Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Mẹ Xô-va-giơ

của Guy de Maupassant

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 13.107 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Đã mười lăm năm tôi không trở lại Vi-rơ-lô-nhơ.…
  2. 2:17Và anh kể cho tôi nghe câu chuyện này.
  3. 4:41Và hiểu nỗi buồn, nỗi lo của bà, vì…
  4. 6:52Rồi sau đó người ta đã làm gì với…
  5. 8:22"Tôi sẽ làm một việc cho các anh."
  6. 10:04Đằng xa, một hồi chuông bắt đầu đổ.
  7. 10:41"Sao lại cháy?"
  8. 11:37Tên sĩ quan quát ra lệnh bằng tiếng Đức.…

Đã mười lăm năm tôi không trở lại Vi-rơ-lô-nhơ. Mùa thu năm ấy, tôi về đó đi săn, ở nhà anh bạn Xéc-van, người rốt cuộc đã cho xây lại được toà lâu đài bị quân Phổ phá huỷ.

Tôi yêu vùng ấy vô cùng. Trên đời có những góc trời tuyệt diệu, có một sức quyến rũ mê đắm đối với đôi mắt. Người ta yêu chúng bằng một tình yêu của da thịt. Những người như chúng tôi, những kẻ bị đất đai quyến rũ, vẫn giữ những kỷ niệm dịu dàng về một vài con suối, một vài cánh rừng, một vài cái ao, một vài ngọn đồi, đã từng nhìn thấy nhiều lần và đã làm ta xúc động như những sự kiện hạnh phúc. Đôi khi tâm trí ta còn quay về với một góc rừng, một khúc bờ sông, hay một vườn cây phủ phấn hoa, chỉ thoáng thấy một lần trong một ngày vui, rồi ở lại mãi trong lòng ta, như hình bóng những người đàn bà gặp ngoài phố vào một buổi sáng mùa xuân, mặc chiếc áo sáng màu, mỏng manh, để lại trong tâm hồn và da thịt ta một khát khao không nguôi, không quên được, cái cảm giác đã đi sượt qua hạnh phúc.

Ở Vi-rơ-lô-nhơ, tôi yêu cả vùng quê, lác đác những cánh rừng nhỏ, có những dòng suối chảy ngang qua, len lỏi trong đất như những mạch máu, mang máu tới cho đất đai. Dưới những dòng suối ấy người ta bắt được tôm càng, cá hồi và lươn! Hạnh phúc thần tiên! Có những chỗ tắm được, và người ta thường gặp chim dẽ giun trong những đám cỏ cao mọc bên bờ những dòng nước nhỏ ấy.

Tôi bước đi, nhẹ nhàng như một con dê, nhìn hai con chó của mình sục sạo phía trước. Xéc-van, cách tôi một trăm mét về bên phải, đang lùng một ruộng cỏ linh lăng. Tôi vòng qua những bụi cây làm ranh giới rừng Xô-đrơ, và nhìn thấy một túp nhà tranh đổ nát.

Bỗng nhiên tôi nhớ lại nó như lần cuối tôi nhìn thấy, năm một nghìn tám trăm sáu mươi chín, sạch sẽ, phủ đầy dây nho, với đàn gà trước cửa. Còn gì buồn hơn một ngôi nhà đã chết, với bộ xương vẫn đứng đó, xiêu vẹo, thê lương?

Tôi cũng nhớ rằng có lần một bà cụ đã mời tôi uống một cốc rượu trong ngôi nhà ấy, vào một ngày tôi mệt lả, và khi ấy Xéc-van đã kể cho tôi nghe chuyện những người sống ở đó. Ông bố, một tay săn trộm già, đã bị hiến binh bắn chết. Cậu con trai, mà tôi đã từng gặp, là một gã cao lớn, gầy gò, cũng nổi tiếng là một tay tàn sát thú rừng hung hãn. Người ta gọi họ là nhà Xô-va-giơ.

Đó là họ hay là tên hiệu?

Tôi gọi Xéc-van. Anh bước tới bằng những bước dài như chân cò.

Tôi hỏi anh:

"Những người ở đây giờ ra sao rồi?"

Và anh kể cho tôi nghe câu chuyện này.

Khi chiến tranh nổ ra, cậu con trai nhà Xô-va-giơ, lúc ấy ba mươi ba tuổi, đi tòng quân, để bà mẹ ở nhà một mình. Người ta cũng không thương bà già lắm, vì ai cũng biết bà có tiền.

Thế là bà ở lại một mình trong ngôi nhà hẻo lánh ấy, cách xa làng, bên bìa rừng. Vả lại bà cũng chẳng sợ gì, vì bà cùng một giống với những người đàn ông nhà mình, một bà già cứng cỏi, cao và gầy, ít khi cười, và chẳng ai dám đùa với bà. Mà đàn bà nhà quê thì cũng ít khi cười. Cười là việc của đàn ông! Tâm hồn họ buồn bã và hạn hẹp, vì cuộc sống của họ tẻ nhạt, chẳng có lấy một tia sáng. Người nông dân còn học được chút vui vẻ ồn ào ở quán rượu, nhưng người bạn đời của anh ta thì vẫn nghiêm nghị, với vẻ mặt lúc nào cũng khắc khổ. Các bắp thịt trên mặt họ chưa từng học những cử động của tiếng cười.

Mẹ Xô-va-giơ vẫn tiếp tục cuộc sống bình thường trong túp nhà tranh của mình, chẳng bao lâu đã bị tuyết phủ kín. Mỗi tuần một lần bà ra làng mua bánh mì và một ít thịt, rồi lại trở về túp lều. Vì người ta đồn có chó sói, bà ra ngoài là đeo súng trên lưng, khẩu súng của con trai, han gỉ, báng súng mòn vẹt vì tay cầm. Trông bà Xô-va-giơ cao lớn mới lạ làm sao, lưng hơi còng, chầm chậm sải bước trên tuyết, nòng súng nhô cao hơn chiếc khăn trùm đầu màu đen, chiếc khăn bó chặt lấy đầu bà và giam kín mái tóc bạc mà chưa ai từng được thấy.

Một ngày kia quân Phổ tới. Người ta chia chúng về ở nhà dân, tuỳ theo của cải và khả năng từng nhà. Bà già, mà ai cũng biết là giàu, phải nhận bốn tên.

Đó là bốn chàng trai to béo, da trắng hồng, râu vàng, mắt xanh, vẫn béo tốt dù đã trải qua bao mệt nhọc, và hiền lành dễ mến, tuy đang ở trên đất bị chiếm đóng. Chỉ có họ với người đàn bà đã có tuổi, họ tỏ ra hết sức ân cần với bà, cố gắng hết mức để bà đỡ mệt nhọc và đỡ tốn kém. Buổi sáng, người ta thấy cả bốn người rửa ráy quanh giếng, mặc sơ mi, dội nước ào ào lên tấm thân trắng hồng của những người phương Bắc, dưới ánh sáng gay gắt của tuyết, trong khi mẹ Xô-va-giơ đi đi lại lại nấu xúp. Rồi người ta thấy họ lau bếp, cọ sàn gạch, bổ củi, gọt khoai tây, giặt quần áo, làm mọi việc trong nhà, như bốn người con ngoan quanh mẹ mình.

Nhưng bà già thì không ngớt nghĩ tới con mình, tới cái thằng con cao gầy mũi khoằm, mắt nâu, bộ ria rậm như một vành lông đen trên môi. Ngày nào bà cũng hỏi từng người lính đang ở nhà mình:

"Các anh có biết trung đoàn Pháp, trung đoàn hành quân số hai mươi ba, đi đâu rồi không? Thằng con tôi ở trong đó."

Họ trả lời bằng thứ tiếng Pháp lơ lớ:

"Không, không piết, không piết chi cả."

Và hiểu nỗi buồn, nỗi lo của bà, vì chính họ cũng có mẹ ở quê nhà, họ chăm sóc bà đủ mọi điều nhỏ nhặt. Vả lại bà cũng quý bốn kẻ thù của mình. Vì nông dân thì chẳng mấy khi có lòng căm thù vì tổ quốc. Cái đó chỉ thuộc về những tầng lớp trên. Những người hèn mọn, những người phải trả giá nhiều nhất vì họ nghèo và mọi gánh nặng mới đều đè bẹp họ, những người bị giết hàng loạt, là thứ thịt thật sự cho súng đạn vì họ đông, những người, nói tóm lại, phải chịu đựng tàn khốc nhất những nỗi khổ ghê gớm của chiến tranh vì họ yếu nhất và kém sức chống đỡ nhất, những người ấy chẳng mấy hiểu những nhiệt tình hiếu chiến, cái danh dự dễ bị kích động và những mưu tính chính trị gọi là khôn ngoan, những thứ làm cho hai dân tộc kiệt quệ chỉ trong sáu tháng, kẻ thắng cũng như kẻ bại.

Trong vùng, nói về mấy người Đức nhà mẹ Xô-va-giơ, người ta bảo:

"Bốn anh này thế là tìm được tổ ấm rồi."

Thế rồi một buổi sáng, khi bà già đang ở nhà một mình, bà nhìn thấy đằng xa trên cánh đồng một người đàn ông đang đi về phía nhà mình. Chẳng mấy chốc bà nhận ra đó là người đưa thư đi bộ. Anh đưa bà một tờ giấy gấp, bà lấy trong bao ra cặp kính vẫn đeo để khâu vá. Rồi bà đọc:

"Thưa bà Xô-va-giơ, thư này là để báo cho bà một tin buồn. Con trai bà là Víc-to hôm qua đã bị một quả đạn đại bác giết chết, nói cho đúng là cắt đôi ra làm hai mảnh. Tôi đứng ngay bên cạnh, vì chúng tôi đứng sát nhau trong đại đội, và anh ấy vẫn dặn tôi về bà, để báo cho bà ngay trong ngày nếu anh ấy gặp chuyện chẳng lành.

Tôi đã lấy chiếc đồng hồ trong túi anh ấy, để mang về cho bà khi chiến tranh kết thúc.

Xin thân ái chào bà.

Xê-de Ri-vô, binh nhì, trung đoàn hành quân số hai mươi ba."

Lá thư đề ngày ba tuần trước.

Bà không khóc. Bà đứng lặng, bàng hoàng, đờ đẫn tới mức còn chưa thấy đau. Bà nghĩ: "Thế là thằng Víc-to bị giết rồi." Rồi dần dần nước mắt dâng lên đôi mắt bà, và nỗi đau tràn ngập trái tim bà. Những ý nghĩ lần lượt tới với bà, khủng khiếp, dày vò. Bà sẽ không bao giờ được hôn nó nữa, con bà, thằng con cao lớn của bà, không bao giờ nữa! Hiến binh đã giết ông bố, quân Phổ đã giết thằng con... Nó đã bị một quả đạn cắt làm đôi. Và bà tưởng như nhìn thấy cảnh ấy, cái cảnh khủng khiếp ấy: cái đầu rơi xuống, mắt mở trừng trừng, trong lúc nó đang nhai một góc bộ ria rậm, như nó vẫn làm những lúc giận dữ.

Rồi sau đó người ta đã làm gì với xác nó? Giá mà người ta trả con lại cho bà, như đã trả chồng lại cho bà, với viên đạn giữa trán?

Nhưng bà nghe có tiếng người nói. Đó là mấy người lính Phổ từ làng trở về. Bà vội nhét lá thư vào túi, rồi tiếp họ bình thản với vẻ mặt như mọi ngày, vì bà đã kịp lau khô nước mắt.

Cả bốn người đều cười, khoái chí, vì họ mang về một con thỏ béo, chắc là ăn trộm, và họ ra hiệu cho bà già rằng sắp được ăn một món ngon.

Bà bắt tay ngay vào việc nấu bữa trưa. Nhưng tới lúc phải làm thịt con thỏ, bà không đủ can đảm. Thế mà đâu phải con đầu tiên! Một người lính đấm một cú vào sau tai cho nó chết.

Con vật chết rồi, bà lột da, lôi tấm thân đỏ hỏn ra. Nhưng nhìn thấy máu trong tay mình, máu phủ đầy hai bàn tay, máu âm ấm mà bà cảm thấy đang nguội dần và đông lại, bà run lên từ đầu tới chân. Và bà cứ thấy mãi thằng con cao lớn của mình bị cắt làm đôi, cũng đỏ hỏn như con vật vẫn còn đang giật giật này.

Bà ngồi vào bàn cùng mấy người lính Phổ, nhưng bà không ăn được, dù chỉ một miếng. Họ ngấu nghiến con thỏ, chẳng để ý gì tới bà. Bà liếc nhìn họ, không nói gì, nung nấu một ý định, vẻ mặt thản nhiên tới mức họ chẳng nhận thấy điều gì.

Bỗng bà hỏi:

"Tôi còn chưa biết tên các anh, mà đã một tháng nay chúng ta ở với nhau rồi."

Họ hiểu được, không dễ dàng gì, điều bà muốn, và nói tên mình. Thế vẫn chưa đủ với bà. Bà bảo họ viết tên lên một tờ giấy, kèm địa chỉ gia đình. Rồi đặt lại cặp kính lên chiếc mũi to, bà nhìn kỹ những dòng chữ lạ ấy, rồi gấp tờ giấy lại, cất vào túi, đặt lên trên lá thư báo tin con bà đã chết.

Ăn xong, bà bảo mấy người lính:

"Tôi sẽ làm một việc cho các anh."

Rồi bà bắt đầu mang cỏ khô lên gác xép, nơi họ ngủ.

Họ ngạc nhiên về việc ấy. Bà giải thích rằng như thế họ sẽ đỡ lạnh. Và họ giúp bà. Họ chất những bó cỏ lên tận mái rạ, và như thế họ làm được một thứ phòng lớn với bốn bức tường cỏ khô, ấm áp và thơm tho, ngủ ở đó thì tuyệt.

Tới bữa tối, một người lo lắng thấy mẹ Xô-va-giơ vẫn chưa ăn gì. Bà bảo là bà bị đau bụng. Rồi bà đốt một bếp lửa to để sưởi, và bốn người Đức trèo lên chỗ ngủ của mình bằng chiếc thang tối nào họ cũng dùng.

Cửa sập vừa đóng lại, bà già liền cất chiếc thang đi, rồi lặng lẽ mở cánh cửa ra ngoài, và quay đi lấy những bó rơm chất đầy bếp. Bà đi chân trần trên tuyết, nhẹ nhàng tới mức không ai nghe thấy gì. Thỉnh thoảng bà lại lắng nghe tiếng ngáy vang và không đều của bốn người lính đang ngủ.

Khi thấy đã chuẩn bị đủ, bà ném một bó rơm vào bếp lửa, và khi nó đã bốc cháy, bà rải nó lên những bó khác, rồi bà đi ra ngoài và đứng nhìn.

Chỉ trong mấy giây, một luồng sáng dữ dội chiếu rực toàn bộ bên trong túp nhà tranh, rồi thành một lò lửa khủng khiếp, một cái lò khổng lồ rực cháy, ánh lửa phụt ra qua ô cửa sổ hẹp, hắt lên tuyết một vệt sáng chói loà.

Rồi một tiếng thét lớn bật lên từ trên đỉnh nhà, rồi thành một tràng gào thét của con người, những tiếng kêu cứu xé lòng vì hoảng loạn và kinh hoàng. Rồi cửa sập đổ sụp vào bên trong, một cơn lốc lửa lao vút lên gác xép, xuyên thủng mái rạ, bốc lên trời như một ngọn đuốc khổng lồ. Và cả túp nhà tranh bốc cháy.

Bên trong chẳng còn nghe thấy gì nữa, ngoài tiếng lửa reo lách tách, tiếng tường nứt răng rắc, tiếng xà nhà đổ sập. Mái nhà bỗng sụp xuống, và bộ khung rực lửa của ngôi nhà tung lên không trung, giữa một đám khói, một chùm tia lửa lớn.

Cánh đồng trắng xoá, được lửa chiếu sáng, lấp lánh như một tấm khăn bạc nhuộm đỏ.

Đằng xa, một hồi chuông bắt đầu đổ.

Bà già Xô-va-giơ vẫn đứng đó, trước ngôi nhà đã bị phá huỷ, tay cầm súng, khẩu súng của con trai, vì sợ có tên nào thoát được.

Khi thấy mọi sự đã xong, bà ném khẩu súng vào đống lửa. Một tiếng nổ vang lên.

Người ta kéo tới, những người nông dân, những người lính Phổ.

Người ta thấy người đàn bà ngồi trên một khúc cây, bình thản và mãn nguyện.

Một sĩ quan Đức, nói tiếng Pháp như một người con của nước Pháp, hỏi bà:

"Lính của bà đâu?"

Bà chìa cánh tay gầy guộc về phía đống lửa đỏ đang tàn dần, và đáp to:

"Trong ấy!"

Mọi người chen nhau quanh bà. Tên sĩ quan Phổ hỏi:

"Sao lại cháy?"

Bà nói:

"Chính tôi đốt đấy."

Người ta không tin bà. Người ta nghĩ rằng tai hoạ đã bỗng nhiên làm bà hoá điên. Thế là, trong khi mọi người vây quanh và lắng nghe, bà kể lại chuyện ấy từ đầu tới cuối, từ lúc lá thư tới cho tới tiếng kêu cuối cùng của những người đàn ông bị thiêu cùng ngôi nhà của bà. Bà không quên một chi tiết nào về những gì bà đã cảm thấy, cũng như những gì bà đã làm.

Kể xong, bà rút trong túi ra hai tờ giấy, và để phân biệt chúng dưới những ánh lửa cuối cùng, bà lại sửa cặp kính, rồi chỉ vào một tờ mà nói:

"Đây là tin thằng Víc-to chết."

Chỉ vào tờ kia, bà hất đầu về phía đống tàn tích đỏ rực, nói thêm:

"Còn đây là tên của chúng nó, để người ta viết thư về nhà chúng nó."

Bà bình thản chìa tờ giấy trắng cho viên sĩ quan đang nắm lấy vai bà, rồi nói tiếp:

"Các ông viết cho họ biết chuyện đã xảy ra thế nào, và nói với cha mẹ chúng nó rằng chính tôi đã làm việc ấy. Víc-toa Xi-mông, mụ Xô-va-giơ! Đừng có quên đấy."

Tên sĩ quan quát ra lệnh bằng tiếng Đức. Người ta túm lấy bà, đẩy bà vào bức tường còn nóng của ngôi nhà. Rồi mười hai người lính nhanh chóng đứng thành hàng trước mặt bà, cách hai mươi mét. Bà không nhúc nhích. Bà đã hiểu. Bà đứng chờ.

Một tiếng lệnh vang lên, liền theo sau là một tràng súng nổ dài. Một phát muộn hơn nổ riêng một mình, sau những phát kia.

Bà già không ngã xuống. Bà khuỵu xuống như thể có ai vừa phạt ngang hai chân bà.

Tên sĩ quan Phổ bước tới gần. Bà gần như bị cắt làm đôi, và trong bàn tay co quắp của bà là lá thư đẫm máu.

Anh bạn Xéc-van của tôi nói thêm:

"Chính để trả thù mà bọn Đức đã phá huỷ toà lâu đài của vùng này, lâu đài của tôi."

Còn tôi, tôi nghĩ tới những người mẹ của bốn chàng trai hiền lành bị thiêu chết trong ấy. Và tôi nghĩ tới lòng dũng cảm khủng khiếp của người mẹ kia, người đã bị xử bắn bên bức tường này.

Và tôi nhặt lên một hòn đá nhỏ, vẫn còn ám đen vì lửa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1884
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Mère Sauvage, in trên báo Le Gaulois ngày 3 tháng 3 năm 1884, tập Miss Harriet, bản Conard 1910
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →