Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Con báo trong hang đá

Một cuộc đam mê trong sa mạc · Chương 1/2 · của Honoré de Balzac

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 20.371 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Cảnh ấy thật đáng sợ! Nàng thốt lên khi…
  2. 0:42Nàng nhìn tôi, vẻ ngạc nhiên.
  3. 2:16Trong cuộc viễn chinh lên miền Thượng Ai Cập…
  4. 10:03"Chém trượt thì chết chắc," anh nghĩ.
  5. 12:03"Y như một cô tiểu thư điệu đà!..." anh…
  6. 13:50Anh thử nghịch hai tai nó, vuốt bụng nó,…
  7. 17:39Nhưng câu đùa thầm ấy chỉ đến với anh…
  8. 18:43Và anh quay trở lại.

Chương 1: Con báo trong hang đá

— Cảnh ấy thật đáng sợ! Nàng thốt lên khi bước ra khỏi gánh thú của ông Mác-tanh.

Nàng vừa xem con người liều lĩnh ấy biểu diễn với con linh cẩu của ông, như lời quảng cáo trên áp phích vẫn gọi.

— Ông ta dùng cách gì, nàng nói tiếp, mà thuần được đám thú dữ tới mức tin chắc vào tình cảm của chúng để dám...

— Chuyện ấy, nghe thì như một câu đố, tôi ngắt lời nàng, nhưng thật ra lại là một điều tự nhiên...

— Ồ! Nàng kêu lên, trên môi thoáng một nụ cười không tin.

— Vậy là bà cho rằng loài thú hoàn toàn không có đam mê sao? Tôi hỏi. Xin bà biết cho, chúng ta còn có thể truyền cho chúng mọi thói hư tật xấu sinh ra từ đời sống văn minh của mình nữa kia.

Nàng nhìn tôi, vẻ ngạc nhiên.

— Có điều, tôi nói tiếp, lần đầu tiên xem ông Mác-tanh, tôi thú thật cũng buột miệng kêu lên kinh ngạc như bà. Lúc ấy tôi đứng cạnh một người lính già cụt chân phải, vào cùng lúc với tôi. Gương mặt ông làm tôi chú ý. Đó là một trong những cái đầu gan góc, mang dấu ấn chiến tranh, trên đó như có khắc cả các trận đánh của Na-pô-lê-ông. Người lính già ấy đặc biệt có vẻ thẳng thắn và vui tính, thứ vẻ mặt bao giờ cũng khiến tôi có cảm tình. Hẳn ông là một trong những tay lính chẳng điều gì làm cho ngạc nhiên, thấy cả cái nhăn mặt cuối cùng của đồng đội cũng có chuyện để cười, vui vẻ chôn bạn hay lột đồ bạn, quát tháo cả đạn đại bác như ra lệnh, nghĩ ngợi chẳng bao giờ lâu, và sẵn sàng kết anh em với cả quỷ sứ. Sau khi nhìn rất kỹ ông chủ gánh thú lúc ông ta bước ra khỏi chuồng, người bạn đứng cạnh tôi bĩu môi, cái bĩu môi khinh khỉnh và giễu cợt mà những người sành sỏi hay dùng để tỏ ra mình không phải hạng dễ bị lừa. Cho nên khi tôi trầm trồ khen lòng can đảm của ông Mác-tanh, ông mỉm cười, lắc đầu, nói với vẻ hiểu biết:

— Biết rồi!...

— Sao lại biết rồi? Tôi hỏi lại. Nếu ông chịu giải thích cho tôi điều bí ẩn này thì tôi mang ơn ông lắm.

Làm quen nhau được dăm phút, chúng tôi rủ nhau đi ăn tối ở quán ăn đầu tiên lọt vào mắt. Tới món tráng miệng, một chai sâm banh đã làm cho ký ức của người lính kỳ lạ ấy sáng tỏ trở lại. Ông kể cho tôi nghe câu chuyện của mình, và tôi thấy ông có lý khi kêu lên: "Biết rồi!"

Về tới nhà, nàng nũng nịu, hứa hẹn với tôi đủ điều, tới mức tôi đành chịu viết lại câu chuyện người lính đã tâm sự. Hôm sau, nàng nhận được đoạn trích từ một thiên anh hùng ca mà người ta có thể đặt tên là "Người Pháp ở Ai Cập".

Trong cuộc viễn chinh lên miền Thượng Ai Cập do tướng Đờ-xe chỉ huy, có một anh lính quê xứ Prô-văng-xơ sa vào tay bọn Ma-grép. Bọn Ả Rập ấy giải anh vào những vùng sa mạc nằm bên kia các thác nước sông Nin. Để giữ một khoảng cách đủ xa với quân Pháp cho yên tâm, bọn Ma-grép đi gấp suốt ngày, tới tối mới dừng. Chúng cắm trại quanh một cái giếng khuất sau mấy cây chà là, gần đó chúng đã chôn sẵn ít lương thực từ trước. Không nghĩ rằng tên tù lại dám có ý định trốn, chúng chỉ trói tay anh lại, rồi ăn vài quả chà là, cho ngựa ăn lúa mạch, xong thì lăn ra ngủ cả. Thấy kẻ thù không còn canh giữ được mình, anh lính Prô-văng-xơ gan dạ dùng răng ngoạm lấy một thanh mã tấu, rồi kẹp lưỡi dao giữa hai đầu gối cho chắc, cứa đứt những sợi dây trói tay, thế là được tự do. Lập tức anh vớ lấy một khẩu súng trường và một con dao găm, lấy thêm một ít chà là khô, một túi lúa mạch nhỏ, thuốc súng và đạn, đeo một thanh mã tấu, nhảy lên một con ngựa, rồi phi nước đại về phía anh đoán là quân Pháp đang đóng. Nóng lòng được thấy lại một trại lính, anh thúc con ngựa vốn đã mệt nhoài dữ quá, tới nỗi con vật tội nghiệp gục chết, hai sườn rách toạc, bỏ lại người lính Pháp giữa sa mạc.

Lê bước trên cát được một lúc với tất cả nghị lực của một tên tù khổ sai đang vượt ngục, anh đành phải dừng lại, vì trời đã sắp tối. Đêm phương Đông dù đẹp tới đâu, anh cũng không còn sức đi tiếp. May sao anh đã lên được một gò cao, trên đỉnh có mấy cây chà là vươn thẳng. Những tán lá ấy anh đã nhìn thấy từ lâu, và chúng đã khơi dậy trong lòng anh những hy vọng ngọt ngào nhất. Anh mệt tới nỗi nằm vật xuống một phiến đá hoa cương, tình cờ có hình giống một chiếc giường dã chiến, và ngủ thiếp đi, chẳng hề đề phòng gì cho mình trong lúc ngủ. Anh đã liều bỏ cả mạng sống. Ý nghĩ cuối cùng của anh thậm chí là một điều hối tiếc. Anh đã thấy ân hận vì bỏ bọn Ma-grép, mà cuộc sống lang bạt của chúng, giờ khi đã cách xa chúng và chẳng có ai cứu giúp, bỗng lại có vẻ dễ chịu. Anh tỉnh dậy vì mặt trời. Những tia nắng tàn nhẫn rọi thẳng xuống phiến đá, khiến nó nóng không chịu nổi. Ấy là vì anh lính Prô-văng-xơ đã vụng dại nằm ngược phía với bóng râm của những ngọn chà là xanh rì, uy nghi... Anh nhìn mấy cái cây cô độc ấy và giật mình! Chúng làm anh nhớ tới những thân cột thanh thoát, trên đỉnh xoè những chiếc lá dài, của dãy cột kiểu A-rập trong nhà thờ lớn thành Ác-lơ. Nhưng khi đếm xong mấy cây chà là rồi đưa mắt nhìn quanh, nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất ập xuống tâm hồn anh. Trước mặt anh là một đại dương không bờ bến. Cát sa mạc màu xám đen trải ra mút tầm mắt về mọi phía, lấp lánh như một lưỡi thép dưới ánh sáng chói chang. Anh không biết đó là một biển băng hay những mặt hồ phẳng lặng như gương. Một làn hơi nóng như lửa cuộn lên từng đợt, xoáy tròn trên vùng đất chuyển động ấy. Bầu trời rực rỡ kiểu phương Đông, trong vắt tới mức tuyệt vọng, vì nó chẳng còn để lại gì cho trí tưởng tượng mong chờ. Trời và đất đều bốc lửa. Sự im lặng làm người ta khiếp sợ bởi vẻ uy nghiêm hoang dại và ghê gớm của nó. Cái vô tận, cái mênh mông dồn ép tâm hồn từ mọi phía: không một gợn mây trên trời, không một làn gió trong không khí, không một chỗ lồi lõm nào trên mặt cát đang gợn lên từng con sóng nhỏ li ti. Chân trời khép lại, như ngoài biển khi trời đẹp, bằng một đường sáng mảnh như lưỡi gươm. Anh lính ôm chặt thân một cây chà là như ôm một người bạn. Rồi, núp trong cái bóng gầy guộc thẳng đuột mà cây in trên đá, anh bật khóc, ngồi xuống, và ngồi lì ở đó, buồn rầu đăm đăm nhìn cái cảnh tượng tàn nhẫn bày ra trước mắt. Anh hét lên như để thử gọi sự cô quạnh. Tiếng anh lạc vào các hốc đá trên gò, vọng đi xa thành một âm thanh yếu ớt, chẳng gợi nổi một tiếng vang nào. Tiếng vang chỉ có ở trong lòng anh. Anh lính Prô-văng-xơ mới hai mươi hai tuổi. Anh lên đạn khẩu súng.

— Lúc nào làm cũng còn kịp! Anh tự nhủ, rồi đặt món vũ khí giải thoát xuống đất.

Lần lượt nhìn khoảng mênh mông đen sẫm rồi lại nhìn khoảng mênh mông xanh biếc, người lính mơ về nước Pháp. Anh khoan khoái tưởng như ngửi thấy mùi những dòng mương ở Pa-ri, anh nhớ lại những thành phố mình từng đi qua, gương mặt các bạn đồng ngũ, và cả những chuyện nhỏ nhặt nhất trong đời mình. Rồi trí tưởng tượng của người phương Nam chẳng mấy chốc khiến anh ngỡ như thấy những viên sỏi của xứ Prô-văng-xơ yêu dấu trong làn hơi nóng đang chập chờn trên mặt sa mạc. Sợ mọi hiểm hoạ của thứ ảo ảnh tàn nhẫn ấy, anh đi xuống sườn gò phía bên kia, ngược với phía hôm trước anh đã leo lên. Anh mừng rỡ khi tìm thấy một thứ hang đá, do thiên nhiên đục sẵn trong những tảng hoa cương khổng lồ làm nền cho ngọn gò. Mấy mảnh chiếu rách cho biết nơi trú ẩn này ngày trước đã có người ở. Rồi cách đó mấy bước, anh trông thấy những cây chà là trĩu quả. Thế là cái bản năng níu giữ con người với sự sống thức dậy trong lòng anh. Anh hy vọng sống được cho tới khi có một toán người Ma-grép đi qua, hoặc biết đâu chẳng bao lâu nữa sẽ nghe thấy tiếng đại bác, vì lúc này Bô-na-pác đang đánh khắp đất Ai Cập. Phấn chấn hẳn lên vì ý nghĩ ấy, anh lính Pháp chặt mấy buồng quả chín đang làm cong oằn những cây chà là. Nếm thứ lộc trời không ngờ tới ấy, anh tin chắc người từng ở trong hang đã chăm bón mấy cây này. Thịt quả chà là ngọt lịm và mát rượi quả thật cho thấy công chăm sóc của người đến trước. Anh lính bỗng chuyển từ nỗi tuyệt vọng u tối sang một niềm vui gần như cuồng dại. Anh trèo lên đỉnh gò, mất cả buổi còn lại để chặt một trong những cây chà là không có quả, chính cây đêm trước đã che cho anh. Một ký ức mơ hồ khiến anh nghĩ tới các loài thú sa mạc. Đoán rằng chúng có thể tới uống nước ở con suối nhỏ lẩn trong cát, lộ ra dưới chân mấy tảng đá, anh quyết định làm một hàng rào chắn cửa nơi ẩn cư của mình để khỏi bị chúng ghé thăm. Dù hăng hái, dù nỗi sợ bị ăn thịt trong lúc ngủ cho anh thêm sức, anh vẫn không sao chặt cây chà là ra thành nhiều khúc trong ngày hôm ấy được. Nhưng anh đã đốn ngã được nó. Lúc chiều xuống, khi vị vua của sa mạc đổ xuống, tiếng cây đổ vang đi rất xa, nghe như một tiếng rên của chính sự cô quạnh. Người lính rùng mình như vừa nghe một giọng nói nào báo trước tai hoạ. Nhưng giống như kẻ thừa kế chẳng thương xót lâu cái chết của người thân, anh tuốt hết những tàu lá xanh to và dài, món trang sức đầy chất thơ của loài cây ấy, rồi dùng chúng vá lại tấm chiếu anh sắp nằm ngủ. Mệt lả vì nóng nực và vì làm lụng, anh thiếp đi dưới vòm đá màu đỏ trong cái hang ẩm ướt.

Nửa đêm, giấc ngủ của anh bị một tiếng động lạ phá ngang. Anh ngồi bật dậy. Sự im lặng sâu thẳm xung quanh giúp anh nhận ra tiếng thở đều đều lúc lên lúc xuống, mạnh mẽ và hoang dã tới mức không thể là của con người. Một nỗi sợ thăm thẳm, càng tăng thêm vì bóng tối, vì im lặng và những ảo giác lúc vừa tỉnh giấc, làm tim anh lạnh buốt. Anh gần như không thấy cả cái đau khi tóc trên đầu dựng ngược lên, lúc anh căng mắt hết cỡ và nhìn thấy trong bóng tối hai đốm sáng mờ mờ. Thoạt tiên anh tưởng đó là ánh phản chiếu trong chính con ngươi mình. Nhưng chẳng mấy chốc, nhờ ánh sáng ban đêm rực rỡ giúp anh dần dần phân biệt được đồ vật trong hang, anh nhận ra một con thú khổng lồ đang nằm cách mình chừng hai bước. Một con sư tử, một con hổ, hay một con cá sấu? Anh lính không đủ học thức để biết kẻ thù của mình thuộc giống loài nào, nhưng chính vì không biết nên anh càng khiếp hãi, tưởng tượng ra đủ mọi tai hoạ cùng một lúc. Anh chịu đựng cực hình phải lắng nghe, phải dõi theo từng nhịp thở thất thường kia, không sót một tiếng, và không dám nhúc nhích dù chỉ chút xíu. Một mùi hăng nồng như mùi cáo, nhưng gắt hơn, đậm hơn, nếu có thể nói vậy, toả đầy hang. Khi đã ngửi rõ cái mùi ấy, anh lính sợ tới tột cùng, vì không còn nghi ngờ gì nữa về sự có mặt của người bạn cùng phòng khủng khiếp, kẻ có cái hang vương giả mà anh đang mượn làm chỗ nghỉ chân. Chẳng bao lâu, ánh trăng sắp lặn ở chân trời rọi vào hang, làm sáng dần lên bộ da lốm đốm của một con báo. Con sư tử của Ai Cập ấy đang ngủ, cuộn tròn như một con chó to, bình thản như kẻ làm chủ một cái cũi sang trọng trước cổng một dinh thự. Đôi mắt nó vừa hé mở một lúc rồi lại khép lại. Mặt nó quay về phía anh lính Pháp.

Muôn ngàn ý nghĩ rối bời lướt qua tâm trí kẻ tù nhân của con báo. Thoạt tiên anh muốn bắn chết nó. Nhưng anh nhận ra giữa nó và anh không đủ khoảng trống để ngắm, nòng súng sẽ chĩa quá cả con vật. Mà nếu nó tỉnh dậy thì sao? Ý nghĩ ấy khiến anh nằm im thin thít. Nghe tim mình đập giữa im lặng, anh nguyền rủa từng nhịp đập quá mạnh do máu dồn lên, chỉ sợ làm đứt giấc ngủ đang cho anh thời gian tìm cách thoát thân. Hai lần anh đặt tay lên thanh mã tấu, định chém bay đầu kẻ thù. Nhưng chặt qua lớp lông ngắn và cứng ấy đâu phải dễ, nên anh đành bỏ cái ý táo bạo đó.

"Chém trượt thì chết chắc," anh nghĩ.

Anh thà liều một trận giáp lá cà, và quyết định chờ trời sáng. Trời sáng cũng chẳng bắt anh phải chờ lâu. Lúc ấy anh lính mới có thể ngắm kỹ con báo. Mõm nó dính đầy máu.

"Nó đã ăn no rồi!..." anh nghĩ, chẳng buồn bận tâm xem bữa tiệc ấy có phải thịt người hay không. "Lúc tỉnh dậy nó sẽ không đói."

Đó là một con báo cái. Lông ở bụng và đùi trắng lấp lánh. Nhiều đốm nhỏ mịn như nhung tạo thành những chiếc vòng xinh xắn quanh chân. Cái đuôi lực lưỡng cũng màu trắng, nhưng tận cùng bằng những khoanh đen. Phần lưng của bộ lông vàng như vàng mờ, trơn mượt và mềm, mang những đốm hình hoa hồng đặc trưng, thứ dấu hiệu để phân biệt loài báo với các giống mèo lớn khác. Bà chủ nhà điềm tĩnh mà đáng sợ ấy đang ngáy, trong một tư thế duyên dáng như một con mèo cái nằm trên nệm ghế dài. Hai bàn chân dính máu, gân guốc và đầy móng vuốt, duỗi ra phía trước, cái đầu gác lên trên, từ đó mọc ra mấy sợi ria thưa và thẳng như những sợi chỉ bạc. Nếu nó nằm như thế trong một cái cũi, hẳn anh lính đã trầm trồ trước vẻ duyên dáng của con vật và những sắc màu tương phản mạnh mẽ khiến bộ lông của nó lộng lẫy như áo bào vua chúa. Nhưng lúc này mắt anh hoa lên trước cái cảnh tượng rùng rợn ấy. Sự hiện diện của con báo, dù đang ngủ, khiến anh cảm thấy điều mà người ta bảo đôi mắt thôi miên của con rắn gây ra cho con chim họa mi. Lòng can đảm của người lính có lúc tiêu tan trước mối hiểm nguy này, trong khi dưới miệng những khẩu đại bác đang phun đạn, chắc chắn nó sẽ bừng lên. Tuy vậy, một ý nghĩ gan dạ loé lên trong lòng anh, làm khô hẳn những giọt mồ hôi lạnh đang chảy ròng trên trán. Như những người bị bất hạnh dồn tới đường cùng, đâm ra thách thức cái chết và đưa mình ra chịu đòn, anh bất giác thấy trong cuộc phiêu lưu này một tấn bi kịch, và quyết định đóng trọn vai của mình cho tới màn cuối một cách đường hoàng.

"Hôm kia, có khi bọn Ả Rập đã giết mình rồi cũng nên?..." anh tự nhủ.

Coi như mình đã chết, anh can đảm chờ kẻ thù thức dậy, lòng vừa lo vừa tò mò. Khi mặt trời ló lên, con báo bỗng mở mắt. Rồi nó duỗi mạnh chân ra như để cho đỡ tê, cho hết chuột rút. Cuối cùng nó ngáp, phô ra cả bộ răng khủng khiếp và cái lưỡi chẻ, ráp như cái giũa.

"Y như một cô tiểu thư điệu đà!..." anh lính nghĩ khi thấy nó lăn qua lăn lại, làm những cử chỉ dịu dàng và làm duyên nhất.

Nó liếm máu dính trên chân, trên mõm, rồi đưa chân gãi đầu hết lần này tới lần khác, điệu bộ thật dễ thương.

"Được lắm!... Trang điểm chút đỉnh đi!..." anh lính thầm nói, nỗi vui tính trở lại cùng với lòng can đảm. "Rồi chúng ta sẽ chào buổi sáng nhau."

Và anh nắm chặt con dao găm ngắn đã lấy được của bọn Ma-grép.

Đúng lúc ấy, con báo quay đầu về phía anh, nhìn trừng trừng mà không bước tới. Ánh mắt sắc lạnh như kim loại, sáng tới mức không chịu nổi ấy làm anh lính rùng mình, nhất là khi con thú bắt đầu đi về phía anh. Nhưng anh nhìn nó bằng ánh mắt vuốt ve, liếc nó như muốn thôi miên nó, để mặc nó tới sát bên mình. Rồi bằng một cử chỉ dịu dàng, âu yếm như muốn vuốt ve người đàn bà đẹp nhất, anh đưa tay vuốt khắp mình nó, từ đầu tới đuôi, lấy móng tay gãi nhẹ dọc những đốt sống mềm dẻo chạy giữa tấm lưng vàng. Con thú khoái chí dựng đuôi lên, đôi mắt dịu hẳn đi. Tới lần thứ ba anh lính làm cái việc nịnh nọt có tính toán ấy, nó cất lên một tiếng gừ gừ như tiếng mèo nhà ta vẫn kêu khi khoan khoái. Có điều tiếng gừ ấy phát ra từ một cái cổ họng mạnh mẽ và sâu thẳm tới nỗi nó vang khắp hang, như những âm thanh trầm cuối cùng của cây đàn ống trong nhà thờ. Hiểu rằng những cái vuốt ve của mình quan trọng biết bao, anh lính càng vuốt ve nhiều hơn, cho tới khi nàng kỹ nữ kiêu kỳ ấy đờ đẫn, ngây ngất. Khi tin chắc đã dập tắt được tính hung dữ của người bạn đồng hành thất thường, vốn đêm qua đã may mắn được ăn no nê, anh đứng dậy định ra khỏi hang. Con báo để anh đi. Nhưng khi anh vừa leo lên đỉnh gò, nó đã nhảy vọt tới, nhẹ nhàng như chim sẻ chuyền cành, rồi cọ mình vào chân anh, cong lưng lên y như mèo. Rồi nhìn vị khách của mình bằng con mắt đã bớt sắc lạnh, nó kêu lên một tiếng hoang dã mà các nhà vạn vật học vẫn ví với tiếng cưa xẻ gỗ.

— Cô nàng đòi hỏi ghê! Anh lính kêu lên, mỉm cười.

Anh thử nghịch hai tai nó, vuốt bụng nó, lấy móng tay gãi mạnh lên đầu nó. Thấy mình thành công, anh lấy mũi dao găm gãi gãi lên sọ nó, rình thời cơ để giết. Nhưng cái sọ cứng quá khiến anh run sợ không đâm nổi.

Nữ chúa của sa mạc tỏ ý hài lòng với tài nghệ của kẻ nô lệ bằng cách ngẩng đầu, vươn cổ, và nằm im lặng để lộ vẻ say sưa. Anh lính chợt nghĩ, muốn giết nàng công chúa hoang dã ấy chỉ bằng một nhát, thì phải đâm vào cổ họng. Anh đang giơ lưỡi dao lên thì con báo, hẳn đã thoả mãn, nằm xuống dưới chân anh một cách duyên dáng, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn anh, trong ánh mắt dù vẫn còn nét hung dữ bẩm sinh, đã lờ mờ có chút thiện cảm. Anh lính tội nghiệp tựa lưng vào một cây chà là mà ăn mấy quả chà là của mình. Nhưng anh hết đưa mắt dò xét khắp sa mạc để tìm người tới cứu, lại liếc nhìn người bạn đồng hành đáng sợ để dò xem lòng khoan dung chẳng chắc chắn của nó. Mỗi lần anh vứt một hột chà là, con báo lại nhìn theo chỗ hột rơi, ánh mắt khi ấy lộ vẻ ngờ vực không thể tưởng. Nó xem xét anh lính kỹ lưỡng như con buôn tính toán. Nhưng cuộc xem xét ấy có lợi cho anh, vì khi anh ăn xong bữa đạm bạc, nó liếm đôi giày của anh, và bằng cái lưỡi ráp và khoẻ, nó liếm sạch như có phép lạ lớp bụi bám chặt trong các nếp giày.

"Nhưng khi nó đói thì sao?..." anh lính nghĩ.

Dù rùng mình vì ý nghĩ ấy, anh vẫn tò mò ước lượng kích thước con báo. Chắc chắn đây là một trong những con đẹp nhất của loài, vì nó cao chừng một mét, dài chừng mét ba, chưa kể đuôi. Cái đuôi, món vũ khí lợi hại tròn như một khúc gậy, dài gần một mét. Cái đầu to như đầu sư tử cái, nổi bật nhờ một vẻ tinh khôn hiếm có. Nét tàn bạo lạnh lùng của loài hổ hiện rõ trên đó, nhưng cũng có chút gì mang máng giống gương mặt một người đàn bà xảo quyệt. Lúc này gương mặt của nữ hoàng cô độc ấy để lộ một vẻ vui tươi giống như vẻ vui của bạo chúa Nê-rông lúc say: nó vừa uống máu cho đã khát và muốn chơi đùa. Người lính thử đi tới đi lui. Con báo để anh tự do, chỉ đưa mắt dõi theo, lúc ấy nó ít giống một con chó trung thành mà giống một con mèo xù to lớn, việc gì cũng lo, kể cả từng cử động của chủ. Khi quay lại, anh nhìn thấy ở phía con suối xác con ngựa của mình. Con báo đã tha xác nó về tới đó. Khoảng hai phần ba con ngựa đã bị ăn mất. Cảnh ấy làm anh lính yên tâm. Giờ thì anh dễ dàng hiểu vì sao con báo vắng mặt, và vì sao nó đã để yên cho anh trong lúc ngủ. Niềm may mắn đầu tiên ấy làm anh mạnh dạn tính chuyện tương lai. Anh nảy ra cái hy vọng điên rồ là sống hoà thuận với con báo suốt cả ngày, không bỏ qua cách nào để thuần phục nó và lấy lòng nó. Anh quay lại gần nó, và sung sướng khôn tả khi thấy nó khẽ ve vẩy đuôi, một cử động gần như không nhận ra. Thế là anh ngồi xuống cạnh nó chẳng chút sợ hãi, và cả hai bắt đầu đùa nghịch. Anh cầm chân nó, nắm mõm nó, vặn vặn tai nó, lật ngửa nó ra, gãi mạnh hai bên sườn nóng ấm và mượt như lụa. Nó để yên cho anh làm. Khi anh thử vuốt cho mượt lông chân nó, nó cẩn thận thu những móng vuốt cong như lưỡi kiếm vào. Anh lính vẫn giữ một tay trên con dao găm, vẫn nghĩ tới chuyện đâm phập vào bụng con báo quá cả tin. Nhưng anh sợ bị bóp cổ chết ngay trong cơn giãy giụa cuối cùng của nó. Vả lại, anh nghe trong lòng một thứ ăn năn bảo anh phải tôn trọng một sinh vật chẳng làm hại ai. Anh có cảm giác vừa tìm được một người bạn giữa sa mạc không bờ bến này. Bất giác anh nghĩ tới người tình đầu tiên của mình. Anh đã đặt cho cô cái tên Mi-nhon, nghĩa là cô bé dễ thương, gọi ngược với tính nết, vì cô ghen tuông kinh khủng tới nỗi suốt thời gian hai người yêu nhau, anh luôn phải sợ con dao mà cô lúc nào cũng doạ đâm anh. Kỷ niệm thời trai trẻ ấy gợi cho anh ý thử tập cho con báo trẻ quen với cái tên này. Giờ đây, anh đã đỡ sợ hơn để ngắm sự nhanh nhẹn, duyên dáng và mềm mại của nó.

Tới cuối ngày, anh đã quen với hoàn cảnh hiểm nghèo của mình, gần như còn thích cả những nỗi thấp thỏm lo âu. Rốt cuộc, người bạn đồng hành của anh đã quen nhìn anh mỗi khi anh cất giọng the thé gọi: "Mi-nhon." Lúc mặt trời lặn, Mi-nhon nhiều lần cất lên một tiếng kêu trầm buồn.

"Con bé được dạy dỗ tử tế ghê!..." người lính vui tính nghĩ. "Nó đang đọc kinh tối kia!..."

Nhưng câu đùa thầm ấy chỉ đến với anh sau khi anh để ý thấy dáng nằm hiền lành của người bạn đồng hành.

— Thôi, cô bé tóc vàng của anh, anh cho cô đi ngủ trước đấy. Anh nói với nó, bụng tính sẽ dựa vào đôi chân nhanh nhẹn của mình mà chuồn thật lẹ khi nó ngủ say, để đi tìm chỗ khác qua đêm.

Người lính nóng ruột chờ tới giờ trốn. Khi giờ ấy tới, anh rảo bước thật nhanh về phía sông Nin. Nhưng mới đi được chừng một cây số trên cát, anh đã nghe tiếng con báo nhảy theo sau, thỉnh thoảng lại rít lên tiếng kêu như tiếng cưa, còn đáng sợ hơn cả tiếng chân nặng nề của những cú nhảy.

"Thôi rồi!" anh tự nhủ. "Nó mến mình mất rồi!... Con báo trẻ này có lẽ chưa từng gặp ai bao giờ. Được làm mối tình đầu của nó thì cũng hãnh diện đấy chứ!"

Đúng lúc ấy, anh lính sa vào một bãi cát lún, thứ cát mà khách lữ hành vô cùng khiếp sợ, sa vào thì không cách gì thoát ra được. Thấy mình bị lún, anh kêu lên thất thanh. Con báo ngoạm lấy cổ áo anh, rồi dùng sức nhảy giật lùi, kéo anh ra khỏi vực cát như có phép màu.

— A! Mi-nhon! Anh lính kêu lên, vuốt ve nó say sưa. Từ giờ giữa hai ta là sống chết có nhau rồi nhé. Nhưng đừng có giở trò đấy!

Và anh quay trở lại.

— Hết chương 1 —

Mục lục Một cuộc đam mê trong sa mạc

  1. 1Con báo trong hang đá18 phút
  2. 2Mi-nhonĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHonoré de Balzac (1799 – 1850)
Năm mất1850
Xuất bản lần đầu1830
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Une passion dans le désert, 1830
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →