Ông giáo sư nhận được một bức điện từ nhà máy Li-a-li-cốp: người ta xin ông đến ngay cho. Con gái của một bà Li-a-li-cô-va nào đó, hình như là chủ nhà máy, đang ốm, ngoài ra chẳng hiểu thêm được gì từ bức điện dài dòng, viết lủng củng ấy. Ông giáo sư không đi, mà cử người bác sĩ nội trú của mình là Cô-rô-li-ốp đi thay.
Phải đi tàu hoả hai ga từ Mát-xcơ-va, rồi đi xe ngựa thêm chừng bốn dặm nữa. Người ta cho một cỗ xe ba ngựa ra ga đón Cô-rô-li-ốp. Anh xà ích đội mũ cắm lông công, và hỏi gì anh ta cũng đáp to theo kiểu nhà binh: "Bẩm không ạ!", "Bẩm đúng thế ạ!" Đó là một buổi chiều thứ bảy, mặt trời đang lặn. Từ nhà máy ra ga, công nhân đi từng đoàn, và họ cúi chào những con ngựa đang kéo xe Cô-rô-li-ốp. Buổi chiều làm anh say mê, cả những trang trại, những biệt thự hai bên đường, cả những cây bạch dương, cả cái không khí êm đềm xung quanh, khi mà dường như cùng với những người thợ, giờ đây, vào đêm trước ngày lễ, cả cánh đồng, cả khu rừng, cả mặt trời cũng đang sửa soạn nghỉ ngơi, nghỉ ngơi và có lẽ cầu nguyện…
Anh sinh ra và lớn lên ở Mát-xcơ-va, chẳng biết gì về nông thôn, chưa bao giờ quan tâm đến các nhà máy, cũng chưa từng đến nhà máy nào. Nhưng anh đã từng đọc về các nhà máy, từng đến chơi nhà các chủ xưởng và trò chuyện với họ. Và lần nào trông thấy một nhà máy, dù từ xa hay ở gần, anh cũng nghĩ rằng bên ngoài thì mọi thứ yên tĩnh, hiền hoà, còn bên trong hẳn là sự dốt nát không sao vượt nổi và sự ích kỷ đần độn của các ông chủ, là công việc buồn tẻ, độc hại của người thợ, là cãi cọ, rượu chè, chấy rận. Và giờ đây, khi những người thợ kính cẩn và rụt rè tránh sang bên nhường đường cho cỗ xe, anh đoán ra trên mặt họ, trên những chiếc mũ lưỡi trai, trong dáng đi của họ, sự nhơ nhớp thân thể, rượu chè, thần kinh căng thẳng, sự hoang mang.
Xe vào cổng nhà máy. Hai bên thấp thoáng những ngôi nhà nhỏ của công nhân, những gương mặt đàn bà, quần áo và chăn phơi trên bậc thềm. Anh xà ích hét "Tránh ra!" mà không ghìm ngựa lại. Đây là một khoảng sân rộng không một ngọn cỏ, trên đó có năm toà nhà xưởng khổng lồ với những ống khói, cách xa nhau, những kho hàng, những dãy lán, và trên tất cả phủ một lớp gì đó xám xịt như bụi. Chỗ này chỗ kia, như những ốc đảo giữa sa mạc, có những khu vườn nhỏ tội nghiệp và những mái nhà màu xanh hay đỏ của những ngôi nhà nơi ban quản lý ở. Anh xà ích bỗng ghìm ngựa, và cỗ xe dừng lại trước một ngôi nhà mới quét lại màu xám. Ở đây có một mảnh vườn nhỏ trồng tử đinh hương phủ đầy bụi, và trên bậc thềm màu vàng sặc mùi sơn.
Những giọng phụ nữ ở gian ngoài và phòng ngoài nói, kèm theo những tiếng thở dài và thì thầm:
— Mời bác sĩ vào ạ. Mời bác sĩ vào, chúng tôi đợi mãi… khổ quá đi mất. Mời bác sĩ vào lối này ạ.
Bà Li-a-li-cô-va, một bà béo đã có tuổi, mặc chiếc váy lụa đen tay áo theo mốt, nhưng nhìn mặt thì là người giản dị, ít học, nhìn ông bác sĩ lo lắng và ngần ngại không dám đưa tay ra bắt. Bên cạnh bà là một người tóc cắt ngắn, đeo kính kẹp mũi, mặc chiếc áo cánh sặc sỡ nhiều màu, gầy gò và đã không còn trẻ. Người hầu gọi cô ta là Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na, và Cô-rô-li-ốp đoán đó là bà gia sư. Có lẽ, là người có học nhất trong nhà, cô ta được giao việc đón tiếp ông bác sĩ, vì cô ta lập tức vội vã trình bày nguyên nhân bệnh, với những chi tiết vụn vặt, dai dẳng, nhưng không nói ai ốm và ốm thế nào.
Ông bác sĩ và bà gia sư ngồi nói chuyện, còn bà chủ nhà thì đứng bất động bên cửa, chờ đợi. Qua câu chuyện, Cô-rô-li-ốp hiểu rằng người ốm là Li-da, cô gái hai mươi tuổi, con gái duy nhất của bà Li-a-li-cô-va, người thừa kế. Cô ốm đã lâu và được nhiều bác sĩ chữa, còn đêm vừa rồi, từ tối đến sáng, tim cô đập dồn dập đến nỗi cả nhà không ai ngủ được, sợ cô chết mất.
Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na kể bằng giọng ê a như hát, chốc chốc lại lấy tay chùi môi:
— Có thể nói cô ấy ốm yếu từ thuở bé. Các bác sĩ bảo là thần kinh, nhưng hồi cô ấy còn bé, các bác sĩ đã đẩy bệnh tràng nhạc vào trong người cô ấy, nên tôi nghĩ có khi là vì thế.
Họ đến chỗ người bệnh. Đã hoàn toàn là người lớn, to cao, nhưng không đẹp, giống mẹ, cũng đôi mắt nhỏ như thế, và phần dưới khuôn mặt rộng, phát triển quá mức, đầu tóc không chải, đắp chăn đến tận cằm, thoạt đầu cô gây cho Cô-rô-li-ốp ấn tượng về một sinh vật bất hạnh, thảm hại, mà người ta vì thương hại đã đem về sưởi ấm và che chở ở đây. Thật khó tin đó là người thừa kế của năm toà nhà xưởng khổng lồ.
Cô-rô-li-ốp bắt đầu:
— Chúng tôi đến đây để chữa cho cô. Chào cô.
Anh tự giới thiệu và bắt tay cô, một bàn tay to, lạnh, không đẹp. Cô ngồi dậy, và rõ ràng đã quen với bác sĩ từ lâu, thản nhiên để anh khám.
Cô nói:
— Tôi bị tim đập mạnh. Cả đêm khủng khiếp quá… tôi suýt chết vì sợ! Ông cho tôi uống thứ gì đi.
— Có, có chứ! Cô bình tĩnh lại.
Cô-rô-li-ốp khám cho cô rồi nhún vai.
Anh nói:
— Tim vẫn bình thường, mọi thứ đều ổn cả, đều bình thường. Có lẽ thần kinh hơi bị xáo động một chút, nhưng chuyện ấy thường lắm. Chắc là cơn đã qua rồi, cô cứ nằm mà ngủ đi.
Lúc ấy người ta mang một cây đèn vào phòng ngủ. Người bệnh nheo mắt trước ánh đèn, rồi bỗng ôm lấy đầu mà nức nở. Và cái ấn tượng về một sinh vật thảm hại, xấu xí bỗng biến mất, Cô-rô-li-ốp không còn để ý đến đôi mắt nhỏ hay phần dưới khuôn mặt phát triển thô kệch nữa. Anh thấy một vẻ mặt dịu dàng, đau khổ, thông minh và cảm động biết bao, và cả con người cô bỗng như thon thả, đầy nữ tính, giản dị, và anh muốn làm cô dịu lại không phải bằng thuốc men hay lời khuyên, mà bằng một lời âu yếm giản dị. Người mẹ ôm lấy đầu con gái, áp vào mình. Bao nhiêu tuyệt vọng, bao nhiêu đau buồn trên mặt bà già! Bà, người mẹ, đã nuôi nấng con khôn lớn, chẳng tiếc gì, đã dành cả cuộc đời để cho con học tiếng Pháp, học khiêu vũ, học âm nhạc, mời về cho con cả chục thầy giáo, những bác sĩ giỏi nhất, thuê cả bà gia sư, vậy mà giờ đây bà không hiểu những giọt nước mắt này từ đâu ra, vì sao lại khổ sở đến thế. Bà không hiểu, bà rối trí, và mặt bà mang một vẻ như có lỗi, lo âu, tuyệt vọng, như thể bà đã bỏ sót một điều gì đó còn rất quan trọng, còn chưa làm một việc gì đó, còn chưa mời một người nào đó, mà là ai thì chẳng biết.
Bà ôm chặt con vào lòng, nói:
— Li-dan-ca, con lại thế rồi… con lại thế rồi. Con yêu của mẹ, con bé bỏng của mẹ, con ơi, nói cho mẹ biết con làm sao? Thương mẹ với, nói đi con.
Cả hai mẹ con khóc nức nở. Cô-rô-li-ốp ngồi xuống mép giường, cầm lấy tay Li-da.
Anh nói dịu dàng:
— Thôi nào, có đáng khóc không? Trên đời này chẳng có gì đáng để rơi những giọt nước mắt ấy cả. Thôi, ta đừng khóc nữa, chẳng cần đâu…
Còn trong bụng anh nghĩ: "Đến lúc gả chồng cho cô ấy rồi…"
Bà gia sư nói:
— Ông bác sĩ nhà máy của chúng tôi cho cô ấy uống ka-li bờ-rô-mua, nhưng tôi để ý thấy uống vào cô ấy chỉ tệ thêm. Theo tôi, đã cho uống thuốc tim thì phải là thuốc nhỏ… quên mất tên gọi là gì rồi… Thuốc linh lan thì phải.
Và lại đủ thứ chi tiết vụn vặt. Cô ta ngắt lời ông bác sĩ, không để anh nói, và trên mặt cô ta hiện rõ sự cố gắng, như thể cô ta cho rằng, là người phụ nữ có học nhất trong nhà, mình có bổn phận phải trò chuyện không ngừng với ông bác sĩ, mà nhất định phải là chuyện y học.
Cô-rô-li-ốp thấy chán.
Ra khỏi phòng ngủ, anh nói với người mẹ:
— Tôi chẳng thấy có gì đặc biệt. Nếu con gái bà đã được bác sĩ nhà máy chữa, thì cứ để ông ấy chữa tiếp. Cách chữa từ trước tới giờ vẫn đúng, và tôi không thấy cần phải đổi bác sĩ. Đổi để làm gì? Bệnh rất thông thường, chẳng có gì nghiêm trọng…
Anh thong thả nói, vừa nói vừa đeo găng tay, còn bà Li-a-li-cô-va thì đứng bất động, nhìn anh bằng đôi mắt đẫm lệ.
Anh nói:
— Còn nửa giờ nữa là đến chuyến tàu mười giờ, tôi hy vọng là không bị lỡ.
Bà hỏi, và nước mắt lại chảy trên má:
— Ông không ở lại đây với chúng tôi được à?
Bà nói tiếp, khẽ khàng, ngoái nhìn ra cửa:
— Thật áy náy phải làm phiền ông, nhưng ông làm ơn… vì Chúa, ông ngủ lại đây với chúng tôi một đêm. Nó là đứa con duy nhất… đứa con gái duy nhất của tôi… Đêm qua nó làm tôi sợ quá, đến giờ tôi vẫn chưa hoàn hồn… Ông đừng đi, vì Chúa…
Anh muốn nói với bà rằng ở Mát-xcơ-va anh có nhiều việc, rằng ở nhà gia đình đang đợi anh. Phải ở cả buổi tối và cả đêm trong nhà người lạ mà chẳng có việc gì cần thiết thì thật nặng nề với anh. Nhưng anh nhìn mặt bà, thở dài, rồi lặng lẽ tháo găng tay.
Người ta thắp hết đèn nến trong phòng lớn và phòng khách cho anh. Anh ngồi bên đàn dương cầm lật giở những bản nhạc, rồi ngắm những bức tranh trên tường, những bức chân dung. Trên những bức tranh sơn dầu lồng khung vàng là cảnh xứ Crưm, biển động với một con thuyền nhỏ, một ông tu sĩ Công giáo cầm ly rượu, và tất cả đều khô khan, láng bóng, vô hồn… Trên những bức chân dung chẳng có lấy một khuôn mặt đẹp, thú vị nào, toàn những gò má rộng, những đôi mắt ngơ ngác. Ông Li-a-li-cốp, bố của Li-da, trán nhỏ, mặt tự mãn, bộ quân phục thùng thình trên tấm thân to lớn chẳng ra dáng dòng dõi, ngực đeo một tấm huy chương và phù hiệu Hội Chữ thập đỏ. Một nền văn hoá nghèo nàn, một sự xa hoa ngẫu nhiên, vô nghĩa, bất tiện, như bộ quân phục kia. Sàn nhà bóng loáng làm người ta khó chịu, chiếc đèn chùm làm người ta khó chịu, và chẳng hiểu sao người ta lại nhớ đến câu chuyện về một ông lái buôn đi nhà tắm mà vẫn đeo huy chương trên cổ…
Từ phòng ngoài vọng vào tiếng thì thầm, có ai đó ngáy khe khẽ. Và bỗng từ ngoài sân vọng vào những âm thanh gay gắt, đứt quãng, chát chúa như kim loại, những âm thanh Cô-rô-li-ốp chưa từng nghe bao giờ, và giờ đây cũng không hiểu nổi. Chúng vang vọng trong lòng anh một cách lạ lùng và khó chịu.
Anh nghĩ: "Có lẽ chẳng đời nào mình chịu sống ở đây…" Rồi anh lại giở những bản nhạc.
Bà gia sư khẽ gọi:
— Mời bác sĩ dùng bữa ạ!
Anh đi ăn tối. Bàn ăn lớn, đầy những món khai vị và rượu vang, nhưng chỉ có hai người ăn: anh và Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na. Cô ta uống rượu Ma-đe-ra, ăn nhanh, và qua cặp kính kẹp mũi liếc nhìn anh mà nói:
— Thợ thuyền rất hài lòng với chúng tôi. Mùa đông nào ở nhà máy cũng có diễn kịch, chính thợ thuyền đóng, rồi có những buổi đọc sách kèm đèn chiếu, có một phòng trà tuyệt vời, tưởng còn gì hơn nữa. Họ rất gắn bó với chúng tôi, và khi biết Li-dan-ca ốm nặng hơn, họ đã đặt làm một buổi cầu nguyện. Vô học thế, mà cũng biết tình cảm đấy.
Cô-rô-li-ốp nói:
— Hình như trong nhà không có một người đàn ông nào.
— Không có ai cả. Ông Pi-ốt Ni-ca-nô-rư-tsơ mất được một năm rưỡi rồi, chỉ còn lại chúng tôi. Ba người sống với nhau như thế. Mùa hè thì ở đây, mùa đông thì ở Mát-xcơ-va, phố Pô-li-an-ca. Tôi sống với họ mười một năm rồi. Như người nhà.
Bữa tối có cá tầm, chả gà và nước quả hầm. Rượu thì đắt tiền, rượu Pháp.
Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na vừa ăn vừa lấy nắm tay chùi miệng, nói:
— Bác sĩ cứ tự nhiên, đừng khách sáo. Xin mời bác sĩ dùng.
Nhìn là biết cô ta sống ở đây sung sướng thoả thuê lắm.
Ăn tối xong, người ta đưa ông bác sĩ về căn phòng đã dọn giường cho anh. Nhưng anh không muốn ngủ, trong phòng ngột ngạt và sặc mùi sơn. Anh khoác áo măng tô rồi đi ra.
Ngoài sân mát mẻ. Trời đã le lói rạng, và trong không khí ẩm ướt hiện rõ cả năm toà nhà xưởng với những ống khói dài, những dãy lán và những kho hàng. Nhân ngày lễ nên không làm việc, các cửa sổ tối om, chỉ ở một toà nhà là lò vẫn còn cháy, hai ô cửa sổ đỏ rực, và từ ống khói, lẫn với khói, thỉnh thoảng lại phụt ra lửa. Xa xa ngoài sân, ếch nhái kêu và chim hoạ mi hót.
Nhìn những toà nhà xưởng và những dãy lán nơi công nhân đang ngủ, anh lại nghĩ đến điều anh vẫn luôn nghĩ mỗi khi trông thấy nhà máy. Cứ cho là có những buổi diễn kịch cho công nhân, có đèn chiếu, có bác sĩ nhà máy, có đủ thứ cải tiến, nhưng dù sao những người thợ anh gặp hôm nay trên đường từ ga về cũng chẳng khác gì về bề ngoài so với những người thợ anh từng thấy từ lâu, hồi còn nhỏ, khi chưa có kịch nhà máy và những cải tiến. Là một thầy thuốc vẫn phán đoán đúng đắn về những bệnh mạn tính mà căn nguyên sâu xa không hiểu được và không chữa được, anh cũng nhìn các nhà máy như một sự hiểu lầm mà nguyên nhân cũng mù mờ và không loại bỏ được. Mọi cải tiến trong đời sống người thợ, anh không cho là thừa, nhưng anh coi chúng ngang với việc chữa những căn bệnh nan y.
Nhìn những ô cửa sổ đỏ rực, anh nghĩ: "Dĩ nhiên ở đây có sự hiểu lầm… Một nghìn rưỡi, hai nghìn công nhân làm không nghỉ, trong môi trường độc hại, dệt ra thứ vải hoa tồi, sống nửa đói nửa no, và chỉ thỉnh thoảng mới tỉnh khỏi cơn ác mộng ấy trong quán rượu. Một trăm người giám sát công việc, và cả cuộc đời trăm người ấy trôi qua trong việc ghi tiền phạt, chửi mắng, bất công, và chỉ có hai ba người, gọi là chủ, hưởng lợi, dù chẳng làm gì cả và khinh thường thứ vải hoa tồi. Nhưng lợi gì, họ hưởng ra sao? Bà Li-a-li-cô-va và con gái thì bất hạnh, nhìn mà thương, chỉ có mỗi Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na, một cô gái già hơi ngốc đeo kính kẹp mũi, là sống sung sướng. Vậy hoá ra cả năm toà nhà xưởng này làm việc, và thứ vải hoa tồi được bán ở các chợ phương Đông, chỉ để cho Khri-xti-na Đmi-tri-ép-na được ăn cá tầm và uống rượu Ma-đe-ra."
Bỗng vang lên những âm thanh kỳ lạ, chính những âm thanh mà Cô-rô-li-ốp đã nghe trước bữa tối. Bên một toà nhà xưởng, có ai đó gõ vào một tấm kim loại, gõ xong lại lập tức chặn tiếng lại, nên thành ra những tiếng ngắn, chói, đục, nghe như "đe… đe… đe…". Rồi nửa phút lặng im, và bên một toà nhà khác vang lên những tiếng cũng đứt quãng và khó chịu như thế, nhưng trầm hơn, như tiếng trầm "đrưn… đrưn… đrưn…" Mười một lần. Hẳn là những người gác đang gõ báo mười một giờ.
Bên toà nhà thứ ba vang lên: "giắc… giắc… giắc…" Và cứ thế bên tất cả các toà nhà, rồi sau các dãy lán và ngoài cổng. Và nghe như giữa đêm thanh vắng, chính con quái vật mắt đỏ rực phát ra những âm thanh ấy, chính con quỷ đang thống trị nơi đây cả chủ lẫn thợ, và lừa dối cả đôi bên.
Cô-rô-li-ốp ra khỏi sân, đi ra cánh đồng.
Ở cổng có giọng thô lỗ quát hỏi anh:
— Ai đấy?
Anh nghĩ: "Cứ như trong nhà tù…" Và không đáp gì.
Ngoài này nghe rõ hơn tiếng chim hoạ mi và tiếng ếch nhái, cảm thấy được đêm tháng Năm. Từ nhà ga vọng lại tiếng tàu hoả. Đâu đó những con gà trống ngái ngủ gáy, nhưng dù sao đêm vẫn yên tĩnh, thế gian yên lành say ngủ. Ngoài cánh đồng, không xa nhà máy, có một cái khung nhà gỗ dựng dở, vật liệu xây dựng chất đống ở đó. Cô-rô-li-ốp ngồi lên đống ván và nghĩ tiếp:
"Ở đây chỉ có mỗi bà gia sư là thấy dễ chịu, và nhà máy làm việc để cho bà ta vui sướng. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, bà ta chỉ là bù nhìn đứng tên. Còn kẻ chính yếu mà mọi thứ ở đây được làm ra cho hắn, chính là con quỷ."
Và anh nghĩ về con quỷ mà anh không tin là có, và ngoảnh nhìn hai ô cửa sổ đang rực lửa. Anh cảm thấy như chính con quỷ đang nhìn anh bằng đôi mắt đỏ rực ấy, cái sức mạnh vô danh đã tạo ra quan hệ giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, cái sai lầm thô bạo mà giờ đây chẳng gì sửa chữa được. Kẻ mạnh phải cản trở kẻ yếu sống, đó là quy luật tự nhiên. Nhưng điều ấy chỉ dễ hiểu và dễ lọt tai trong một bài báo hay một cuốn giáo khoa. Còn trong cái mớ hỗn độn là cuộc sống thường ngày, trong cái mớ bòng bong của những chuyện vặt vãnh dệt nên quan hệ giữa người với người, thì đó không còn là quy luật nữa, mà là một điều phi lý, khi cả kẻ mạnh lẫn kẻ yếu đều trở thành nạn nhân của mối quan hệ giữa họ với nhau, bất giác phục tùng một sức mạnh điều khiển nào đó, vô danh, đứng ngoài cuộc sống, xa lạ với con người. Cô-rô-li-ốp ngồi trên đống ván mà nghĩ như thế, và dần dần anh rơi vào một tâm trạng như thể cái sức mạnh vô danh, bí ẩn ấy thật sự đang ở gần đây và đang nhìn. Trong khi ấy, phương đông mỗi lúc một nhợt nhạt hơn, thời gian trôi nhanh. Năm toà nhà xưởng và những ống khói trên nền xám của bình minh, khi xung quanh chẳng có một bóng người, như thể mọi thứ đã chết hết, mang một vẻ đặc biệt, khác hẳn ban ngày. Người ta hoàn toàn quên mất rằng bên trong có những động cơ hơi nước, có điện, có điện thoại, mà chẳng hiểu sao cứ nghĩ đến những ngôi nhà sàn, đến thời đồ đá, cảm thấy sự hiện diện của một sức mạnh thô bạo, vô thức…
Và lại vang lên:
— Đe… đe… đe… đe…
Mười hai lần. Rồi lặng im, lặng im nửa phút, và ở đầu kia sân vang lên:
— Đrưn… đrưn… đrưn…
Cô-rô-li-ốp nghĩ: "Khó chịu kinh khủng!"
Ở chỗ thứ ba vang lên, đứt quãng, gay gắt, như bực bội:
— Giắc… giắc… giắc… giắc…
Và để gõ báo mười hai giờ, phải mất đến bốn phút. Rồi lặng đi. Và lại cái ấn tượng như thể mọi thứ xung quanh đều đã chết.
Cô-rô-li-ốp ngồi thêm một lúc rồi trở về nhà, nhưng còn lâu vẫn chưa đi nằm. Trong các phòng bên có tiếng thì thầm, tiếng dép lê và tiếng chân trần lẹp xẹp.
Cô-rô-li-ốp nghĩ: "Hay cô ấy lại lên cơn?"
Anh đi ra để xem người bệnh. Trong các phòng trời đã sáng hẳn, và ở phòng lớn, trên tường và trên sàn, run rẩy một thứ ánh nắng yếu ớt lọt qua làn sương sớm. Cửa phòng Li-da để ngỏ, và chính cô ngồi trên chiếc ghế bành cạnh giường, mặc áo mặc nhà, quấn khăn choàng, đầu tóc không chải. Rèm cửa sổ buông xuống.
Cô-rô-li-ốp hỏi:
— Cô thấy trong người thế nào?
— Cảm ơn ông.
Anh bắt mạch cho cô, rồi vén lại những sợi tóc rủ xuống trán cô.
Anh nói:
— Cô không ngủ. Ngoài trời đẹp thế, mùa xuân, chim hoạ mi hót, mà cô lại ngồi trong bóng tối nghĩ ngợi điều gì đó.
Cô lắng nghe và nhìn vào mặt anh. Đôi mắt cô buồn và thông minh, và có thể thấy cô muốn nói với anh một điều gì đó.
Anh hỏi:
— Cô hay bị thế này lắm à?
Cô mấp máy môi rồi đáp:
— Hay lắm. Gần như đêm nào tôi cũng thấy nặng nề.
Đúng lúc ấy ngoài sân những người gác bắt đầu gõ báo hai giờ. Nghe thấy "đe… đe…", và cô rùng mình.
Anh hỏi:
— Những tiếng gõ ấy làm cô bồn chồn phải không?
Cô đáp rồi ngẫm nghĩ:
— Tôi không biết. Ở đây cái gì cũng làm tôi bồn chồn. Cái gì cũng thế. Trong giọng ông tôi nghe thấy sự cảm thông. Chẳng hiểu sao ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã có cảm giác là với ông, có thể nói được mọi điều.
— Cô cứ nói đi, tôi xin cô.
— Tôi muốn nói với ông ý nghĩ của tôi. Tôi nghĩ tôi chẳng phải bị bệnh, mà tôi bồn chồn và sợ hãi là vì lẽ ra phải như thế, không thể khác được. Ngay cả một người khoẻ mạnh nhất cũng không thể không lo lắng, nếu chẳng hạn có một tên cướp đang đi lại dưới cửa sổ nhà mình.
Cô nhìn xuống đầu gối, mỉm cười bẽn lẽn, nói tiếp:
— Người ta chữa cho tôi nhiều lắm. Dĩ nhiên tôi rất biết ơn, và không phủ nhận ích lợi của việc chữa bệnh, nhưng tôi muốn được nói chuyện không phải với một bác sĩ, mà với một người thân, với một người bạn, người hiểu được tôi, thuyết phục được tôi rằng tôi đúng hay sai.
Cô-rô-li-ốp hỏi:
— Chẳng lẽ cô không có bạn bè?
— Tôi cô đơn. Tôi có mẹ, tôi yêu mẹ, nhưng dù sao tôi vẫn cô đơn. Cuộc đời đã sắp đặt như thế… Những người cô đơn đọc nhiều, nhưng ít nói và ít được nghe, với họ cuộc đời đầy bí ẩn. Họ là những người thần bí, và thường thấy quỷ ở những chỗ không có quỷ. Nàng Ta-ma-ra trong thơ Léc-môn-tốp cô đơn và đã trông thấy quỷ.
— Cô đọc sách nhiều không?
— Nhiều lắm. Vì tôi rảnh suốt, từ sáng đến tối. Ban ngày tôi đọc, còn ban đêm thì đầu óc trống rỗng, thay cho ý nghĩ là những cái bóng gì đó.
Cô-rô-li-ốp hỏi:
— Ban đêm cô có trông thấy gì không?
— Không, nhưng tôi cảm thấy…
Cô lại mỉm cười, ngước mắt nhìn ông bác sĩ, nhìn buồn bã và thông minh biết bao. Và anh có cảm giác cô tin anh, muốn nói chuyện thành thật với anh, và cô cũng nghĩ giống như anh. Nhưng cô im lặng, và có lẽ đang chờ xem anh có nói gì không.
Và anh biết phải nói gì với cô. Với anh, rõ ràng cô cần phải mau chóng rời bỏ năm toà nhà xưởng và một triệu rúp, nếu cô có ngần ấy, rời bỏ con quỷ đang nhìn vào ban đêm kia. Anh cũng thấy rõ rằng chính cô cũng nghĩ như thế, và chỉ chờ một người cô tin xác nhận điều ấy.
Nhưng anh không biết nói điều ấy thế nào. Thế nào đây? Với những người bị kết án, người ta ngại hỏi họ bị kết án vì sao. Với những người rất giàu cũng vậy, người ta thấy ngượng khi hỏi họ cần nhiều tiền thế để làm gì, sao họ sử dụng của cải tồi tệ thế, sao họ không vứt bỏ nó đi, ngay cả khi thấy rằng nó là nỗi bất hạnh của họ. Và nếu có bắt đầu câu chuyện ấy, thì thường nó cũng thành ra ngượng ngập, vụng về, dài dòng.
Cô-rô-li-ốp đắn đo: "Nói thế nào đây? Mà có cần nói không?"
Và anh nói điều anh muốn nói, nhưng không nói thẳng, mà nói vòng vo:
— Ở địa vị một bà chủ nhà máy và một người thừa kế giàu có, cô thấy không hài lòng, cô không tin vào quyền của mình, và giờ thì cô không ngủ được. Dĩ nhiên như thế còn hơn là cô hài lòng, ngủ say và nghĩ rằng mọi chuyện đều tốt đẹp. Chứng mất ngủ của cô là một chứng mất ngủ đáng kính. Dù sao đi nữa, đó cũng là một dấu hiệu tốt. Quả thật, ở thời cha mẹ chúng ta, một cuộc trò chuyện như của chúng ta bây giờ là chuyện không thể tưởng tượng được. Ban đêm họ chẳng chuyện trò gì, mà ngủ say. Còn chúng ta, thế hệ chúng ta, thì ngủ kém, day dứt, nói nhiều, và cứ tự hỏi mình đúng hay sai. Còn với con cháu chúng ta, câu hỏi ấy, họ đúng hay sai, sẽ được giải quyết rồi. Họ sẽ nhìn rõ hơn chúng ta. Năm mươi năm nữa cuộc sống sẽ tốt đẹp, chỉ tiếc là chúng ta không sống được tới đó. Giá được nhìn thấy thì thú vị lắm.
Li-da hỏi:
— Thế con cháu chúng ta sẽ làm gì?
— Tôi không biết… Có lẽ họ sẽ vứt bỏ tất cả mà ra đi.
— Đi đâu?
Cô-rô-li-ốp bật cười:
— Đi đâu à?.. Đi đâu cũng được. Một con người tốt, thông minh thì thiếu gì nơi để đi.
Anh xem đồng hồ.
Anh nói:
— Mặt trời mọc rồi đấy. Cô phải ngủ thôi. Cô thay áo rồi ngủ cho khoẻ.
Anh bắt tay cô, nói tiếp:
— Tôi rất vui được quen cô. Cô là một người dễ mến, thú vị. Chúc cô ngủ ngon!
Anh về phòng mình và đi ngủ.
Sáng hôm sau, khi người ta đưa xe đến, mọi người ra bậc thềm tiễn anh. Li-da mặc áo trắng như ngày lễ, cài một bông hoa trên tóc, xanh xao, uể oải. Cô nhìn anh như hôm qua, buồn bã và thông minh, mỉm cười, trò chuyện, và tất cả đều với một vẻ như cô muốn nói với anh một điều gì đặc biệt, quan trọng, chỉ với riêng mình anh. Nghe thấy tiếng sơn ca hót, tiếng chuông nhà thờ ngân. Những ô cửa sổ của các toà nhà xưởng vui vẻ sáng lấp lánh, và khi đi qua sân, rồi trên đường ra ga, Cô-rô-li-ốp không còn nhớ gì đến những người thợ, đến những ngôi nhà sàn, đến con quỷ nữa, mà nghĩ về cái thời, có lẽ đã gần, khi cuộc sống sẽ sáng sủa và vui tươi như buổi sáng chủ nhật êm đềm này. Và anh nghĩ, vào một buổi sáng như thế này, giữa mùa xuân, được ngồi trên cỗ xe ba ngựa, trong một chiếc xe tốt, sưởi nắng, thật là dễ chịu biết bao.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn