó củi cậu được sai đi nhặt.
— Thế à con, người ấy trông thế nào? — người mẹ hỏi, vừa cởi chiếc áo da cừu của con ra giũ ngoài bậc cửa.
— Dạ, con cúi nhặt củi mỏi quá, đang dựa vào gốc cây nghỉ thì nghe tiếng sột soạt giữa đám lá khô. Con tưởng có khi là sói, nên đứng im thin thít. Nhưng một lát sau có một người đàn ông cao lớn đi qua, ôi, cao gấp đôi bố, râu đỏ dài, mặc áo chẽn đỏ thắt lưng bạc, bên thắt lưng giắt một con dao chuôi bạc. Theo sau ông ta là một con chó to, trông còn khoẻ hơn sói, hơn cả gấu nữa. Nhưng sao mẹ tái mặt thế?
— Đó là Xta-lô, — người mẹ đáp, giọng run run. — Xta-lô ăn thịt người! Con nấp đi là phải, không thì có khi chẳng bao giờ về được nữa. Nhưng con nhớ này, hắn tuy cao lớn khoẻ mạnh thế, nhưng ngốc lắm. Đã có khối người Lắp-pi thoát khỏi tay hắn nhờ giở mẹo khôn.
Hai mẹ con nói chuyện ấy chưa được bao lâu thì trong rừng bắt đầu có tiếng xì xào rằng các con của một ông lão tên Pát-tô lần lượt biến mất, chẳng ai biết đi đâu. Người cha bất hạnh lùng sục khắp vùng hàng dặm quanh đó mà chẳng tìm thấy lấy một chiếc giày, một chiếc khăn để biết các con đã đi qua đâu. Cuối cùng, một cậu bé đến báo tin đã thấy Xta-lô nấp sau một cái giếng, nơi bọn trẻ vẫn hay chơi. Cậu bé nấp sau một bụi cây chờ xem chuyện gì xảy ra. Một lát sau, cậu để ý thấy Xta-lô đã đặt một cái bẫy xảo quyệt trên lối mòn dẫn ra giếng. Ai vấp phải sẽ lăn xuống nước chết đuối.
Đang nhìn, cậu thấy cô con gái út của Pát-tô vui vẻ chạy xuống lối mòn, cho tới khi chân cô vướng vào mấy sợi dây giăng ngang chỗ dốc nhất. Cô trượt chân ngã, và chỉ một khắc sau đã lăn xuống nước, ngay trong tầm tay Xta-lô.
Nghe chuyện ấy, Pát-tô giận sôi lên, thề sẽ báo thù. Ông lập tức lấy chiếc áo lông cũ treo trên móc mặc vào, đi vào rừng. Tới lối mòn dẫn ra giếng, ông vội nhìn quanh cho chắc không có ai trông thấy, rồi nằm xuống như thể đã vướng bẫy lăn xuống giếng, nhưng cẩn thận giữ đầu ở trên mặt nước.
Chẳng bao lâu ông nghe tiếng lá sột soạt, và Xta-lô hiện ra, rẽ bụi cây đi tới xem có kiếm được bữa tối không. Vừa thoáng thấy đầu Pát-tô dưới giếng, hắn cười ầm lên:
— Ha! Ha! Lần này là lão già ngốc! Không biết ăn có ngon không đây?
Hắn lôi Pát-tô lên khỏi giếng, quăng lên vai vác về nhà. Rồi hắn buộc một sợi dây quanh người ông, treo lên trên bếp lửa để nướng, còn hắn thì ra trước cửa làm nốt cái hòm định dùng đựng thịt Pát-tô khi chín. Chẳng mấy chốc cái hòm đã gần xong, chỉ còn phải đẽo thêm một chút bằng rìu. Nhưng phần việc ấy làm trong nhà dễ hơn, nên hắn gọi một đứa con trai đang nằm khểnh trong nhà mang rìu ra.
Gã con trai tìm khắp nơi mà không thấy cái rìu, vì một lẽ rất đơn giản là Pát-tô đã khéo nhặt được nó, giấu trong áo.
— Đồ ngu! Mày được cái tích sự gì? — cha gã giận dữ càu nhàu.
Hắn sai hết đứa con này đến đứa con khác đi lấy rìu, nhưng chúng cũng chẳng khá hơn đứa đầu.
— Chắc ta phải tự vào lấy vậy! — Xta-lô nói, đặt cái hòm sang một bên.
Nhưng trong lúc ấy, Pát-tô đã tuột khỏi móc, nấp sau cánh cửa. Xta-lô vừa bước vào, người tù của hắn đã giơ rìu lên, chỉ một nhát là đầu con yêu tinh lăn lông lốc trên đất. Mấy đứa con hắn thấy thế sợ quá, bỏ chạy sạch.
Cứ như thế, Pát-tô đã báo thù cho những đứa con đã chết của mình.
Nhưng Xta-lô tuy đã chết, ba đứa con trai hắn vẫn còn sống, mà cũng chẳng ở xa lắm. Chúng chạy tới chỗ mẹ, lúc ấy đang chăn tuần lộc trên đồng cỏ, kể rằng do một phép thuật gì đó chúng chẳng hiểu, đầu cha chúng lăn khỏi thân, và chúng sợ quá, sợ sẽ có chuyện gì khủng khiếp xảy đến với mình, nên chạy tới mẹ tìm chỗ trú. Mụ yêu tinh chẳng nói gì. Từ lâu mụ đã biết các con mình ngốc đến mức nào, nên mụ chỉ sai chúng ra vắt sữa tuần lộc, còn mụ quay về nhà kia chôn xác chồng.
Cách túp lều trên đồng cỏ ba ngày đường, có hai anh em nhà Xốt-nô sống trong một căn nhà nhỏ với cô em gái là Li-ma. Cô trông một đàn tuần lộc lớn trong khi hai anh đi săn. Dạo gần đây người ta xì xào với nhau rằng ba anh em nhà Xta-lô hay xuất hiện trên đồng cỏ, nhưng hai anh em Xốt-nô chẳng bận tâm, vì mối nguy có vẻ còn xa lắm.
Nhưng khốn thay, một hôm, khi Li-ma ở nhà một mình, ba gã Xta-lô kéo xuống bắt cô cùng đàn tuần lộc về nhà chúng. Vùng ấy hoang vắng lắm, có lẽ chẳng ai biết cô bị đưa đi hướng nào, nếu cô không khéo buộc một cuộn chỉ vào tay nắm cánh cửa sau nhà, rồi để cuộn chỉ kéo lê theo mình. Dĩ nhiên cuộn chỉ không đủ dài tới tận nơi, nhưng nó nằm ở mép một vệt đường trên tuyết dẫn thẳng tới nhà bọn Xta-lô.
Khi hai anh đi săn về, thấy cả túp lều lẫn chuồng trại đều trống trơn. Họ gọi to:
— Li-ma! Li-ma!
Nhưng chẳng có tiếng ai đáp lại. Hai anh em sục sạo khắp nơi, mong em gái có để lại manh mối nào dẫn đường. Cuối cùng mắt họ bắt gặp sợi chỉ nằm trên tuyết, và họ lên đường lần theo.
Đi mãi, đi mãi, khi sợi chỉ hết, hai anh em biết chỉ còn một ngày đường nữa là tới chỗ ở của bọn Xta-lô. Dĩ nhiên họ không dám đường hoàng đi tới, vì bọn Xta-lô khoẻ như người khổng lồ, lại có những ba đứa. Thế là hai anh em Xốt-nô trèo lên một cái cây to rậm rạp vươn cành ra trên một cái giếng.
— Có khi em mình sẽ bị sai ra đây múc nước, — họ bảo nhau.
Nhưng mãi tới khi trăng lên, cô em mới ra. Khi cô thả gàu xuống giếng, đám lá cây như thì thầm:
— Li-ma! Li-ma!
Cô gái giật mình ngước lên, nhưng chẳng thấy gì. Một khắc sau, tiếng nói lại vang lên:
— Cẩn thận, đừng để ý gì, cứ múc nước cho đầy thùng, nhưng vừa múc vừa nghe cho kỹ. Bọn anh sẽ bảo em phải làm gì để em thoát được, và cứu được cả đàn tuần lộc nữa.
Li-ma bèn cúi xuống giếng thấp hơn trước, làm ra vẻ bận rộn hơn bao giờ hết.
— Em biết đấy, — người anh nói, — hễ Xta-lô thấy có thứ gì rơi vào đồ ăn là hắn chẳng ăn một miếng nào, mà vứt cho chó. Thế nên, khi nồi đã treo trên bếp được một lúc, canh gần chín, em hãy cời khúc củi lên cho ít tro bay vào nồi. Xta-lô sẽ để ý ngay, gọi em bảo đổ hết cho chó. Nhưng em hãy mang thẳng tới cho bọn anh, vì đã ba ngày nay bọn anh chưa được miếng ăn miếng uống nào. Bây giờ em chỉ cần làm có thế.
Li-ma xách thùng nước vào nhà, làm đúng như các anh dặn. Hai anh đói quá, ăn ngấu nghiến không nói một lời. Nhưng khi trong nồi chẳng còn gì, người anh cả nói:
— Nghe kỹ những gì anh dặn đây. Gã Xta-lô cả ăn xong bữa tối mới nấu sẽ đi ngủ, và hắn ngủ say tới mức đến phù thuỷ cũng chẳng gọi dậy được. Cách một dặm cũng nghe tiếng hắn ngáy. Lúc ấy em vào phòng hắn, kéo tấm áo choàng sắt hắn đắp trên người ra, đặt lên bếp lửa cho tới khi nó gần đỏ rực. Làm xong thì ra gặp bọn anh, bọn anh sẽ bảo tiếp.
— Em sẽ làm theo mọi điều các anh dặn, — Li-ma đáp. Và cô làm đúng như thế.
Tình cờ đúng tối ấy, bọn Xta-lô lùa mấy con tuần lộc từ đồng cỏ về, buộc vào tường nhà để mai giết làm bữa trưa cho tiện. Hai anh em Xốt-nô đã thấy chúng làm thế, biết chỗ buộc mấy con vật. Thế là nửa đêm, khi mọi vật đã lặng im, họ trèo xuống khỏi cây, túm lấy sừng những con tuần lộc, khoá sừng chúng vào nhau. Mấy con vật hoảng sợ, bắt đầu kêu rống, đá lung tung như đang đánh nhau. Tiếng ồn lớn đến nỗi cả gã Xta-lô cả cũng thức giấc, chuyện chưa từng xảy ra bao giờ. Hắn nhổm dậy trên giường, gọi thằng em út ra gỡ đám tuần lộc ra, không thì chúng húc nhau chết mất.
Gã Xta-lô út làm theo, ra khỏi nhà. Nhưng gã vừa bước qua cửa đã bị một anh Xốt-nô đâm trúng tim, ngã xuống không kịp kêu một tiếng. Hai anh em lại quay ra quấy đám tuần lộc, tiếng ồn lại lớn như trước, và Xta-lô lại thức giấc lần thứ hai.
— Thằng ranh không gỡ nổi lũ tuần lộc à, — hắn kêu thằng em thứ hai. — Ra giúp nó đi, không thì tao chẳng ngủ được.
Thằng em đi ra, và vừa ra khỏi nhà đã bị lưỡi gươm của anh cả nhà Xốt-nô giết chết ngay tức khắc. Xta-lô nằm trên giường chờ thêm một lúc cho yên, nhưng tiếng sừng tuần lộc vẫn lách cách ầm ĩ như cũ. Hắn giận dữ dậy khỏi giường, lẩm bẩm:
— Lạ thật, chúng nó không tự gỡ ra được. Mà chẳng ai giúp được chúng nó, thì chắc mình phải ra gỡ vậy.
Hắn dụi mắt, đứng lên trên sàn, vươn hai cánh tay khổng lồ, ngáp một cái rung cả tường nhà. Hai anh em Xốt-nô nghe thấy ở dưới, mỗi người đứng chặn một cửa, một người ở cửa lớn, một người ở cửa nhỏ phía sau, vì không biết kẻ thù sẽ ra cửa nào.
Xta-lô đưa tay định lấy tấm áo choàng sắt trên giường, chỗ nó vẫn luôn nằm, nhưng chẳng thấy áo đâu. Hắn thắc mắc nó ở đâu, ai đã dời nó đi. Sục khắp các phòng, cuối cùng hắn thấy nó treo trên bếp lửa trong nhà bếp. Nhưng vừa chạm tay vào, hắn đã bị bỏng nặng, đành bỏ đó, chẳng mặc gì, chỉ cầm một cây gậy, đi ra cửa sau.
Người em nhà Xốt-nô đã đứng sẵn chờ. Xta-lô vừa bước qua ngưỡng cửa, anh đã giáng một đòn vào đầu hắn, khiến hắn ngã lăn ra đánh rầm một tiếng, không bao giờ cựa quậy được nữa. Hai anh em chẳng bận tâm tới hắn, vội lột quần áo của hai gã Xta-lô em mặc vào người mình. Rồi họ ngồi yên chờ trời sáng, để hỏi mẹ bọn Xta-lô xem kho báu giấu ở đâu.
Vừa có tia nắng đầu tiên, người em nhà Xốt-nô đi lên gác, vào phòng mụ già. Mụ đã dậy, áo quần chỉnh tề, đang ngồi bên cửa sổ đan len. Chàng trai rón rén đi vào, thu mình ngồi xuống sàn, gối đầu lên lòng mụ. Lặng im một lúc, rồi chàng khẽ thì thầm:
— Mẹ yêu ơi, mẹ nói con nghe, anh cả con giấu của cải ở đâu?
— Hỏi gì lạ thế! Con phải biết chứ, — mụ đáp.
— Không, con quên mất rồi, trí nhớ con kém quá.
— Nó đào một cái hố dưới bậc cửa mà giấu ở đấy, — mụ nói.
Lại im lặng một lúc.
Một lát sau, chàng Xốt-nô lại hỏi:
— Thế tiền của anh hai con để đâu ạ?
— Cả cái ấy con cũng không biết à? — bà mẹ ngạc nhiên kêu lên.
— Ồ, có, ngày xưa con biết. Nhưng từ hôm con ngã đập đầu, con chẳng nhớ gì nữa.
— Ở sau cái lò, — mụ đáp.
Rồi lại im lặng.
— Mẹ ơi, mẹ yêu ơi, — cuối cùng chàng trai nói, — con gần như chẳng dám hỏi mẹ, nhưng dạo này con ngốc đi thật rồi. Con giấu tiền của chính con ở đâu nhỉ?
Đến câu hỏi này thì mụ già nổi cơn thịnh nộ, thề rằng nếu tìm được cái roi, mụ sẽ quất cho trí nhớ của nó quay về. May thay, không có cái roi nào trong tầm tay mụ. Chàng Xốt-nô dỗ dành một lúc, mụ lại vui vẻ, và cuối cùng mụ bảo rằng gã Xta-lô út đã chôn kho báu của nó ngay dưới chỗ mụ đang ngồi.
— Bà mẹ yêu quý ơi, — Li-ma lên tiếng. Cô đã vào lúc nào không ai thấy, đang quỳ trước bếp lửa. — Bà mẹ yêu quý ơi, bà có biết bà vừa nói chuyện với ai không?
Mụ già giật mình, nhưng điềm tĩnh đáp:
— Chắc là một đứa nhà Xốt-nô chứ gì?
— Mụ đoán đúng rồi đấy, — Li-ma đáp.
Mẹ bọn Xta-lô nhìn quanh tìm cây gậy sắt mụ vẫn dùng để giết người, nhưng gậy không có ở đó, vì Li-ma đã bỏ nó vào lửa.
— Gậy sắt của ta đâu? — mụ già hỏi.
— Kia kìa! — Li-ma đáp, chỉ vào ngọn lửa.
Mụ già chồm tới chộp lấy cây gậy, nhưng quần áo mụ bắt lửa, và chỉ mấy phút sau mụ đã cháy thành tro.
Thế là hai anh em Xốt-nô tìm được kho báu, mang về nhà cùng cô em gái và đàn tuần lộc, trở thành những người giàu nhất xứ Lắp-pi.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích