Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Lương tâm trong nghệ thuật

của O. Henry

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 11.820 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi chưa bao giờ giữ được ông bạn cộng…
  2. 2:19"Tôi đang nghĩ," En-đi nói, "tới một chuyến đi…
  3. 4:41"En-đi," tôi nói, khi bọn tôi lang thang trong…
  4. 6:52Lúc tôi gặp, ông ta vừa thắng một tay…
  5. 9:06"Ồ, thì," tôi nói, "nghe chỉ như suối chảy…
  6. 10:44En-đi đã có sẵn kế hoạch, và tôi sẽ…
  7. 11:53Ở đó tôi được biết ông là chủ nhân…
  8. 13:15"Sao?" cậu hỏi.

— Tôi chưa bao giờ giữ được ông bạn cộng sự En-đi Tắc-cơ của tôi trong khuôn khổ đạo đức chính đáng của nghề lừa đảo thuần tuý, — một hôm Giép Pi-tơ bảo tôi.

En-đi có quá nhiều trí tưởng tượng nên không lương thiện nổi. Cậu ấy hay nghĩ ra những mánh kiếm tiền gian trá và tài chính cao siêu đến mức điều lệ của một hệ thống chiết khấu đường sắt cũng chẳng cho phép.

Còn tôi, tôi chưa bao giờ tin vào chuyện lấy đô-la của ai mà không đưa lại cho người ta một thứ gì đó, một món trang sức mạ vàng, ít hạt giống rau, chai thuốc xoa đau lưng, mấy tờ cổ phiếu, hộp xi đánh bếp, hay một cú cốc vào đầu, để người ta có cái mà trình ra cho đồng tiền của mình. Chắc tổ tiên tôi xa xưa là người Niu Inh-lơn, và tôi thừa hưởng được chút ít nỗi sợ cảnh sát kiên định, rắn rỏi của họ.

Nhưng cây gia phả nhà En-đi thì thuộc loại khác. Tôi nghĩ cậu ấy chẳng truy được dòng dõi mình xa hơn một công ty cổ phần.

Một mùa hè, khi bọn tôi đang ở miền Trung Tây, xuôi theo thung lũng sông Ô-hai-ô với một lô album ảnh gia đình, thuốc bột đau đầu và thuốc diệt gián, En-đi nổi lên một trong những ý tưởng tài chính cao siêu và có thể bị truy tố của cậu ấy.

"Giép," cậu ấy nói, "tôi nghĩ mình nên bỏ đám dân trồng củ cải này đi mà để tâm tới cái gì béo bở và sinh sôi hơn. Cứ đi rình mấy anh nhà quê này để moi mấy đồng tiền bán trứng của họ thì thiên hạ xếp mình vào hạng thợ săn tép riu mất. Hay là ta lao vào chốn hiểm trở của xứ sở nhà chọc trời mà cắn vào ngực mấy con tuần lộc đực to xác?"

"Ừ thì," tôi nói, "cậu biết tính khí riêng của tôi rồi. Tôi thích kiểu làm ăn ngay thẳng, không phi pháp, như bọn mình đang làm. Khi lấy tiền, tôi muốn để lại trong tay người kia một vật cụ thể nào đó cho họ ngắm, để họ khỏi để ý dấu chân tôi, dù chỉ là cái Nhẫn Lừa Hôn Ngộ Nghĩnh chuyên phun nước hoa vào mắt bạn. Nhưng nếu cậu có ý gì mới, En-đi," tôi nói, "thì cho tôi xem thử. Tôi chẳng gắn bó với mấy mánh vặt tới mức từ chối cái gì tốt hơn về khoản trợ cấp đâu."

"Tôi đang nghĩ," En-đi nói, "tới một chuyến đi săn nho nhỏ, không tù và, không chó săn, không máy ảnh, giữa bầy đàn lớn của giống vua Mi-đát châu Mỹ, thường gọi là các nhà triệu phú Pít-xbơ."

"Ở New York à?" tôi hỏi.

"Không, thưa ông," En-đi nói, "ở Pít-xbơ. Đó là môi trường sống của chúng. Chúng không thích New York. Thỉnh thoảng chúng tới đó chỉ vì người ta mong chúng tới."

"Một nhà triệu phú Pít-xbơ ở New York cũng như con ruồi trong tách cà phê nóng, nó thu hút sự chú ý và lời bàn tán, nhưng nó chẳng sướng gì. New York chế giễu hắn vì đã vung quá nhiều tiền trong cái thành phố toàn kẻ lén lút, kẻ hợm hĩnh và kẻ khinh người ấy. Sự thật là ở đó hắn chẳng tiêu gì cả. Có lần tôi thấy một bản kê chi phí cho chuyến đi mười ngày tới Thành phố Phô Trương của một tay Pít-xbơ có mười lăm triệu đô-la. Hắn ghi thế này: Vé tàu đi về, hai mươi mốt đô-la. Xe ngựa từ ga tới khách sạn và ngược lại, hai đô-la. Tiền khách sạn, năm đô-la một ngày, năm mươi đô-la. Tiền boa, năm nghìn bảy trăm năm mươi đô-la. Tổng cộng năm nghìn tám trăm hai mươi ba đô-la."

"Tiếng nói của New York là thế đấy," En-đi nói tiếp. "Cả thành phố chẳng qua là một gã bồi trưởng. Anh boa nó nhiều quá là nó ra đứng cạnh cửa giễu anh với thằng bé giữ mũ. Khi một tay Pít-xbơ muốn tiêu tiền và vui chơi, hắn ở nhà. Mình sẽ tới đó mà tóm hắn."

Thôi, để kể ngắn một câu chuyện vốn đã đặc, tôi với En-đi giấu thuốc diệt sâu, thuốc bột hạ sốt với album ảnh trong hầm nhà một người bạn, rồi lên đường tới Pít-xbơ. En-đi chẳng có bản kế hoạch gian trá và bạo lực nào được soạn sẵn, nhưng cậu ấy luôn rất tin rằng bản chất vô đạo đức của mình sẽ vươn lên đáp ứng mọi dịp may hiện ra.

Để chiều theo ý tôi về chuyện tự bảo toàn và ngay thẳng, cậu hứa rằng nếu tôi có tham gia tích cực và dính tội vào vụ làm ăn nhỏ nào bọn tôi bày ra, thì phải có một thứ gì đó có thật, mà xúc giác, thị giác, vị giác hay khứu giác cảm nhận được, để trao cho nạn nhân đổi lấy tiền, cho lương tâm tôi được yên. Sau đó tôi thấy dễ chịu hơn và hăng hái dấn vào trò bẩn hơn.

"En-đi," tôi nói, khi bọn tôi lang thang trong khói dọc con đường rải xỉ mà người ta gọi là phố Xmít-phin, "cậu đã tính xem mình sẽ làm quen với mấy ông vua than cốc, mấy tay vắt gang thỏi này bằng cách nào chưa? Không phải tôi chê giá trị bản thân hay cách cư xử trong phòng khách của mình, hay tài dùng dĩa ăn ô-liu và dao cắt bánh," tôi nói, "nhưng muốn lọt vào phòng khách của mấy ông hút xì-gà rẻ tiền ấy liệu có khó hơn cậu tưởng không?"

"Nếu có trở ngại gì," En-đi nói, "thì đó là sự tinh tế và văn hoá bẩm sinh của chính mình. Các nhà triệu phú Pít-xbơ là một tập thể tuyệt vời gồm những người giản dị, hết lòng, khiêm tốn và bình dân.

Họ thô lỗ nhưng cư xử thì bất lịch sự, và dù tính nết ồn ào, chưa được mài giũa, nhưng bên dưới tất cả, họ có rất nhiều cái vô lễ và khiếm nhã. Hầu hết bọn họ đều xuất thân từ chỗ tối tăm," En-đi nói, "và sẽ còn sống trong chỗ tối tăm ấy cho tới khi thành phố chịu lắp máy hút khói. Nếu mình cư xử giản dị, tự nhiên, đừng đi quá xa mấy quán rượu, và cứ làm ồn như thể đang đòi đánh thuế nhập khẩu ray thép, thì sẽ chẳng khó khăn gì để làm quen với dăm ông trong số họ."

Thế rồi tôi với En-đi đi lang thang khắp thành phố ba bốn ngày cho quen đường quen lối. Bọn tôi nhận mặt được vài nhà triệu phú.

Có một ông hay đỗ ô-tô trước khách sạn bọn tôi, cho người mang ra một chai sâm-banh. Anh bồi mở nút xong là ông dốc ngược lên miệng tu thẳng từ chai. Thế đủ biết trước khi giàu ông làm nghề thổi thuỷ tinh.

Một buổi tối En-đi không về khách sạn ăn tối. Khoảng mười một giờ cậu vào phòng tôi.

"Câu được một con rồi, Giép," cậu nói. "Mười hai triệu. Dầu mỏ, nhà máy cán thép, bất động sản và khí đốt thiên nhiên. Ông ta tốt lắm, chẳng làm bộ làm tịch gì. Toàn bộ tiền của kiếm được trong năm năm gần đây. Giờ ông ta đang thuê giáo sư dạy cho học vấn, nào nghệ thuật, văn chương, nào cách ăn mặc, đại loại thế.

Lúc tôi gặp, ông ta vừa thắng một tay bên Tập đoàn Thép vụ cá cược mười nghìn đô-la rằng hôm nay ở các nhà máy cán thép A-lơ-ghê-ni sẽ có bốn người tự tử. Thế là ai có mặt quanh đó cũng phải tới uống rượu ông ta đãi. Ông ta mến tôi, mời tôi đi ăn tối. Bọn tôi tới một quán ở hẻm Kim Cương, ngồi trên ghế đẩu, uống vang trắng có ga, ăn súp nghêu với bánh táo rán.

Rồi ông ta muốn cho tôi xem căn hộ độc thân của ông ở phố Tự Do. Ông có mười phòng bên trên một chợ cá, được quyền dùng buồng tắm ở tầng trên. Ông bảo bày biện căn hộ hết mười tám nghìn đô-la, và tôi tin.

Ông có bốn vạn đô-la tranh trong một phòng, hai vạn đô-la đồ cổ và đồ quý hiếm trong một phòng khác. Ông ta tên là Xcu-đơ, bốn mươi lăm tuổi, đang học đàn pi-a-nô, và mỗi ngày giếng dầu của ông phun ra mười lăm nghìn thùng."

"Được đấy," tôi nói. "Vòng chạy thử đạt yêu cầu. Nhưng mà, ông muốn gì nào? Đống đồ nghệ thuật ấy thì có ích gì cho bọn mình? Còn dầu nữa?"

"Này nhé, ông ấy," En-đi nói, ngồi trầm ngâm trên giường, "không phải loại tầm thường như anh nghĩ đâu. Lúc cho tôi xem tủ đồ nghệ thuật quý hiếm, mặt ông ta sáng rực như cửa lò luyện than cốc. Ông bảo nếu mấy vụ làm ăn lớn của ông trót lọt, ông sẽ làm cho bộ sưu tập của vua ngân hàng Moóc-gân trông chẳng khác gì mớ đồ trong diều con đà điểu chiếu lên màn bằng đèn chiếu.

Rồi ông ta cho tôi xem một món chạm khắc nhỏ," En-đi nói tiếp, "mà ai nhìn cũng thấy là một vật tuyệt diệu. Ông bảo nó khoảng hai nghìn năm tuổi. Đó là một bông hoa sen có khuôn mặt một người đàn bà bên trong, tạc từ một khối ngà voi nguyên khối.

Xcu-đơ tra trong một cuốn danh mục rồi tả lại. Một nghệ nhân Ai Cập tên là Kha-phơ-ra tạc hai cái như thế cho vua Ram-xét Đệ Nhị, vào khoảng năm trước Công nguyên. Cái kia không tìm thấy đâu. Mấy hiệu đồ cũ với dân mê đồ cổ đã sục khắp châu Âu tìm nó, nhưng có vẻ đã hết hàng. Xcu-đơ trả hai nghìn đô-la cho cái ông đang có."

"Ồ, thì," tôi nói, "nghe chỉ như suối chảy róc rách, êm tai mà chẳng ra đồng nào. Tôi tưởng bọn mình tới đây để dạy làm ăn cho mấy nhà triệu phú, chứ đâu phải học nghệ thuật của họ?"

"Kiên nhẫn chút," En-đi nhẹ nhàng nói. "Có khi chẳng mấy chốc mình sẽ thấy một kẽ hở trong làn khói."

Suốt buổi sáng hôm sau En-đi đi vắng. Tới gần trưa tôi mới gặp. Cậu về khách sạn, gọi tôi sang phòng cậu bên kia hành lang. Cậu rút trong túi ra một gói tròn tròn to bằng quả trứng ngỗng, mở ra. Đó là một món chạm ngà y như cậu đã tả món của nhà triệu phú.

"Lúc nãy tôi vào một tiệm đồ cũ kiêm hiệu cầm đồ," En-đi nói, "và thấy cái này nằm khuất một nửa dưới đống dao găm cũ với đồ lặt vặt. Ông chủ hiệu cầm đồ bảo ông giữ nó mấy năm rồi, nghĩ là do mấy người Ả Rập hay Thổ hay dân nước ngoài nào đó sống dưới bờ sông đem cầm.

Tôi trả ông ta hai đô-la, chắc trông tôi có vẻ thèm nó lắm, vì ông ta bảo nói chuyện gì mà không dẫn tới giá ba mươi lăm đô-la thì chẳng khác nào giật miếng bánh mì khỏi miệng con ông. Cuối cùng tôi mua được với giá hai lăm đô-la.

Giép," En-đi nói tiếp, "cái này giống hệt món chạm của Xcu-đơ. Giống như hai giọt nước. Ông ta sẽ trả hai nghìn đô-la cho nó nhanh như nhét khăn ăn dưới cằm. Mà biết đâu nó chẳng chính là cái kia, cái mà lão thợ Ai Cập già đã đẽo ra?"

"Biết đâu đấy," tôi nói. "Thế mình làm cách nào để buộc ông ta tự nguyện mua nó?"

En-đi đã có sẵn kế hoạch, và tôi sẽ kể anh nghe bọn tôi thực hiện ra sao.

Tôi kiếm một cặp kính xanh, khoác chiếc áo đuôi tôm đen, vò rối tóc lên và trở thành giáo sư Pích-cơn-man. Tôi tới một khách sạn khác, đăng ký phòng, rồi đánh điện cho Xcu-đơ mời ông tới gặp tôi ngay vì một việc quan trọng về nghệ thuật. Chưa đầy một tiếng sau thang máy đã quăng ông ta tới chỗ tôi. Ông là một người lơ mơ như sương mù mà giọng thì vang như kèn, sực mùi xì-gà rẻ tiền và dầu hoả.

"Chào giáo sư!" ông hét lên. "Hạnh kiểm của ông dạo này thế nào?"

Tôi vò tóc rối thêm nữa, ném cho ông một cái nhìn qua lớp kính xanh.

"Thưa ông," tôi nói, "ông có phải là ông Cọt-nê-li-ớt Xcu-đơ ở Pít-xbơ, bang Pen-xin-va-ni-a không?"

"Phải," ông nói. "Ra ngoài làm một ly đi."

"Tôi không có thời gian mà cũng chẳng có ham muốn," tôi nói, "với những trò tiêu khiển có hại và độc địa như thế. Tôi từ New York tới," tôi nói, "vì một việc làm ă... vì một việc về nghệ thuật.

Ở đó tôi được biết ông là chủ nhân một món chạm ngà Ai Cập thời vua Ram-xét Đệ Nhị, khắc đầu nữ thần I-xít trong một bông sen. Người ta chỉ tạc ra hai món như thế. Một món đã thất lạc nhiều năm. Gần đây tôi đã tìm thấy và mua được món kia ở một hiệu cầm... ở một bảo tàng ít ai biết tại Viên. Tôi muốn mua món của ông. Ông cứ ra giá đi."

"Trời đất băng giá ơi, giáo sư!" Xcu-đơ nói. "Ông tìm được cái kia rồi à? Tôi bán á? Không. Tôi đoán Cọt-nê-li-ớt Xcu-đơ chẳng cần phải bán thứ gì ông ta muốn giữ. Ông có mang món chạm ấy theo không, giáo sư?"

Tôi đưa cho Xcu-đơ xem. Ông xem xét kỹ khắp lượt.

"Đúng là nó," ông nói. "Bản sao y hệt cái của tôi, từng đường nét, từng chỗ cong. Thế này nhé," ông nói. "Tôi không bán, nhưng tôi mua. Tôi trả ông hai nghìn rưỡi cho cái của ông."

"Ông đã không bán thì tôi bán," tôi nói. "Tiền mệnh giá lớn nhé. Tôi là người kiệm lời. Tối nay tôi phải về New York. Mai tôi có buổi giảng ở thuỷ cung."

Xcu-đơ gửi xuống một tấm séc và khách sạn đổi ra tiền mặt. Ông mang món đồ cổ đi, còn tôi vội về khách sạn của En-đi như đã hẹn.

En-đi đang đi tới đi lui trong phòng, nhìn đồng hồ.

"Sao?" cậu hỏi.

"Hai nghìn rưỡi," tôi nói. "Tiền mặt."

"Mình còn đúng mười một phút," En-đi nói, "để bắt chuyến tàu đi về phía tây. Cầm hành lý lên."

"Vội gì," tôi nói. "Mua bán sòng phẳng mà. Mà dù nó chỉ là đồ nhái món chạm gốc, ông ta cũng phải mất ít lâu mới phát hiện ra. Ông ta có vẻ tin chắc là hàng thật."

"Thật đấy," En-đi nói. "Của chính ông ta mà. Hôm qua lúc tôi đang xem đồ quý của ông ta, ông ta bước ra khỏi phòng một lát, và tôi nhét nó vào túi. Giờ anh xách va-li lên mà nhanh chân được chưa?"

"Thế thì," tôi nói, "sao lại có cái chuyện tìm thấy cái thứ hai ở hiệu cầm..."

"Ồ," En-đi nói, "vì tôn trọng cái lương tâm của anh đấy. Đi thôi."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Conscience in Art, O. Henry, in trong tuyển tập The Gentle Grafter
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →