Ở đâu đó dưới đáy sâu của thành phố lớn, nơi những cặn bã không yên bị lắc trộn vào nhau mãi mãi, cậu Mơ-ri và ông Đại uý đã gặp nhau và thành bạn. Cả hai đều đang ở mức thấp nhất mà vận số của họ có thể xuống tới. Cả hai đều đã rơi từ một tầng trời, ít ra là tầng trời bậc trung, của sự đáng kính và quyền thế. Và cả hai đều là sản phẩm điển hình của cái chương trình học xã hội quái gở và kỳ lạ mà thành phố kiêu căng, hợm hĩnh, ngôi trường mẹ của họ, đã dạy.
Ông Đại uý không còn là đại uý nữa. Một trong những cơn đại hồng thuỷ đạo đức bất chợt đôi khi quét qua thành phố đã hất ông khỏi một chức vụ cao và béo bở trong sở cảnh sát, giật phăng phù hiệu và khuy áo của ông, và cuốn trôi vào tay các luật sư của ông những bất động sản chắc nịch mà tính tằn tiện đã giúp ông tích luỹ. Cơn lũ qua đi bỏ ông lại trơ trọi, khô khốc. Một tháng sau khi bị tước chức, một tay chủ quán rượu túm cổ ông khỏi quầy ăn miễn phí như con mèo cái tha một con mèo con lạ khỏi ổ, rồi ném ông xuống mặt đường. Thế đã có vẻ là thấp lắm rồi. Nhưng ông còn xuống thấp hơn nữa: ông đi đôi giày cài khuy cổ vải của kẻ thất thế, và viết thư than phiền gửi các báo. Rồi ông đánh nhau với người phục vụ ở Nhà trọ Thành phố vì người ấy định bắt ông tắm. Lần đầu Mơ-ri gặp ông, ông đang nắm tay một người đàn bà bán táo và tỏi trên phố Ét-xếch, đọc cho bà nghe lời một bài hát lấy trong sách bài ca.
Cú ngã của Mơ-ri thì giống cú ngã của thiên thần sa đoạ hơn, dù ít ồn ào hơn. Tất cả những món đồ xinh xắn, nho nhỏ, xa xỉ của New York từng là của cậu. Anh chàng cầm loa trên xe tham quan vẫn gào lên bảo bạn ngắm ngôi nhà của ông chú cậu trên một đại lộ lừng lẫy, đáng kính. Nhưng rồi đã có một trận cãi vã kinh khủng về chuyện gì đó, và vị hoàng tử bị lão quản gia tiễn ra tận cửa, mà ở đại lộ ấy thì thế cũng ngang với bị giày của ông chú đá. Một hoàng tử Han yếu đuối, không gia tài, không gươm, cậu trôi dạt xuống dưới để gặp ngài Phôn-xtáp chẳng biết đùa của mình, và cùng ông nhặt những mẩu bánh vụn của đường phố.
Một buổi tối, họ ngồi trên một chiếc ghế trong một công viên nhỏ ở khu phố dưới. Thân hình đồ sộ của ông Đại uý đổ đống vào tay vịn ghế thành một khối không ra hình thù. Cơn đói dường như còn làm nó to thêm, đến nỗi những lời xin xỏ của ông chỉ chuốc lấy sự mỉa mai thay vì lòng thương. Gương mặt đỏ của ông, lấm tấm những túm râu đỏ chót một tuần chưa cạo, trên đầu là chiếc mũ rơm trắng sụp xuống, trông trong bóng tối như một trong những thứ bạn thấy trong một ô cửa kính tối om ở Đại lộ Ba, khiến trí tưởng tượng của bạn phải đoán xem đó là mẫu mũ phụ nữ mới nhất hay một chiếc bánh kem dâu. Một chiếc thắt lưng siết chặt, di vật cuối cùng của vẻ chỉnh tề thời làm quan chức, hằn một rãnh sâu quanh vòng bụng ông. Giày của ông Đại uý không còn khuy. Bằng một giọng trầm nghẹn, ông nguyền rủa ngôi sao xui xẻo của mình.
Mơ-ri, ngồi bên cạnh, co rúm trong bộ com-lê vải xanh sờn rách. Mũ cậu kéo sụp xuống. Cậu ngồi lặng lẽ và hơi mờ nhạt, như một bóng ma bị đuổi khỏi chỗ ở.
"Tao đói," ông Đại uý gầm gừ. "Thề có miếng thăn ngon nhất của con bò mộng xứ Ba-san, tao đang chết đói đây. Ngay bây giờ tao có thể ăn xuyên qua cả một tiệm ăn ở phố Bao-ơ-ri tới tận cái ống khói ngoài hẻm. Mày không nghĩ ra được cái gì à, Mơ-ri? Mày ngồi đó, vai rụt lại, bắt chước ông Rê-gi-nan Ván-đơ-bin đánh xe tứ mã. Giờ mấy cái điệu bộ ấy giúp gì được mày? Nghĩ xem có chỗ nào kiếm được cái gì mà nhai đi."
"Ông quên rồi, ông Đại uý thân mến," Mơ-ri nói, không nhúc nhích, "lần cuối cùng chúng ta định ăn tối là theo gợi ý của tôi đấy."
"Đúng thế đấy," ông Đại uý rên rỉ, "đúng thế đấy. Mày còn gợi ý nào như thế nữa không, hả?"
"Tôi thừa nhận là chúng ta thất bại," Mơ-ri thở dài. "Tôi cứ chắc là thằng Ma-lôn sẽ còn cho thêm một bữa ăn miễn phí nữa, sau cái cách nó nói chuyện bóng chày với tôi lần cuối tôi tiêu năm xu ở quán nó."
"Tao đã đặt bàn tay này," ông Đại uý nói, chìa ra bộ phận bất hạnh ấy, "tao đã đặt bàn tay này lên một cái đùi gà tây và hai cái bánh mì kẹp cá mòi thì bọn bồi bàn túm lấy bọn mình."
"Tôi chỉ còn cách mấy quả ô-liu có năm phân," Mơ-ri nói. "Ô-liu nhồi. Cả năm nay tôi chưa được nếm quả nào."
"Làm gì bây giờ?" ông Đại uý càu nhàu. "Mình đâu thể chết đói."
"Không thể à?" Mơ-ri khẽ nói. "Nghe thế tôi mừng quá. Tôi cứ sợ là có thể đấy."
"Mày đợi ở đây," ông Đại uý nói, nặng nề, thở phì phò đứng dậy. "Tao sẽ thử một vòng nữa. Mày ở đây cho tới khi tao về, Mơ-ri. Tao đi không quá nửa tiếng. Nếu trót lọt thì tao về với túi đầy."
Ông nặng nề như voi cố sửa sang cho vẻ ngoài mình bảnh bao hơn. Ông vặn bộ ria đỏ rực cong lên trời. Ông lôi ra một đôi măng-sét viền đen, siết thắt lưng thêm một lỗ cho cái rãnh ở bụng sâu hơn, rồi lên đường, điệu đà như con tê giác trong vườn bách thú, băng qua đầu phía nam công viên.
Khi ông đã khuất, Mơ-ri cũng rời công viên, rảo bước nhanh về phía đông. Cậu dừng lại ở một toà nhà có hai ngọn đèn xanh hai bên bậc thềm.
"Có một đại uý cảnh sát tên là Ma-rô-ni," cậu nói với viên trung sĩ trực bàn, "bị đuổi khỏi ngành sau khi bị đưa ra xét xử ba năm trước. Tôi nghĩ bản án được hoãn thi hành. Bây giờ cảnh sát có đang truy nã người này không?"
"Sao anh hỏi thế?" viên trung sĩ hỏi, cau mày.
"Tôi nghĩ có thể đang có một khoản tiền thưởng," Mơ-ri thản nhiên giải thích. "Tôi biết rõ người này. Có vẻ dạo này ông ta đang lẩn lút. Tôi có thể tóm được ông ta bất cứ lúc nào. Nếu có tiền thưởng..."
"Chẳng có tiền thưởng nào cả," viên trung sĩ cắt ngang, cộc lốc. "Người ta không truy nã ông ta. Mà cũng chẳng ai cần tới anh. Thế nên cút đi. Anh là bạn ông ta, mà anh định bán ông ta. Cút đi cho nhanh, không tôi cho anh một cú để đi cho lẹ."
Mơ-ri nhìn viên cảnh sát với vẻ đường bệ thanh thản và đức hạnh.
"Tôi chỉ đơn giản làm bổn phận của một công dân và một quý ông," cậu nghiêm khắc nói, "nếu tôi có thể giúp pháp luật tóm được một kẻ phạm tội."
Mơ-ri vội vã quay về chiếc ghế trong công viên. Cậu khoanh tay, co rúm trong bộ quần áo, trở lại dáng vẻ như bóng ma.
Mười phút sau, ông Đại uý trở về chỗ hẹn, ầm ĩ, giông bão như một ngày hè nóng nực ở Can-xát. Cổ áo ông đã bị giật đứt. Mũ rơm bị vặn vẹo, móp méo. Áo sơ-mi kẻ sọc đỏ sẫm toạc tới tận thắt lưng. Và từ đầu tới gối, ông ướt sũng một thứ chất lỏng nhờn nhợt, kinh tởm, thô bỉ, lớn tiếng tuyên bố với cái mũi rằng thành phần của nó có tỏi và đồ thừa trong bếp.
"Trời đất ơi, ông Đại uý," Mơ-ri khịt mũi, "giá tôi ngờ ông tuyệt vọng tới mức đi bới thùng nước gạo thì tôi đã chẳng đợi ông. Tôi..."
"Im đi," ông Đại uý nói, giọng gay gắt. "Tao chưa tới mức ăn đồ của lợn. Mấy thứ này chỉ dính bên ngoài thôi. Tao vòng sang phố Ét-xếch cầu hôn con Ca-tri-na có cái sạp hoa quả ở đấy. Cái sạp ấy mà gây dựng thì cũng nên cơ nghiệp. Con bé cũng xinh ra phết. Tuần trước tao cứ tưởng chắc chắn đã làm nó mê rồi. Nhưng xem nó làm gì tao này! Chắc tao hơi sỗ sàng quá. Thôi, lại một kế hoạch nữa hỏng bét."
"Ông đừng bảo tôi," Mơ-ri nói, với vẻ khinh miệt vô hạn, "là ông định cưới người đàn bà ấy để tự cứu mình khỏi cảnh khốn đốn nhục nhã đấy nhé!"
"Tao á?" ông Đại uý nói. "Tao sẵn sàng cưới cả Hoàng hậu nước Trung Hoa để đổi lấy một bát xào thập cẩm. Tao sẵn sàng giết người để đổi lấy một đĩa thịt bò hầm. Tao sẵn sàng cướp mẩu bánh quế của một đứa trẻ lang thang. Tao sẵn sàng theo đạo Moóc-môn lấy cả chục vợ để đổi lấy một bát canh cá."
"Tôi nghĩ," Mơ-ri nói, ôm đầu trong hai tay, "tôi sẵn sàng làm Giu-đa để đổi lấy một ly uýt-ki. Với ba mươi đồng bạc, tôi sẵn sàng..."
"Ôi, thôi đi!" ông Đại uý hốt hoảng kêu lên. "Mày không làm thế đâu, Mơ-ri! Tao vẫn luôn nghĩ cái vụ Giu-đa bán thầy là trò đê tiện nhất từng xảy ra trên đời. Kẻ bán đứng bạn mình còn tệ hơn quân cướp biển."
Một người đàn ông to lớn bước qua công viên, đưa mắt nhìn những chiếc ghế dưới ánh đèn điện.
"Anh đấy à, Ma-rô-ni?" ông ta nói, dừng lại trước hai kẻ trôi dạt. Chiếc ghim cài cà-vạt kim cương của ông ta loá mắt. Sợi dây đồng hồ nạm kim cương phụ hoạ. Ông ta to lớn, nhẵn nhụi, ăn uống đầy đủ. "Phải, tôi thấy đúng là anh rồi," ông ta nói tiếp. "Ở quán Mai-cơ người ta bảo có thể tìm thấy anh ở đây. Cho tôi gặp anh vài phút, Ma-rô-ni."
Ông Đại uý nhổm dậy với một tiếng càu nhàu đầy hăng hái. Nếu Sác-li Phin-nơ-gan đã xuống tận đáy vực không đáy để tìm ông, thì hẳn phải có chuyện gì đó. Sác-li khoác tay dẫn ông vào một khoảng tối.
"Anh biết đấy, Ma-rô-ni," ông ta nói, "người ta đang xử thanh tra Pích-cơ-rinh về tội ăn hối lộ."
"Ông ấy từng là thanh tra của tôi," ông Đại uý nói.
"Ô Sê muốn cái ghế ấy," Phin-nơ-gan nói tiếp. "Ông ta phải có nó. Vì lợi ích của tổ chức. Pích-cơ-rinh phải đổ. Lời khai của anh sẽ làm được việc ấy. Hồi anh còn trong ngành, ông ta là 'người ở trên' của anh. Phần chia chác của ông ta đi qua tay anh. Anh phải ra toà làm chứng chống lại ông ta."
"Ông ấy từng là..." ông Đại uý bắt đầu.
"Khoan đã," Phin-nơ-gan nói. Một xấp giấy vàng vàng chui ra từ túi áo trong của ông ta. "Trong này có năm trăm đô-la cho anh. Hai trăm rưỡi ngay tại chỗ, phần còn lại thì..."
"Ông ấy từng là bạn tôi, tôi nói thế," ông Đại uý nói hết câu. "Tôi thà nhìn ông, cả bè lũ của ông, cả thành phố và cả cái đảng ấy chìm trong lửa địa ngục, còn hơn ra toà làm chứng chống lại Đan Pích-cơ-rinh. Tôi sa cơ thất thế rồi, nhưng tôi không phản bội một người từng là bạn tôi." Giọng ông Đại uý vang lên, ồ ồ như cây kèn trom-bôn bị nứt. "Cút khỏi công viên này đi, Sác-li Phin-nơ-gan, ở đây bọn trộm cắp, ăn mày, bợm rượu chúng tôi còn hơn ông, và mang cả đồng tiền bẩn thỉu của ông đi."
Phin-nơ-gan lặng lẽ đi ra bằng một lối khác. Ông Đại uý quay về chỗ ngồi.
"Tôi không tránh khỏi nghe thấy," Mơ-ri nói, giọng ảm đạm. "Tôi nghĩ ông là thằng ngốc nhất tôi từng gặp."
"Thế mày thì mày làm gì?" ông Đại uý hỏi.
"Đóng đinh Pích-cơ-rinh lên thập giá," Mơ-ri nói.
"Con ạ," ông Đại uý nói, giọng khàn khàn, không chút giận dữ. "Mày với tao khác nhau. New York chia làm hai phần, phía trên phố Bốn mươi hai và phía dưới phố Mười bốn. Mày đến từ phía trên, còn tao từ phía dưới. Mỗi người chúng ta hành xử theo cái lẽ của mình."
Một chiếc đồng hồ thắp đèn trên ngọn cây báo rằng còn nửa tiếng nữa là mười hai giờ. Cả hai người đứng dậy khỏi ghế và cùng đi, như thể cùng bị một ý nghĩ chiếm lấy. Họ rời công viên, đi xuyên qua một con phố ngang hẹp, rồi ra phố Brốt-uê, giờ này tối om, vang vọng và vắng người như một ngõ nhỏ ở thành Pôm-pây.
Họ rẽ lên phía bắc. Một viên cảnh sát liếc nhìn hai dáng người lôi thôi, lén lút của họ, và không dành cho họ sự chú ý, nghi ngờ mà vào giờ khác, ở nơi khác, hẳn ông đã dành cho họ. Vì trên mọi con phố ở khu ấy của thành phố, những dáng người lôi thôi, lén lút khác cũng đang lê bước, hối hả về một điểm hội tụ, một điểm chẳng được đánh dấu bằng tượng đài nào ngoài cái rãnh trên mặt đường bị hàng chục nghìn bàn chân đứng đợi mài mòn.
Ở phố Chín, một người đàn ông cao lớn đội mũ chóp cao bước xuống từ một chiếc xe điện phố Brốt-uê, quay mặt về phía tây. Nhưng ông ta trông thấy Mơ-ri, liền chộp lấy cậu, kéo cậu tới dưới ngọn đèn đường. Ông Đại uý chậm chạp lê tới góc phố như một con gấu bị thương, đứng chờ, gầm gừ.
"Giê-ri!" người đội mũ kêu lên, gọi Mơ-ri bằng tên thân. "May quá! Mai tôi định bắt đầu đi tìm cậu đấy. Ông cụ đã đầu hàng rồi. Cậu sẽ được trở lại như xưa. Xin chúc mừng. Sáng mai cậu tới văn phòng, muốn bao nhiêu tiền cũng được. Tôi được dặn dò rất rộng rãi về khoản ấy."
"Còn cái thoả thuận hôn nhân nho nhỏ thì sao?" Mơ-ri nói, đầu quay sang một bên.
"Thì, ờ, tất nhiên rồi, chú cậu hiểu, chú cậu mong rằng việc đính hôn giữa cậu và cô Van-đơ-hớt sẽ được..."
"Chúc ngủ ngon," Mơ-ri nói, bước đi.
"Đồ điên!" người kia kêu lên, níu lấy tay cậu. "Cậu định từ bỏ hai triệu đô-la chỉ vì..."
"Anh đã bao giờ thấy cái mũi của cô ấy chưa, ông bạn?" Mơ-ri hỏi, trịnh trọng.
"Nhưng nghe lẽ phải đi, Giê-ri. Cô Van-đơ-hớt là người thừa kế, và..."
"Anh đã thấy nó chưa?"
"Thôi được, tôi thừa nhận là mũi cô ấy không được..."
"Chúc ngủ ngon!" Mơ-ri nói. "Bạn tôi đang đợi. Anh cứ về báo lại là: không đời nào. Chúc ngủ ngon."
Một hàng người đứng đợi ngoằn ngoèo kéo dài từ một cánh cửa trên phố Mười, ngược lên phố Brốt-uê, dọc mép ngoài vỉa hè. Ông Đại uý và Mơ-ri nhập vào cuối con rết đang run rẩy ấy.
"Dài hơn tối qua sáu thước," Mơ-ri nói, ngước nhìn góc nhà thờ Ân Sủng mà cậu vẫn dùng làm mốc đo.
"Nửa tiếng nữa," ông Đại uý gầm gừ, "mới tới lượt mình lĩnh mẩu bánh mì."
Các đồng hồ thành phố bắt đầu điểm mười hai giờ. Hàng người chờ phát bánh mì chầm chậm tiến lên, những bàn chân đi giày da lết trên mặt đá với tiếng xì xì như rắn trườn, trong khi những người đã sống theo cái lẽ của riêng mình khép lại hàng phía sau.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn