Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một gia đình

của Guy de Maupassant

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.034 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Tôi đi thăm lại người bạn Xi-mông Ra-đơ-vanh, mười…
  2. 1:57Anh cười đáp:
  3. 2:44Chứ còn gì nữa.
  4. 4:20Bà chào đón tôi, và tôi bước vào tiền…
  5. 4:56Ông cụ cố gắng chào tôi, và kêu lên…
  6. 6:30Ra-đơ-vanh khum hai bàn tay làm loa mà gào…
  7. 7:45Khi món chè gạo ngọt được bưng lên, ông…
  8. 8:31Ồ không, cậu ạ, ở tuổi ông ấy mà…

Tôi đi thăm lại người bạn Xi-mông Ra-đơ-vanh, mười lăm năm nay tôi không gặp anh.

Ngày xưa anh là người bạn thân nhất của tôi, người bạn tâm giao, người cùng ta qua những buổi tối dài yên tĩnh mà vui vẻ, người mà ta có thể kể những điều thầm kín trong lòng, người mà khi trò chuyện nhỏ nhẹ cùng nhau ta tìm ra những ý nghĩ hiếm hoi, tinh tế, khéo léo, tế nhị, nảy sinh từ chính sự đồng cảm làm trí óc hưng phấn và thoải mái.

Suốt bao nhiêu năm, chúng tôi gần như không rời nhau. Chúng tôi đã cùng sống, cùng đi, cùng nghĩ, cùng mơ, cùng yêu những điều giống nhau bằng một tình yêu giống nhau, cùng ngưỡng mộ những cuốn sách giống nhau, cùng hiểu những tác phẩm giống nhau, cùng rung lên vì những cảm giác giống nhau, và đã bao lần cùng cười những con người giống nhau, đến nỗi chỉ cần trao nhau một ánh mắt là hiểu nhau hoàn toàn.

Rồi anh lấy vợ. Bỗng nhiên anh cưới một cô gái tỉnh lẻ lên Pa-ri tìm chồng. Làm sao mà cô bé tóc vàng nhợt ấy, gầy gò, tay chân lóng ngóng, mắt trong và rỗng, giọng tươi mà ngốc, giống như một trăm nghìn con búp bê chờ gả chồng khác, lại hái được anh chàng thông minh và tinh tế ấy? Người ta có hiểu nổi những chuyện như thế không? Hẳn là anh đã hy vọng có hạnh phúc, hạnh phúc giản dị, êm đềm và lâu dài trong vòng tay một người đàn bà tốt bụng, dịu dàng và chung thuỷ. Và anh đã thoáng thấy tất cả những điều ấy trong ánh mắt trong veo của con bé tóc nhạt kia.

Anh đã không nghĩ rằng người đàn ông năng động, sống động và nhạy cảm sẽ chán mọi thứ ngay khi đã nắm được cái thực tại ngu ngốc, trừ phi anh ta tự làm mình đần độn đi đến mức chẳng còn hiểu gì nữa.

Tôi sẽ gặp lại anh như thế nào đây? Vẫn nhanh nhẹn, dí dỏm, hay cười và nhiệt tình, hay đã thiu thiu ngủ trong cuộc sống tỉnh lẻ? Mười lăm năm, một con người có thể thay đổi lắm!

Đoàn tàu dừng ở một nhà ga nhỏ. Khi tôi vừa bước xuống toa, một người đàn ông béo, rất béo, má đỏ au, bụng phưỡn, lao về phía tôi, giang rộng hai tay, gọi to:

- Gioóc-giơ!

Tôi ôm hôn anh, nhưng tôi không nhận ra anh. Rồi tôi sửng sốt lẩm bẩm:

- Trời ơi, cậu chẳng gầy đi tí nào.

Anh cười đáp:

- Biết làm sao được? Sống sung sướng! Ăn ngon! Ngủ kỹ! Ăn và ngủ, đời tớ là thế đấy!

Tôi ngắm anh, tìm trên khuôn mặt bè bè ấy những đường nét thân yêu. Chỉ có con mắt là không đổi, nhưng tôi không còn tìm thấy cái nhìn ngày trước, và tôi tự nhủ: "Nếu quả thật cái nhìn là tấm gương phản chiếu ý nghĩ, thì ý nghĩ trong cái đầu này không còn là ý nghĩ ngày xưa, cái ý nghĩ mà mình đã hiểu rõ đến thế."

Thế mà con mắt vẫn sáng, đầy niềm vui và tình bạn. Nhưng nó không còn cái vẻ sáng suốt thông minh, cái thứ ánh sáng nói lên giá trị của một trí tuệ chẳng kém gì lời nói.

Bỗng Xi-mông bảo tôi:

- Này, đây là hai đứa lớn nhà tớ.

Một cô bé mười bốn tuổi, gần thành thiếu nữ, và một cậu bé mười ba tuổi mặc đồng phục học sinh, rụt rè và vụng về bước tới.

Tôi lẩm bẩm:

- Con cậu đấy à?

Anh cười đáp:

- Chứ còn gì nữa.

- Thế cậu có tất cả bao nhiêu đứa?

- Năm! Còn ba đứa nữa ở nhà!

Anh trả lời câu ấy với vẻ tự hào, mãn nguyện, gần như đắc thắng. Còn tôi, tôi thấy dâng lên một nỗi thương hại sâu sắc, lẫn với chút khinh bỉ mơ hồ, đối với cái kẻ sinh sản kiêu hãnh và ngây thơ ấy, kẻ đêm đêm làm ra con giữa hai giấc ngủ trong ngôi nhà ở tỉnh lẻ của mình, như con thỏ trong lồng.

Tôi lên một cỗ xe do chính anh cầm cương, và chúng tôi băng qua thành phố, một thành phố buồn bã, ngái ngủ và xám xịt, trên phố chẳng có gì động đậy ngoài mấy con chó và hai ba chị người hầu. Thỉnh thoảng một ông chủ hiệu đứng trước cửa ngả mũ chào. Xi-mông chào lại và nói tên người ấy, hẳn là để chứng tỏ với tôi rằng anh biết tên mọi người dân ở đây. Tôi chợt nghĩ chắc anh đang nhắm ghế nghị sĩ, giấc mơ của mọi kẻ bị chôn vùi nơi tỉnh lẻ.

Chẳng mấy chốc đã băng qua hết thành phố, cỗ xe đi vào một khu vườn có tham vọng làm công viên, rồi dừng trước một ngôi nhà có mấy ngọn tháp nhỏ đang cố tỏ ra là lâu đài.

- Hang ổ của tớ đấy, Xi-mông nói, để được nghe một lời khen.

Tôi đáp:

- Đẹp tuyệt.

Trên bậc thềm, một bà xuất hiện, ăn diện để tiếp khách, chải tóc để tiếp khách, với những câu nói soạn sẵn để tiếp khách. Đó không còn là cô bé tóc vàng nhạt nhẽo mà tôi đã thấy ở nhà thờ mười lăm năm trước, mà là một bà béo đầy diềm đăng ten và tóc quăn tít, một trong những bà không tuổi, không cá tính, không thanh lịch, không trí tuệ, chẳng có gì làm nên một người đàn bà. Tóm lại, đó là một bà mẹ, một bà mẹ béo tầm thường, con gà đẻ, con ngựa cái giống của loài người, cái cỗ máy bằng thịt cứ sinh nở mà trong lòng chẳng bận tâm điều gì khác ngoài lũ con và cuốn sách dạy nấu ăn.

Bà chào đón tôi, và tôi bước vào tiền sảnh, nơi ba đứa nhóc xếp hàng theo thứ tự cao thấp như được đặt sẵn ở đó để duyệt đội ngũ, như đội lính cứu hoả trước mặt ông thị trưởng.

Tôi nói:

- À, à! Mấy đứa kia đây à?

Xi-mông rạng rỡ giới thiệu tên chúng:

- Giăng, Xô-phi và Gông-trăng.

Cửa phòng khách để mở. Tôi bước vào, và trông thấy trong lòng một chiếc ghế bành một cái gì đang run run, một người, một ông già bị liệt.

Bà Ra-đơ-vanh bước tới:

- Đây là ông nội tôi, thưa ông. Ông tám mươi bảy tuổi rồi.

Rồi bà hét vào tai ông già đang run bần bật:

- Đây là bạn của Xi-mông đấy, ông ạ.

Ông cụ cố gắng chào tôi, và kêu lên như trẻ con khóc: "Oa, oa, oa", tay vẫy vẫy. Tôi đáp: "Cụ thật quá tử tế", rồi ngồi phịch xuống một chiếc ghế.

Xi-mông vừa bước vào, anh cười:

- À, à! Cậu đã làm quen với ông nội rồi đấy. Lão già này buồn cười hết chỗ nói, là trò giải trí của bọn trẻ đấy. Lão tham ăn lắm, cậu ạ, bữa nào cũng như muốn ăn đến chết. Cậu không tưởng tượng nổi lão sẽ ăn đến đâu nếu cứ để lão tự do. Rồi cậu sẽ thấy, cậu sẽ thấy. Lão liếc mắt đưa tình với mấy món ngọt như thể chúng là các cô gái. Cậu chưa bao giờ gặp cái gì buồn cười hơn đâu, lát nữa cậu sẽ thấy.

Rồi người ta dẫn tôi lên phòng để sửa soạn, vì sắp đến giờ ăn tối. Tôi nghe trên cầu thang có tiếng chân rầm rập, và tôi quay lại. Tất cả lũ trẻ đang đi theo tôi thành một đám rước, sau lưng bố chúng, chắc là để tỏ lòng kính trọng tôi.

Phòng tôi nhìn ra đồng bằng, một đồng bằng vô tận, trơ trụi, một đại dương cỏ, lúa mì và yến mạch, không một khóm cây hay một ngọn đồi, hình ảnh sống động và buồn bã của cuộc sống mà người ta hẳn đang sống trong ngôi nhà này.

Chuông reo. Đó là chuông gọi ăn tối. Tôi đi xuống.

Bà Ra-đơ-vanh khoác tay tôi một cách trịnh trọng, và người ta sang phòng ăn. Một người hầu đẩy chiếc ghế lăn của ông già. Vừa được đặt trước đĩa của mình, ông cụ đã đưa con mắt thèm thuồng và tò mò nhìn khắp các món tráng miệng, khó nhọc xoay cái đầu lắc lư từ đĩa này sang đĩa khác.

Thế là Xi-mông xoa tay:

- Cậu sẽ được vui đây, anh bảo tôi.

Và tất cả lũ trẻ, hiểu rằng sắp được diễn cho tôi xem màn ông nội tham ăn, cùng lúc phá lên cười, còn mẹ chúng chỉ mỉm cười nhún vai.

Ra-đơ-vanh khum hai bàn tay làm loa mà gào vào ông già:

- Tối nay có món chè gạo nấu kem ngọt đấy!

Khuôn mặt nhăn nheo của ông cụ sáng bừng lên, và ông run bần bật mạnh hơn từ đầu đến chân, để tỏ ra rằng ông đã hiểu và ông vui.

Và người ta bắt đầu ăn tối.

- Cậu nhìn kìa, Xi-mông thì thầm.

Ông nội không thích súp và không chịu ăn. Người ta bắt ông ăn, vì sức khoẻ của ông. Người hầu ép thìa súp đầy vào miệng ông, còn ông thì phun mạnh ra để khỏi phải nuốt, nước súp bắn ra như vòi nước lên mặt bàn và lên những người ngồi bên cạnh.

Lũ trẻ cười lăn lộn, còn bố chúng rất khoái chí, nhắc đi nhắc lại:

- Lão già này buồn cười chưa?

Và suốt bữa ăn người ta chỉ lo mỗi ông. Ông ngấu nghiến bằng mắt những món ăn bày trên bàn, và với bàn tay run lẩy bẩy như điên dại, ông cố chộp lấy chúng, kéo chúng về phía mình. Người ta đặt chúng gần như vừa tầm tay ông, để xem ông cố gắng cuống cuồng, để xem cái run rẩy vươn về phía chúng, tiếng gọi tuyệt vọng của toàn bộ con người ông, của mắt ông, của miệng ông, của cái mũi đang hít hà chúng. Ông thèm đến nhỏ dãi ra khăn ăn, miệng ư ử những tiếng không thành lời. Và cả gia đình hả hê với cái cực hình đáng ghê tởm và lố bịch ấy.

Rồi người ta xới vào đĩa ông một mẩu bé tí, ông ăn với một sự tham lam cuồng nhiệt, để được thêm món khác cho nhanh.

Khi món chè gạo ngọt được bưng lên, ông gần như lên cơn co giật. Ông rên lên vì thèm.

Thằng Gông-trăng gào vào tai ông:

- Ông ăn nhiều quá rồi, ông không được ăn đâu.

Và người ta làm như không cho ông ăn.

Thế là ông bắt đầu khóc. Ông khóc, run bần bật mạnh hơn, trong khi tất cả lũ trẻ cười ầm lên.

Cuối cùng người ta cũng mang phần của ông đến, một phần bé tí. Và khi ăn miếng chè đầu tiên, ông phát ra một tiếng ực trong cổ họng buồn cười và tham lam, cái cổ cử động giống như những con vịt nuốt một miếng quá to.

Rồi ăn xong, ông bắt đầu giậm chân đòi thêm.

Thương hại trước cực hình của cái lão Tan-ta-lơ vừa đáng thương vừa lố bịch ấy, cái lão trong thần thoại đói khát giữa đồ ăn thức uống mà không sao với tới, tôi xin cho ông:

- Thôi nào, cho cụ thêm chút chè đi?

Xi-mông nhắc đi nhắc lại:

- Ồ không, cậu ạ, ở tuổi ông ấy mà ăn nhiều quá thì có thể sinh bệnh.

Tôi im lặng, ngẫm nghĩ về câu nói ấy. Ôi đạo đức, ôi lô-gích, ôi khôn ngoan! Ở tuổi ông ấy! Vậy là người ta tước đi của ông niềm vui duy nhất mà ông còn hưởng được, vì lo cho sức khoẻ của ông! Sức khoẻ của ông! Ông sẽ làm gì với nó, cái mảnh vụn bất động và run rẩy ấy? Người ta giữ gìn cho ông sống thêm ngày nào hay ngày ấy, như người ta vẫn nói? Ngày nào hay ngày ấy? Bao nhiêu ngày, mười, hai mươi, năm mươi hay một trăm? Để làm gì? Vì ông ư? Hay để giữ lâu hơn cho cả nhà cái trò vui xem ông thèm ăn mà bất lực?

Ông chẳng còn việc gì để làm trên đời này nữa, chẳng còn gì. Ông chỉ còn lại một mong muốn, một niềm vui duy nhất. Sao không cho ông trọn vẹn niềm vui cuối cùng ấy, cho ông đến khi ông chết vì nó.

Rồi sau một ván bài dài, tôi lên phòng đi ngủ. Tôi buồn, buồn, buồn!

Và tôi ra đứng bên cửa sổ. Bên ngoài chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng chim hót líu lo rất khẽ, rất êm, rất hay trên một cái cây nào đó. Con chim ấy hẳn đang hát như thế, khe khẽ, trong đêm, để ru con chim mái đang ngủ trên ổ trứng.

Và tôi nghĩ đến năm đứa con của người bạn đáng thương, giờ này hẳn đang ngáy bên cạnh bà vợ xấu xí của mình.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1886
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Une famille, in trên báo Le Gaulois năm 1886, tập Le Horla, theo bản Ollendorff 1895
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →