Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một cơ hội mong manh

của O. Henry

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 15.324 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Mà lại là một cái máng gạch! — Bà…
  2. 3:14Bà Phi-sơ-Xum-kin là trái mận to đầu tiên mà…
  3. 6:48Tôi nghĩ là có, — Tơ-rân đáp. — Cứ…
  4. 8:58Bữa điểm tâm buổi sáng cuối cùng của chuyến…
  5. 10:47Có lẽ tôi phải xấu hổ khi thú thật,…
  6. 12:42Trời đất! — Tơ-rân kêu lên, mắt mở to…
  7. 13:37Nhưng về chuyện hôn ma thì, bà biết đấy,…
  8. 15:03Chứ còn gì nữa? Giờ tôi phải đi chuẩn…

— Mà lại là một cái máng gạch! — Bà Kin-xôn-vinh nhắc lại, giọng thảm thiết.

Bà Be-la-mi Ben-mo nhướng một bên lông mày đầy cảm thông. Bằng cách ấy bà bày tỏ lời chia buồn, kèm một lượng ngạc nhiên ra mặt khá hào phóng.

— Thử nghĩ xem, bà ta đi đâu cũng kể, — bà Kin-xôn-vinh kể lại, — rằng bà ta thấy một hồn ma trong căn phòng bà ta ở đây, căn phòng khách đẹp nhất nhà chúng tôi. Một hồn ma vác cái máng gạch trên vai. Hồn ma một ông già mặc quần yếm, ngậm tẩu, vác máng gạch! Chính cái sự vô lý ấy cho thấy ý đồ độc địa của bà ta. Chưa từng có người nhà Kin-xôn-vinh nào vác máng gạch. Ai cũng biết bố chồng tôi làm giàu nhờ những hợp đồng xây dựng lớn, nhưng ông chưa bao giờ tự tay làm việc ngày nào. Ông cho xây ngôi nhà này theo thiết kế của chính ông. Nhưng... ôi, một cái máng gạch! Sao bà ta lại phải độc ác, ác ý đến thế?

— Thật là quá đáng, — bà Ben-mo khẽ nói, đôi mắt đẹp liếc nhìn tán thưởng khắp căn phòng rộng lớn trang trí màu tím hoa cà và màu vàng cổ. — Mà lại chính trong phòng này bà ấy thấy nó! Ồ không, tôi chẳng sợ ma đâu. Bà đừng lo cho tôi chút nào. Tôi mừng là bà cho tôi ở đây. Tôi thấy ma của dòng họ thú vị lắm! Nhưng thật ra câu chuyện nghe cũng hơi vô lý. Tôi tưởng bà Phi-sơ-Xum-kin phải bịa được cái gì hay hơn chứ. Người ta dùng máng để vác gạch phải không? Sao một hồn ma lại vác gạch vào một biệt thự xây bằng đá cẩm thạch? Tôi rất tiếc, nhưng nó làm tôi nghĩ rằng tuổi tác bắt đầu ảnh hưởng tới bà Phi-sơ-Xum-kin rồi.

— Ngôi nhà này, — bà Kin-xôn-vinh nói tiếp, — được xây trên nền một ngôi nhà cũ mà gia đình chúng tôi ở hồi Cách mạng. Nó có ma thì cũng chẳng có gì lạ. Mà nhà chúng tôi có một ông đại uý Kin-xôn-vinh từng chiến đấu trong đạo quân của tướng Grin, tuy chúng tôi chưa tìm được giấy tờ gì làm bằng. Nếu đã có một hồn ma của dòng họ, thì sao nó không phải là hồn ông ấy, mà lại là hồn một anh thợ nề?

— Hồn ma một vị tổ tiên thời Cách mạng thì cũng hay đấy, — bà Ben-mo đồng ý, — nhưng bà biết đấy, ma quỷ có thể tuỳ tiện, chẳng biết điều tới mức nào. Có lẽ cũng như tình yêu, chúng sinh ra từ con mắt. Một cái lợi của người thấy ma là chuyện của họ chẳng ai bác bỏ được. Với con mắt độc địa thì cái ba lô của người lính thời Cách mạng cũng dễ bị nhìn thành cái máng gạch lắm. Bà Kin-xôn-vinh thân mến, bà đừng nghĩ tới chuyện ấy nữa. Tôi chắc chắn đó là cái ba lô.

— Nhưng bà ta kể với khắp mọi người! — Bà Kin-xôn-vinh than thở, chẳng gì an ủi nổi. — Bà ta còn nhấn mạnh từng chi tiết. Lại còn cái tẩu nữa. Rồi cái quần yếm thì làm sao mà thoát ra được?

— Tôi chẳng định chui vào cái quần yếm ấy đâu, — bà Ben-mo nói, kèm một cái ngáp nén lại rất duyên. — Cứng quá, lại nhăn nhúm. Phê-li-xơ đấy à? Pha nước tắm cho tôi nhé. Bảy giờ bà dùng bữa tối ở biệt thự Đỉnh Vách à, bà Kin-xôn-vinh? Bà thật tốt quá, ghé vào trò chuyện trước bữa tối! Tôi thích những cử chỉ thân mật nho nhỏ với khách như thế. Nó làm cho chuyến thăm có hương vị như ở nhà. Rất tiếc, tôi phải thay đồ đây. Tôi lười lắm, lúc nào cũng để tới phút chót.

Bà Phi-sơ-Xum-kin là trái mận to đầu tiên mà nhà Kin-xôn-vinh lôi ra được từ chiếc bánh nướng xã giao. Đã từ lâu chiếc bánh ấy nằm tít trên ngăn cao ngoài tầm với. Nhưng túi tiền và sự kiên trì cuối cùng đã hạ được nó xuống. Bà Phi-sơ-Xum-kin là chiếc gương phát tín hiệu của đoàn diễu hành giới thượng lưu. Ánh lấp lánh của sự dí dỏm và hành động của bà truyền dọc theo hàng ngũ, chuyển đi những gì mới nhất, táo bạo nhất trong trò chơi phô trương. Trước kia, danh tiếng và vị trí dẫn đầu của bà vững chắc tới mức chẳng cần tới những mánh khoé như đem ếch sống ra làm quà tặng ở buổi khiêu vũ. Nhưng giờ thì những thứ ấy là cần thiết để giữ ngai vàng. Hơn nữa, tuổi trung niên đã tới chủ trì những trò nhảy nhót của bà, chẳng hợp chút nào. Báo chí lá cải đã cắt chỗ dành cho bà từ một trang xuống còn hai cột. Sự dí dỏm của bà thành chua ngoa. Cách cư xử của bà trở nên thô lỗ, thiếu tế nhị hơn, như thể bà cảm thấy nhu cầu của bậc đế vương phải khẳng định quyền độc tôn bằng cách coi thường những phép tắc trói buộc những vị vua chúa nhỏ hơn.

Trước một sức ép nào đó mà nhà Kin-xôn-vinh nắm được, bà đã nhún nhường tới mức hạ cố tới nhà họ, ở lại một buổi tối và một đêm. Bà trả thù bà chủ nhà bằng cách kể, với vẻ khoái trá lạnh lùng và óc hài hước mỉa mai, câu chuyện về bóng ma vác máng gạch. Với bà chủ nhà, đang ngây ngất vì đã lọt được tới gần cái vòng trong mà bà hằng thèm muốn đến thế, thì kết quả ấy là một nỗi thất vọng nặng nề. Ai cũng hoặc thông cảm hoặc chế giễu, mà hai cách bày tỏ ấy chẳng khác nhau là mấy.

Nhưng về sau, hy vọng và tinh thần của bà Kin-xôn-vinh hồi sinh nhờ chộp được một giải thưởng thứ hai, lớn hơn.

Bà Be-la-mi Ben-mo nhận lời tới thăm biệt thự Đỉnh Vách, và sẽ ở lại ba ngày. Bà Ben-mo là một trong những phu nhân trẻ hơn, mà nhan sắc, dòng dõi và tiền của đã cho bà một chỗ ngồi đặt sẵn trong chốn thâm nghiêm nhất, chẳng cần gắng sức chống đỡ. Bà đủ rộng lượng để ban cho bà Kin-xôn-vinh cái vinh dự mà bà ta khao khát đến cháy lòng. Đồng thời, bà nghĩ điều đó sẽ làm Tơ-rân hài lòng biết bao. Biết đâu cuối cùng nó lại giúp bà giải được câu đố là anh.

Tơ-rân là con trai bà Kin-xôn-vinh, hai mươi chín tuổi, khá đẹp trai, có hai ba nét hấp dẫn và bí ẩn. Một là anh rất mực thương mẹ, chuyện ấy đủ lạ để đáng được chú ý. Những nét khác là anh ít nói tới mức làm người ta bực mình, và có vẻ hoặc rất nhút nhát, hoặc rất thâm trầm. Tơ-rân làm bà Ben-mo tò mò, vì bà không chắc anh là loại nào. Bà định nghiên cứu anh thêm ít lâu nữa, trừ phi bà quên mất chuyện ấy. Nếu anh chỉ nhút nhát, bà sẽ bỏ, vì nhút nhát thì chán lắm. Nếu anh thâm trầm, bà cũng sẽ bỏ, vì thâm trầm thì bấp bênh lắm.

Chiều ngày thứ ba bà ở chơi, Tơ-rân đi tìm bà Ben-mo, và thấy bà trong một góc, đang thật sự xem một cuốn an-bum ảnh.

— Bà thật tốt quá, — anh nói, — đã tới đây cứu vãn tình thế cho chúng tôi. Chắc bà đã nghe chuyện bà Phi-sơ-Xum-kin đục thủng con thuyền trước khi đi. Bà ta dùng cái máng gạch phá toang cả một tấm ván đáy. Mẹ tôi buồn tới phát ốm. Trong thời gian ở đây, bà có thể xoay xở thấy giúp chúng tôi một hồn ma không, bà Ben-mo? Một hồn ma thật oách, thật sang, đầu đội vương miện, nách kẹp cuốn sổ séc ấy?

— Bà già ấy hư thật đấy, Tơ-rân, — bà Ben-mo nói, — đi kể những chuyện như thế. Có lẽ cậu cho bà ta ăn tối no quá. Nhưng mẹ cậu đâu có coi chuyện ấy là thật, phải không?

— Tôi nghĩ là có, — Tơ-rân đáp. — Cứ như thể từng viên gạch trong cái máng ấy rơi trúng đầu bà vậy. Mẹ tôi là người tốt, tôi không muốn thấy bà phiền muộn. Chỉ mong hồn ma ấy là đoàn viên công đoàn thợ vác gạch, rồi đi đình công. Nếu không thì nhà này chẳng bao giờ yên.

— Tôi đang ngủ trong căn phòng có ma đấy, — bà Ben-mo trầm ngâm nói. — Nhưng nó đẹp quá, tôi chẳng muốn đổi, kể cả nếu tôi sợ, mà tôi thì chẳng sợ. Tôi mà kể ra một câu chuyện khác về một hồn ma quý tộc, đáng mong ước, thì không ổn đâu nhỉ? Tôi sẵn lòng làm thế, nhưng tôi thấy nó lộ liễu quá, rõ là thuốc giải cho câu chuyện kia, nên chẳng hiệu quả gì.

— Đúng thế, — Tơ-rân nói, hai ngón tay trầm ngâm luồn vào mái tóc nâu xoăn cứng. — Thế thì không được. Hay là thấy lại đúng hồn ma ấy, nhưng không mặc quần yếm, và trong máng toàn gạch vàng? Như thế sẽ nâng hồn ma từ chỗ lao động hèn hạ lên tầng lớp tài chính. Bà không nghĩ như thế là đủ đáng kính rồi sao?

— Có một vị tổ tiên từng đánh nhau với quân Anh phải không? Mẹ cậu có nói gì đó đại loại thế.

— Tôi nghĩ là có. Một trong mấy ông già mặc gi-lê với quần chẽn gối ấy. Bản thân tôi chẳng màng tới mấy ông lính thời ấy chút nào. Nhưng mẹ tôi đã dồn cả lòng vào chuyện phô trương, huy hiệu, pháo hoa, mà tôi thì muốn bà được vui.

— Cậu là một chàng trai ngoan đấy, Tơ-rân, — bà Ben-mo nói, kéo vạt lụa sát sang một bên, — không đánh mẹ. Ngồi đây với tôi, ta cùng xem an-bum, đúng như người ta vẫn làm hai chục năm trước. Nào, kể cho tôi nghe về từng người một. Quý ông cao lớn, đường bệ đang tựa vào chân trời, một tay đặt trên cây cột kiểu cổ này là ai thế?

— Cái ông già chân to ấy à? — Tơ-rân hỏi, nghển cổ nhìn. — Đó là ông chú họ Ô-Bran-ni-gân. Ông từng mở một quán bia dưới hầm ở khu phố nghèo.

— Tôi đã bảo cậu ngồi xuống cơ mà, Tơ-rân. Nếu cậu không làm tôi vui, hay không vâng lời tôi, thì sáng mai tôi sẽ báo với mọi người là tôi thấy một hồn ma đeo tạp dề, bưng những vại bia to. Rồi, thế mới phải chứ. Tuổi cậu mà còn nhút nhát, Tơ-rân ạ, là chuyện cậu phải đỏ mặt khi thừa nhận đấy.

Bữa điểm tâm buổi sáng cuối cùng của chuyến thăm, bà Ben-mo làm mọi người có mặt giật mình và mê mẩn khi tuyên bố chắc nịch rằng bà đã thấy hồn ma.

— Nó có... có... có...? — Bà Kin-xôn-vinh, hồi hộp và bối rối, không thốt nổi chữ ấy ra.

— Không đâu, còn lâu mới thế.

Những người khác quanh bàn đồng thanh hỏi dồn: "Bà không sợ à?" "Nó làm gì?" "Trông nó thế nào?" "Nó mặc gì?" "Nó có nói gì không?" "Bà không hét lên à?"

— Tôi sẽ cố trả lời tất cả một lượt, — bà Ben-mo nói, đầy anh dũng, — mặc dù tôi đói kinh khủng. Có cái gì đó làm tôi thức giấc, tôi không chắc là một tiếng động hay một cái chạm khẽ, và hồn ma đứng đó. Đêm tôi không bao giờ để đèn, nên phòng khá tối, nhưng tôi nhìn thấy nó rõ ràng. Tôi không nằm mơ. Đó là một người đàn ông cao, trắng mờ như sương từ đầu tới chân. Nó mặc bộ lễ phục đầy đủ thời thuộc địa ngày xưa: tóc rắc phấn, vạt áo rộng thùng thình, diềm đăng-ten, và một thanh gươm. Trong bóng tối nó trông mờ ảo, sáng lờ mờ, và di chuyển không một tiếng động. Phải, thoạt đầu tôi hơi sợ, hay đúng hơn là giật mình. Đó là hồn ma đầu tiên tôi từng thấy. Không, nó chẳng nói gì. Tôi không hét. Tôi chống khuỷu tay nhổm dậy, thế là nó lặng lẽ lướt đi, rồi biến mất khi tới cửa.

Bà Kin-xôn-vinh như ở trên tầng trời thứ bảy.

— Đúng là hình dáng của đại uý Kin-xôn-vinh, trong đạo quân của tướng Grin, một vị tổ tiên của chúng tôi, — bà nói, giọng run lên vì tự hào và nhẹ nhõm. — Tôi nghĩ tôi phải xin lỗi bà thay cho người họ hàng ma quỷ của chúng tôi, bà Ben-mo ạ. Tôi e là ông ấy đã quấy rầy giấc ngủ của bà nhiều lắm.

Tơ-rân gửi về phía mẹ một nụ cười mừng rỡ chúc mừng. Cuối cùng bà Kin-xôn-vinh đã đạt được điều mong muốn, mà anh thì thích thấy mẹ vui.

— Có lẽ tôi phải xấu hổ khi thú thật, — bà Ben-mo nói, giờ đang thưởng thức bữa sáng, — rằng tôi chẳng bị quấy rầy mấy. Tôi đoán lẽ ra theo lệ thường tôi phải hét lên rồi ngất đi, để cả nhà mặc đồ ngủ đủ kiểu chạy toán loạn. Nhưng qua cơn hốt hoảng đầu tiên, tôi thật không sao làm mình hoảng loạn nổi. Hồn ma diễn xong màn nhỏ của nó thì lặng lẽ, êm đềm rời sân khấu, còn tôi thì ngủ tiếp.

Hầu hết mọi người đều nghe, lịch sự coi câu chuyện của bà Ben-mo là chuyện bịa, được bà nhân hậu đưa ra để bù lại cái bóng ma ác ý mà bà Phi-sơ-Xum-kin đã thấy. Nhưng một hai người có mặt nhận ra lời bà nói mang dấu ấn thật của niềm tin trong lòng bà. Sự thật và thẳng thắn dường như đi kèm mỗi lời bà nói. Ngay cả một kẻ chế giễu chuyện ma, nếu tinh ý, cũng phải thừa nhận rằng ít nhất trong một giấc mơ rất sống động, bà đã thật lòng nhận thấy vị khách lạ lùng ấy.

Chẳng bao lâu cô hầu của bà Ben-mo xếp đồ. Hai tiếng nữa ô tô sẽ tới đưa bà ra ga. Trong lúc Tơ-rân đang thong thả đi dạo ở hiên phía đông, bà Ben-mo đi tới chỗ anh, mắt lấp lánh vẻ thầm kín.

— Tôi không muốn kể hết với mọi người, — bà nói, — nhưng tôi sẽ kể với cậu. Theo một nghĩa nào đó, tôi nghĩ cậu phải chịu trách nhiệm. Cậu có đoán được hồn ma ấy đánh thức tôi đêm qua bằng cách nào không?

— Rung xích loảng xoảng, — Tơ-rân đoán, sau khi nghĩ ngợi, — hay rên rỉ? Ma thường làm một trong hai trò ấy.

— Cậu có tình cờ biết, — bà Ben-mo nói tiếp, đột ngột chuyển sang chuyện chẳng ăn nhập gì, — tôi có giống một người đàn bà nào trong họ hàng của vị tổ tiên không chịu nằm yên của cậu, đại uý Kin-xôn-vinh, không?

— Tôi không nghĩ thế, — Tơ-rân nói, vẻ cực kỳ bối rối. — Chưa từng nghe nói ai trong số họ là người đẹp nổi tiếng.

— Thế thì tại sao, — bà Ben-mo nói, nhìn thẳng vào mắt chàng trai, nghiêm trang, — hồn ma ấy lại hôn tôi, mà tôi chắc chắn là nó đã hôn?

— Trời đất! — Tơ-rân kêu lên, mắt mở to kinh ngạc. — Bà không định nói thế thật chứ, bà Ben-mo! Ông ấy hôn bà thật à?

— Tôi nói "nó", — bà Ben-mo sửa. — Tôi mong tôi dùng đại từ chỉ vật như thế là đúng.

— Nhưng sao bà lại bảo tôi phải chịu trách nhiệm?

— Vì cậu là người đàn ông duy nhất còn sống trong họ hàng của hồn ma.

— Tôi hiểu. "Tội của cha ông, con cháu ba bốn đời phải gánh." Nhưng nói nghiêm túc, ông ấy... nó... làm sao bà...?

— Biết à? Làm sao ai biết được? Tôi đang ngủ, và chính cái đó đánh thức tôi, tôi gần như chắc chắn.

— Gần như?

— Thì, tôi tỉnh dậy đúng lúc... ôi, cậu không hiểu tôi muốn nói gì sao? Khi có cái gì đánh thức mình đột ngột, mình không dám chắc là mình đã mơ, hay... thế nhưng mình vẫn biết là... Trời ơi, Tơ-rân, chẳng lẽ tôi phải mổ xẻ những cảm giác sơ đẳng nhất để chiều cái trí óc cực kỳ thực tế của cậu sao?

— Nhưng về chuyện hôn ma thì, bà biết đấy, — Tơ-rân khiêm tốn nói, — tôi cần được chỉ dạy từ những điều căn bản nhất. Tôi chưa từng hôn ma bao giờ. Nó có... nó có...?

— Cảm giác ấy, — bà Ben-mo nói, nhấn từng chữ, thong thả nhưng hơi mỉm cười, — vì cậu muốn được chỉ dạy, là sự hoà trộn giữa vật chất và tinh thần.

— Dĩ nhiên, — Tơ-rân nói, bỗng trở nên nghiêm túc, — đó là một giấc mơ, hay một thứ ảo giác nào đó. Thời buổi này chẳng ai tin chuyện ma quỷ nữa. Nếu bà kể chuyện ấy vì lòng tốt, bà Ben-mo ạ, thì tôi không biết nói sao cho hết lòng biết ơn. Nó làm mẹ tôi hạnh phúc vô cùng. Cái ý về vị tổ tiên thời Cách mạng thật là tuyệt.

Bà Ben-mo thở dài.

— Tôi chịu chung số phận thường gặp của những người thấy ma, — bà nói, giọng cam chịu. — Cuộc gặp gỡ đặc ân của tôi với một hồn ma bị quy cho món xa-lát tôm hùm hay cho thói nói dối. Thôi được, ít ra tôi còn giữ được một kỷ niệm từ con tàu đắm: một nụ hôn từ thế giới vô hình. Cậu có biết đại uý Kin-xôn-vinh có phải người rất dũng cảm không, Tơ-rân?

— Tôi nghĩ ông ấy thua trận ở Oóc-tao, — Tơ-rân nói, ngẫm nghĩ. — Người ta bảo sau trận đầu tiên ở đó ông ấy dẫn cả đại đội chạy mất.

— Tôi đã nghĩ chắc ông ấy nhút nhát, — bà Ben-mo nói, lơ đãng. — Lẽ ra ông ấy đã có thể thử thêm một lần nữa.

— Thêm một trận nữa à? — Tơ-rân hỏi, giọng đờ đẫn.

— Chứ còn gì nữa? Giờ tôi phải đi chuẩn bị đây. Một tiếng nữa ô tô tới. Tôi rất thích những ngày ở Đỉnh Vách. Buổi sáng đẹp quá, phải không, Tơ-rân?

Trên đường ra ga, bà Ben-mo lấy trong túi ra một chiếc khăn tay lụa, nhìn nó với một nụ cười nhỏ, khác lạ. Rồi bà thắt nó lại thành mấy nút thật chặt, và khi tiện tay, ném nó qua mép vách đá mà con đường chạy dọc theo.

Trong phòng mình, Tơ-rân đang dặn dò người hầu là Brúc.

— Gói chỗ đồ này lại, — anh nói, — rồi gửi tới địa chỉ ghi trên tấm thiệp kia.

Tấm thiệp là của một tiệm cho thuê trang phục ở New York. Còn "chỗ đồ này" là một bộ trang phục quý ông thời năm một nghìn bảy trăm bảy mươi sáu, may bằng sa tanh trắng, khoá bạc, tất lụa trắng, giày da dê trắng. Một bộ tóc giả rắc phấn và một thanh gươm làm trọn bộ trang phục.

— Mà tìm quanh xem, Brúc, — Tơ-rân nói thêm, hơi lo lắng, — có cái khăn tay lụa thêu chữ đầu tên tôi ở một góc. Chắc tôi đánh rơi ở đâu đó.

Một tháng sau, bà Ben-mo cùng một hai người khác trong giới thượng lưu đang lập danh sách khách mời cho một chuyến đi xe ngựa xuyên dãy núi Cát-xkin. Bà Ben-mo xem lại danh sách lần cuối để duyệt. Có tên Tơ-rân Kin-xôn-vinh trong đó. Bà Ben-mo cầm cây bút chì cấm đoán nhẹ nhàng gạch ngang cái tên ấy.

— Nhút nhát quá! — Bà ngọt ngào khẽ nói, để giải thích.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1911
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Ghost of a Chance, O. Henry, in trong tuyển tập Sixes and Sevens
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →