Chương 1: Rửa chân bằng rượu ở quán Tân Phong
Tiền đồ tối như sơn, khó ai biết trước. Trăng thu hoa xuân, mỗi thứ có mùa của nó. Hãy lặng nghe trời xếp đặt, cần gì đêm hôm khổ công bôn ba.
Chuyện kể rằng đời Đại Đường, năm đầu niên hiệu Trinh Quán, vua Thái Tông nhân minh có đạo, tin dùng người hiền. Văn có mười tám học sĩ, võ có mười tám lộ tổng quản. Quan văn quan võ đứng chầu chật cả sân rồng.
Phàm trong thiên hạ ai có tài có trí đều được tiến cử ra làm quan, thoả chí bình sinh. Vì vậy thiên hạ thái bình, muôn dân yên vui. Trong số ấy, xin kể riêng một người họ Mã, tên Chu, tên chữ là Tân Vương, người huyện Trì Bình, châu Bác. Cha mẹ đều mất sớm, nhà nghèo rớt mồng tơi. Đã ngoài ba mươi tuổi mà vẫn chưa vợ, chỉ trơ trọi một thân.
Từ nhỏ Mã Chu đã thông thạo kinh sử, học rộng biết nhiều, chí khí mưu lược việc gì cũng hơn người. Chỉ vì côi cút không ai nâng đỡ, chẳng có ai tiến cử, nên rõ ràng là một con rồng thần mắc trong vũng bùn, không sao bay lên được. Nhìn những kẻ tài học kém mình vạn lần, ai nấy lần lượt đỗ đạt hiển vinh, hưởng tước lộc, riêng mình thì có tài mà chẳng gặp thời. Ngày nào chàng cũng buồn bực than:
— Thời vậy, vận vậy, mệnh vậy!
Cả đời chàng chỉ được cái tửu lượng cao. Buồn lên là uống, uống đến say mới thôi. Cơm ăn hằng ngày bữa có bữa không, chàng chẳng màng, chỉ có chén rượu là không thể thiếu. Không có tiền mua thì dò xem nhà hàng xóm nào có rượu, cứ đến uống chực. Lại thêm cái tính nghênh ngang, không biết giữ gìn, say vào thì nói càn la lối, nổi khùng chửi bới cả bàn. Đám láng giềng xung quanh bị chàng làm ầm ĩ đến phát ngấy, chẳng ai là không ghét. Sau lưng, người ta gọi chàng là "Mã Chu nghèo", lại gọi là "con ma rượu". Mã Chu biết cả, nhưng chẳng để bụng chút nào. Đúng là: chưa gặp hội rồng hổ, thì ai gọi trâu gọi ngựa cũng mặc.
Lại nói quan thứ sử châu Bác họ Đạt Hề, từ lâu nghe Mã Chu thông kinh có học, bèn mời chàng làm trợ giáo của châu. Hôm nhậm chức, đám tú tài mang rượu đến mừng, chẳng ngờ chàng uống say khướt. Hôm sau, quan thứ sử đích thân đến học cung để thỉnh giáo. Mã Chu vẫn còn say, bò dậy không nổi. Quan thứ sử nổi giận bỏ về.
Tỉnh rượu, biết quan thứ sử đã đến, Mã Chu vội lên nha châu tạ tội, bị quan quở trách cho một hồi. Miệng chàng dạ dạ vâng vâng, nhưng tật cũ vẫn không sửa được. Hễ học trò cầm sách đến hỏi bài là chàng giữ lại cùng uống. Lĩnh được đồng lương nào đều đổ cả vào quán rượu, mà vẫn chẳng đủ, lại sang nhà học trò uống chực như cũ.
Một hôm, chàng uống say, hai cậu học trò dìu hai bên, vừa đi vừa ca hát về nhà. Đúng lúc ấy gặp đoàn tiền đạo của quan thứ sử, lính quát bảo tránh đường. Mã Chu nào chịu lùi bước? Chàng trợn trừng hai mắt, lại còn chửi người ta. Thế là bị quan thứ sử mắng cho một trận giữa phố. Lúc ấy chàng say nên chẳng biết gì. Hôm sau tỉnh dậy, học trò lại đến khuyên chàng đi tạ tội với quan thứ sử. Mã Chu thở dài:
— Ta chỉ vì côi cút không ai nâng đỡ, muốn tìm một bậc thang để tiến thân, nên mới phải nhún mình trước người. Nay vì lỗi rượu mà bị quan thứ sử mấy lần trách mắng nhục nhã, còn mặt mũi nào lại đến khom lưng xin thương? Người xưa không vì năm đấu gạo mà khom lưng. Cái chức trợ giáo cỏn con này cũng chẳng phải chỗ để ta dưỡng già.
Nói rồi chàng đưa bộ áo quan cho học trò, bảo đem trả lại quan thứ sử, ngửa mặt lên trời cười lớn, ra cửa bỏ đi. Đúng là: chuyến này ra đi nhờ cả vào ba tấc lưỡi, nếu còn quay lại thì chẳng đáng một đồng.
Từ xưa có câu: nước không xô thì không bắn tung, người không bị khích thì không gắng sức. Mã Chu chỉ vì chuyện rượu mà chịu không nổi sự trách mắng của quan thứ sử, thở dài bỏ đi. Đến một nơi, gặp một người nâng đỡ, về sau làm đến chức Thượng thư bộ Lại. Ấy là chuyện về sau.
Hãy nói xem bây giờ chàng đi đâu. Chàng nghĩ bụng: "Lang bạt các châu các phủ cũng chẳng gặp được dịp gì lớn. Chỉ có kinh đô Trường An, trong đám công hầu khanh tướng, may ra có một vị Tiêu tướng quốc biết tiến cử, một vị Nguỵ Vô Tri biết nhận người hiền, giúp ta có ngày ngóc đầu lên, thì mới thoả cái chí bình sinh." Thế là chàng nhắm hướng tây, cứ thế mà đi.
Chẳng bao lâu, chàng đến Tân Phong. Thành Tân Phong vốn do Hán Cao Tổ xây. Cao Tổ sinh ở làng Phong, về sau khởi binh, diệt Tần trừ Hạng, làm thiên tử nhà Đại Hán, tôn cha làm Thái thượng hoàng. Thái thượng hoàng ở trong thành Trường An, nhớ cảnh quê nhà. Cao Tổ bèn sai thợ khéo xây thành này theo đúng làng Phong cũ, rồi dời người làng Phong đến ở. Phố chợ, nhà cửa đều giống hệt làng cũ. Thả gà nhà họ Trương, chó nhà họ Lý ra phố, gà chó cũng nhận ra cửa nhà mình, con nào về nhà nấy. Thái thượng hoàng mừng lắm, đặt tên là Tân Phong, nghĩa là làng Phong mới. Nay nhà Đại Đường vẫn đóng đô ở Trường An, Tân Phong là đất trong cửa ải, phố phường đông đúc, náo nhiệt vô cùng. Riêng quán trọ đón khách buôn đã chẳng biết bao nhiêu mà kể.
Mã Chu đến chợ Tân Phong thì trời đã tối. Chàng chọn một quán trọ thật lớn, thong thả bước vào. Chỉ thấy bụi hồng cuồn cuộn, xe ngựa tấp nập, bao nhiêu khách buôn chở hàng hoá, chen vai thích cánh vào quán nghỉ. Chủ quán là ông lão họ Vương ra đón, cuống quýt chia phòng, xếp chỗ để hành lý. Các khách buôn kéo nhau từng nhóm, chiếm lấy chỗ ngồi, gọi nước đòi rượu. Anh hầu bàn bưng bê không xuể, chạy như đèn kéo quân. Riêng Mã Chu ngồi một mình lạnh lẽo một góc, không có lấy nửa người đoái hoài.
Mã Chu bực mình, đập bàn quát to:
— Chủ quán, ông khinh người quá lắm! Tôi không phải khách hay sao mà ông chẳng đến tiếp? Thế là lẽ gì?
Ông Vương nghe khách nổi nóng, vội đến xoa dịu:
— Xin khách quan đừng giận. Bên kia người đông, đành phải xếp chỗ cho họ trước. Ngài có một mình, dễ tiếp thôi. Ngài dùng rượu hay dùng cơm, cứ dặn lão là được.
Mã Chu nói:
— Tôi đi đường cả ngày chưa rửa chân. Hãy cho ít nước nóng sạch dùng đã.
Ông Vương đáp:
— Bếp đang bận, muốn nước nóng xin đợi một lát.
— Đã vậy thì mang rượu ra trước.
— Ngài dùng bao nhiêu rượu?
Mã Chu chỉ vào đám khách ngồi ở chiếu lớn bên kia, nói với chủ quán:
— Họ dùng bao nhiêu, tôi cũng dùng bấy nhiêu.
Ông Vương đáp:
— Năm vị khách kia mỗi người dùng một đấu rượu ngon.
Mã Chu nói:
— Nói ra thì chừng ấy chưa đủ cho tôi ngà ngà. Nhưng đi đường tôi uống dè, nên chỉ dùng năm đấu thôi. Có thức nhắm gì ngon cứ mang cả ra đây.
Ông Vương dặn anh hầu bàn. Liền một lúc, năm đấu rượu được hâm nóng đặt lên bàn, kèm một chiếc âu sứ lớn và mấy bát thịt rau. Mã Chu nâng âu uống một mình, coi như bên cạnh chẳng có ai. Uống được chừng hơn ba đấu, chàng gọi lấy một cái chậu rửa chân, dốc hết chỗ rượu còn thừa vào đó, tháo hai chiếc ủng, thò chân xuống rửa.
Khách trong quán trông thấy, ai nấy đều kinh ngạc. Ông Vương thầm lấy làm lạ, biết đây không phải người tầm thường. Cùng thời ấy, Sầm Văn Bản có vẽ bức tranh Mã Chu rửa chân, về sau có ông Yên Ba Điếu Tẩu đề bài tán lên trên. Bài tán rằng: người đời trọng cái miệng, riêng ta quý đôi chân. Miệng dễ gây sóng gió, chân lại đi được đường xa. Ở dưới mà không nghiêng ngả, nghìn dặm vẫn theo kịp. Nhọc nhiều mà thưởng ít, chẳng nói gì, nhẫn nhịn chịu đựng. Nay lấy rượu đền công, an ủi bao vất vả dặm trường. Chân được quên nỗi lo, còn hơn ta uống cho no bụng. Ôi Tân Vương, cái nhìn của người thật vượt khỏi thói thường.
Đêm ấy nghỉ ngơi, không có gì đáng kể. Hôm sau, ông Vương dậy sớm tính tiền, tiễn khách lên đường. Mã Chu trong người chẳng có tiền của gì. Nghĩ trời đã dần nóng, chàng bèn cởi chiếc áo lông cáo đưa ông Vương thay tiền rượu. Ông Vương thấy chàng là người hào phóng, lại ngại áo lông cáo quá đắt, cứ một mực từ chối không nhận. Mã Chu đòi bút, đề một bài thơ lên vách. Thơ rằng: người xưa cảm một bữa cơm, nghìn vàng vứt đi như dép cỏ. Đôi đũa thìa sao đáp được ơn, điều đáng trọng là người tri kỷ. Ta uống rượu Tân Phong, áo cừu chẳng cần đem cầm. Hiền thay ông chủ quán, nghĩa khí khiến cả xóm phải nể. Cuối bài ghi: Mã Chu người Trì Bình đề.
Ông Vương thấy chữ đẹp, thơ hay, trong lòng hết sức kính trọng, bèn hỏi:
— Mã tiên sinh nay định đi đâu?
— Tôi định lên Trường An cầu công danh.
— Đã có chỗ trọ quen nào chưa?
— Chưa có.
Ông Vương nói:
— Mã tiên sinh tài lớn, chuyến này ắt sẽ phú quý. Nhưng Trường An là đất gạo châu củi quế, túi tiên sinh đã rỗng thì lấy gì mà sống? Lão có một đứa cháu gái gọi lão bằng cậu, lấy chồng ở trên ấy, là nhà Triệu Tam Lang bán bánh ở phố Vạn Thọ. Lão viết một phong thư, tiên sinh mang đến đó trọ, còn tiện hơn nhà khác. Lại có một lạng bạc trắng, tạm giúp tiền lộ phí, xin đừng chê ít.
Mã Chu cảm tấm lòng hậu của ông, đành nhận lấy. Ông Vương viết thư xong, trao cho Mã Chu. Mã Chu nói:
— Mai sau tôi tiến được tấc nào, quyết không dám quên ơn.
Rồi chàng cảm tạ từ biệt.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn