Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người hầu gái của bà Ô-banh

Một tâm hồn chất phác · Chương 1/4 · của Gustave Flaubert

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 17.908 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Suốt nửa thế kỷ, các bà thị dân ở…
  2. 4:07Một buổi tối khác, trên đường Bô-mông, chị định…
  3. 5:35Chẳng bao lâu hắn thú thật một điều rắc…
  4. 7:29Sáng thứ Hai nào, ông hàng đồ cũ ở…
  5. 9:49Sân trang trại dốc, ngôi nhà ở giữa, và…
  6. 10:51Và vừa lẩm nhẩm một thứ bài hát buồn,…
  7. 13:17Lại cái bà Lơ-u-xê, đáng lẽ lấy một cậu…
  8. 17:25Mười lăm phút sau, bà Ô-banh cho chị ta…

Chương 1: Người hầu gái của bà Ô-banh

Suốt nửa thế kỷ, các bà thị dân ở Pông Lê-vếch cứ ghen với bà Ô-banh vì có cô người làm tên là Phê-li-xi-tê.

Với một trăm quan một năm, chị nấu ăn, dọn nhà, khâu vá, giặt giũ, là ủi, biết thắng cương ngựa, vỗ béo gà vịt, đánh bơ, và chị trung thành với bà chủ, mà bà chủ thì chẳng phải người dễ chịu gì.

Bà Ô-banh đã lấy một chàng trai đẹp không có của cải, ông mất hồi đầu năm 1809, để lại cho bà hai đứa con còn rất nhỏ cùng một đống nợ. Bấy giờ bà bán hết nhà đất, chỉ trừ trang trại Tu-cơ và trang trại Giơ-phốt-xơ, hoa lợi cùng lắm được năm nghìn quan, rồi bà rời ngôi nhà ở Xanh Mơ-len để về ở một ngôi nhà khác ít tốn kém hơn, vốn của tổ tiên bà, nằm sau khu chợ.

Ngôi nhà lợp đá đen ấy nằm giữa một lối đi và một ngõ hẻm dẫn ra sông. Bên trong, nền nhà cao thấp không đều, đi hay vấp. Một tiền sảnh hẹp ngăn nhà bếp với gian phòng nơi bà Ô-banh ngồi suốt ngày, trên chiếc ghế bành bằng rơm cạnh cửa sổ. Dựa vào vách ốp gỗ sơn trắng là tám chiếc ghế gỗ dái ngựa xếp hàng. Trên một cây đàn dương cầm cũ, dưới chiếc phong vũ biểu, chất một chồng hộp và bìa các-tông thành hình tháp. Hai chiếc ghế bành bọc thảm thêu đứng hai bên lò sưởi bằng đá hoa vàng kiểu vua Lu-i Mười Lăm. Chiếc đồng hồ ở giữa hình một ngôi đền nữ thần, và cả căn hộ hơi có mùi ẩm mốc, vì sàn nhà thấp hơn mặt vườn.

Trên gác một, trước hết là phòng của "Bà", rất rộng, dán giấy hoa nhạt màu, có bức chân dung của "Ông" trong bộ đồ công tử bột. Nó thông sang một phòng nhỏ hơn, nơi có hai chiếc giường trẻ con không đệm. Rồi đến phòng khách, lúc nào cũng đóng cửa, đầy đồ đạc phủ vải. Rồi một hành lang dẫn tới một phòng làm việc. Sách vở và giấy tờ chất trên những ngăn của một tủ sách bao quanh ba mặt một chiếc bàn giấy lớn bằng gỗ đen. Hai tấm vách khuất dưới những bức vẽ bằng bút sắt, những bức phong cảnh màu bột và những bức tranh khắc, kỷ niệm của một thời tốt đẹp hơn và một sự xa hoa đã tan biến. Một cửa sổ mái trên gác hai soi sáng phòng của Phê-li-xi-tê, nhìn ra đồng cỏ.

Chị dậy từ tảng sáng để khỏi lỡ buổi lễ, và làm việc không ngơi tay tới tối. Rồi khi bữa tối đã xong, bát đĩa đã gọn gàng, cửa đã đóng chặt, chị vùi khúc củi dưới tro và ngủ thiếp đi trước lò sưởi, tay cầm chuỗi tràng hạt. Chẳng ai mặc cả lì hơn chị. Còn nói về sạch sẽ, độ bóng của những chiếc xoong chị lau làm những chị người làm khác phải tuyệt vọng. Tiết kiệm, chị ăn chậm rãi, lấy ngón tay nhặt từng vụn bánh mì trên bàn, cái ổ bánh mì nặng sáu cân nướng riêng cho chị, ăn được hai mươi ngày.

Mùa nào chị cũng quàng một chiếc khăn vải hoa ghim sau lưng, đội một chiếc mũ trùm kín tóc, đi tất xám, mặc váy đỏ, và bên ngoài áo lót là một chiếc tạp dề có yếm, như các chị y tá nhà thương.

Mặt chị gầy và giọng chị the thé. Hai mươi lăm tuổi, người ta tưởng chị bốn mươi. Từ tuổi năm mươi, chị chẳng còn mang dấu tuổi tác nào nữa. Và lúc nào cũng lặng lẽ, dáng thẳng, cử chỉ chừng mực, chị như một người đàn bà bằng gỗ, vận hành theo kiểu máy móc.

Chị cũng như bao người khác, từng có một chuyện tình.

Cha chị là thợ nề, chết vì ngã từ giàn giáo. Rồi mẹ chị mất, các chị em tản mát, một bác chủ trại nhận nuôi chị, và từ bé đã cho chị đi chăn bò ngoài đồng. Chị run cầm cập dưới manh áo rách, nằm sấp uống nước ao, vô cớ cũng bị đánh, và cuối cùng bị đuổi vì tội ăn cắp ba mươi xu mà chị không hề lấy. Chị vào một trang trại khác, làm cô gái chăn gia cầm, và vì được lòng chủ, nên bạn bè ganh ghét chị.

Một buổi tối tháng Tám, năm ấy chị mười tám tuổi, họ kéo chị đi dự hội làng Cô-lơ-vin. Ngay lập tức chị choáng váng, sững sờ vì tiếng ồn của những người chơi nhạc, đèn đuốc trên cây, quần áo sặc sỡ, đồ ren, những cây thánh giá vàng, cả đám đông nhảy cùng một lúc. Chị khiêm nhường đứng tách ra một bên, thì một chàng trai trông có vẻ khá giả, đang hút tẩu, hai khuỷu tay tì lên càng một chiếc xe bò, lại mời chị nhảy. Hắn mua cho chị rượu táo, cà phê, bánh nướng, một chiếc khăn lụa, và tưởng chị đã hiểu ý, ngỏ ý đưa chị về. Bên bờ một ruộng yến mạch, hắn xô ngã chị một cách thô bạo. Chị sợ hãi kêu thét lên. Hắn bỏ đi.

Một buổi tối khác, trên đường Bô-mông, chị định vượt qua một chiếc xe chở cỏ lớn đang đi chậm, và khi lướt qua bánh xe, chị nhận ra Tê-ô-đo.

Hắn tới gần chị với vẻ bình thản, bảo rằng phải bỏ qua mọi chuyện, vì đó là "tại rượu".

Chị chẳng biết đáp sao, chỉ muốn bỏ chạy.

Lập tức hắn nói chuyện mùa màng và những người có máu mặt trong xã, vì bố hắn đã bỏ Cô-lơ-vin về trang trại Ê-cô, thành ra bây giờ họ là hàng xóm.

Chị bảo:

— À thế à!

Hắn nói thêm rằng gia đình muốn cho hắn lập gia đình. Vả lại hắn chẳng vội, hắn đợi một người vợ vừa ý. Chị cúi đầu. Bấy giờ hắn hỏi chị có nghĩ tới chuyện lấy chồng không. Chị mỉm cười bảo rằng đem người ta ra giễu là không tốt.

— Đâu có, anh thề đấy!

Và tay trái hắn vòng ôm ngang lưng chị. Chị bước đi trong vòng tay hắn. Họ chậm lại. Gió hây hây, sao lấp lánh, chiếc xe cỏ khổng lồ chao đảo trước mặt họ, và bốn con ngựa lê bước làm bụi tung lên. Rồi chẳng ai điều khiển, chúng rẽ sang phải. Hắn hôn chị thêm lần nữa. Chị biến vào bóng tối.

Tuần sau, Tê-ô-đo được chị hẹn hò.

Họ gặp nhau ở cuối sân, sau một bức tường, dưới một gốc cây đứng riêng. Chị không ngây thơ theo kiểu các cô tiểu thư, những con vật đã dạy chị biết. Nhưng lý trí và bản năng danh dự đã giữ chị khỏi sa ngã. Sự kháng cự ấy khiến tình yêu của Tê-ô-đo càng nung nấu, đến nỗi để được thoả lòng, hay có lẽ vì ngây thơ thật, hắn ngỏ ý cưới chị. Chị ngần ngại không dám tin. Hắn thề thốt rất nhiều.

Chẳng bao lâu hắn thú thật một điều rắc rối: năm ngoái bố mẹ hắn đã mua một người đi lính thay hắn, nhưng nay mai người ta có thể gọi lại hắn. Ý nghĩ phải đi lính làm hắn khiếp sợ. Sự hèn nhát ấy, với Phê-li-xi-tê, lại là một bằng chứng của lòng thương yêu. Tình yêu của chị càng tăng gấp bội. Đêm đêm chị lẻn đi, và tới chỗ hẹn, Tê-ô-đo lại dày vò chị bằng những nỗi lo âu và những lời nài nỉ của hắn.

Cuối cùng hắn báo rằng chính hắn sẽ lên toà tỉnh trưởng hỏi han, rồi sẽ mang tin về vào chủ nhật tới, khoảng mười một giờ tới nửa đêm.

Khi giờ hẹn tới, chị chạy tới chỗ người yêu.

Thay vào chỗ hắn, chị gặp một người bạn của hắn.

Anh ta cho chị biết chị đừng gặp hắn nữa. Để khỏi bị bắt lính, Tê-ô-đo đã cưới một bà già rất giàu, bà Lơ-u-xê ở Tu-cơ.

Đó là một nỗi đau tan nát. Chị lăn ra đất, kêu khóc, gọi Chúa, và một mình rên rỉ ngoài đồng cho tới lúc mặt trời mọc. Rồi chị trở về trang trại, nói mình muốn đi. Và hết tháng, lĩnh tiền công xong, chị gói tất cả hành lý ít ỏi vào một chiếc khăn, rồi tới Pông Lê-vếch.

Trước cửa quán trọ, chị hỏi một bà thị dân đội mũ goá phụ, đúng lúc bà đang cần một người nấu bếp. Cô gái chẳng biết làm gì nhiều, nhưng có vẻ nhiều thiện chí và ít đòi hỏi tới mức cuối cùng bà Ô-banh bảo:

— Thôi được, tôi nhận cô!

Mười lăm phút sau, Phê-li-xi-tê đã dọn tới nhà bà.

Thoạt đầu chị sống ở đó trong một thứ run sợ do "nếp nhà" và kỷ niệm về "Ông" bao trùm mọi thứ! Pôn và Viếc-gi-ni, đứa lên bảy, đứa chưa tròn bốn, với chị như được làm bằng một thứ chất liệu quý báu. Chị cõng chúng trên lưng như một con ngựa, và bà Ô-banh cấm chị cứ chốc chốc lại hôn chúng, khiến chị tủi thân. Thế nhưng chị thấy mình hạnh phúc. Sự êm ả của nơi này đã làm tan nỗi buồn của chị.

Thứ Năm nào cũng có mấy người khách quen tới đánh bài. Phê-li-xi-tê chuẩn bị trước bài và lò sưởi chân. Họ tới đúng tám giờ, và ra về trước khi chuông điểm mười một.

Sáng thứ Hai nào, ông hàng đồ cũ ở dưới lối đi cũng bày la liệt đồ sắt vụn xuống đất. Rồi thị trấn rộn lên tiếng người rì rầm, lẫn tiếng ngựa hí, cừu non be be, lợn ủn ỉn, với tiếng xe ngựa nhỏ lạch cạch ngoài phố. Gần trưa, lúc chợ đông nhất, người ta thấy xuất hiện ở ngưỡng cửa một ông già nông dân cao lớn, mũ hất ra sau, mũi khoằm, đó là Rô-bơ-lanh, người tá điền ở Giơ-phốt-xơ. Ít lâu sau là Li-ê-ba, người tá điền ở Tu-cơ, thấp, đỏ, béo phị, mặc áo khoác xám, đi ủng có đinh thúc ngựa.

Cả hai đều biếu bà chủ đất gà hay pho mát. Lần nào Phê-li-xi-tê cũng phá được mưu mẹo của họ. Và họ ra về, nể chị lắm.

Thỉnh thoảng, chẳng theo kỳ hạn nào, bà Ô-banh lại có khách là hầu tước đờ Grơ-măng-vin, một người chú của bà, đã khánh kiệt vì chơi bời, sống ở Pha-le-dơ trên mảnh đất cuối cùng còn lại. Ông lúc nào cũng đến đúng giờ ăn trưa, với một con chó xù xấu xí mà chân làm bẩn hết đồ đạc. Dù cố tỏ ra quý tộc, tới mức mỗi lần nói "Thân phụ tôi" lại nhấc mũ lên, thói quen vẫn cuốn ông đi, ông rót rượu uống hết chén này tới chén khác, và buông những câu bông đùa sỗ sàng. Phê-li-xi-tê lịch sự đẩy ông ra:

— Ông uống đủ rồi, ông Grơ-măng-vin! Hẹn ông lần khác!

Rồi chị đóng cửa lại.

Chị mở cửa vui vẻ khi ông Bu-rê tới, một luật sư đã nghỉ hưu. Chiếc cà vạt trắng và cái đầu hói, bộ diềm áo sơ mi, chiếc áo đuôi tôm rộng màu nâu, cái cách cong tay lên mà hít thuốc lá, cả con người ông khiến chị bối rối như ta vẫn bối rối trước những con người phi thường.

Vì ông quản lý tài sản của "Bà", nên ông đóng cửa ở với bà hàng giờ trong phòng làm việc của "Ông". Ông lúc nào cũng sợ làm điều gì mất thể diện, hết mực kính trọng ngành toà án, và có chút tham vọng về tiếng La-tinh.

Để dạy lũ trẻ một cách thú vị, ông tặng chúng một cuốn địa lý có tranh khắc. Tranh vẽ những cảnh khác nhau trên thế giới, những tộc người ăn thịt người đội lông chim, một con khỉ bắt cóc một cô gái, những người du mục giữa sa mạc, một con cá voi bị đâm lao, vân vân.

Pôn giảng cho Phê-li-xi-tê nghe những bức tranh ấy. Đó là toàn bộ học vấn văn chương của chị.

Còn việc học của lũ trẻ thì do Ghi-ô đảm nhận, một anh chàng khốn khổ làm ở toà thị chính, nổi tiếng viết chữ đẹp, hay mài con dao nhíp lên ủng.

Những hôm trời quang, cả nhà đi sớm tới trang trại Giơ-phốt-xơ.

Sân trang trại dốc, ngôi nhà ở giữa, và biển ở xa hiện ra như một vệt xám.

Phê-li-xi-tê lấy trong giỏ ra những lát thịt nguội, và người ta ăn trưa trong một gian phòng nối tiếp với phòng làm sữa. Đó là phần duy nhất còn lại của một ngôi nhà nghỉ mát nay đã không còn. Giấy dán tường rách tơi tả run lên trong gió lùa. Bà Ô-banh cúi đầu, nặng trĩu kỷ niệm. Lũ trẻ không dám nói nữa.

Bà bảo:

— Đi chơi đi chứ!

Chúng chạy biến.

Pôn trèo lên kho thóc, bắt chim, ném thia lia trên ao, hay lấy gậy gõ vào những thùng rượu to kêu vang như trống.

Viếc-gi-ni cho thỏ ăn, chạy đi hái hoa xa cúc lam, chạy nhanh tới mức để lộ cả gấu quần thêu dưới váy.

Một buổi chiều thu, cả nhà đi về qua những đồng cỏ.

Vầng trăng thượng tuần soi một phần bầu trời, và một làn sương bồng bềnh như dải khăn trên những khúc quanh của sông Tu-cơ. Những con bò nằm giữa bãi cỏ thản nhiên nhìn bốn người đi qua. Tới bãi chăn thứ ba, vài con đứng dậy, rồi đứng thành vòng tròn trước mặt họ.

Phê-li-xi-tê bảo:

— Đừng sợ gì cả!

Và vừa lẩm nhẩm một thứ bài hát buồn, chị vừa vuốt lưng con đứng gần nhất. Nó quay lưng đi, những con khác bắt chước theo. Nhưng khi đã qua bãi cỏ tiếp theo, một tiếng rống kinh hoàng vang lên. Đó là một con bò mộng bị sương mù che khuất. Nó tiến về phía hai người đàn bà. Bà Ô-banh định chạy.

— Đừng! Đừng! Đi chậm thôi!

Thế mà họ vẫn rảo bước, và nghe phía sau một hơi thở phì phò mỗi lúc một gần. Bốn móng nó như búa nện xuống cỏ. Kìa, giờ nó phi nước đại rồi! Phê-li-xi-tê quay lại, hai tay bứt những mảng đất ném vào mắt nó. Nó cúi mõm, lắc sừng, run lên vì giận dữ mà rống lên ghê rợn. Bà Ô-banh cùng hai đứa con đã tới cuối bãi cỏ, cuống cuồng tìm cách trèo qua bờ đất cao. Phê-li-xi-tê vẫn lùi dần trước con bò mộng, liên tục ném những tảng cỏ làm nó loá mắt, vừa ném vừa kêu:

— Nhanh lên! Nhanh lên!

Bà Ô-banh tụt xuống mương, đẩy Viếc-gi-ni lên, rồi tới Pôn, ngã mấy lần khi cố leo lên bờ dốc, và nhờ can đảm mà lên được.

Con bò mộng đã dồn Phê-li-xi-tê vào sát một hàng rào song. Bọt dãi của nó bắn cả lên mặt chị. Chỉ một giây nữa là nó húc toạc bụng chị. Chị kịp luồn qua giữa hai song rào, và con vật to lớn, ngạc nhiên, đứng sững lại.

Chuyện ấy, suốt bao nhiêu năm, là đề tài bàn tán ở Pông Lê-vếch. Phê-li-xi-tê chẳng lấy thế làm kiêu hãnh, thậm chí chẳng ngờ mình đã làm một việc anh hùng.

Chị chỉ lo cho Viếc-gi-ni, vì sau cơn hoảng sợ ấy, con bé mắc chứng bệnh thần kinh, và ông Pu-pa, bác sĩ, khuyên đi tắm biển ở Tru-vin.

Thời ấy chẳng mấy ai tới đó. Bà Ô-banh dò hỏi, hỏi ý ông Bu-rê, chuẩn bị như cho một chuyến đi xa.

Hành lý của bà đi trước một hôm, trên xe bò của Li-ê-ba. Hôm sau, bác dắt tới hai con ngựa, một con có yên đàn bà với chỗ tựa bọc nhung, trên mông con thứ hai, một tấm áo choàng cuộn lại làm thành chỗ ngồi. Bà Ô-banh ngồi lên đó, sau lưng bác. Phê-li-xi-tê lo cho Viếc-gi-ni, còn Pôn cưỡi con lừa của ông Lơ-sáp-toa, mượn với điều kiện phải chăm sóc nó thật cẩn thận.

Đường xấu tới mức tám cây số phải đi mất hai giờ. Ngựa lún bùn tới cổ chân, và giật mạnh hông để rút chân ra. Hoặc chúng vấp vào vệt bánh xe, có lúc phải nhảy qua. Con ngựa cái của Li-ê-ba thỉnh thoảng lại đứng khựng lại. Bác kiên nhẫn chờ nó đi tiếp, và nói chuyện về những người có đất ven đường, kể chuyện đời họ kèm theo những lời bàn đạo đức. Thế là giữa làng Tu-cơ, khi đi ngang dưới những khung cửa sổ có hoa sen cạn bao quanh, bác nhún vai nói:

— Lại cái bà Lơ-u-xê, đáng lẽ lấy một cậu trai trẻ thì...

Phê-li-xi-tê không nghe phần còn lại. Ngựa chạy nước kiệu, lừa phi nước đại. Tất cả rẽ vào một lối mòn, một cánh cổng rào quay, hai chàng trai hiện ra, và mọi người xuống ngựa trước hố phân, ngay ở ngưỡng cửa.

Bà Li-ê-ba, thấy bà chủ, mừng rỡ ra mặt. Bà dọn một bữa trưa có thịt thăn, lòng bò, dồi lợn, gà rán, rượu táo sủi bọt, bánh nướng nhân mứt và mận ngâm rượu, kèm theo bao lời lẽ lịch sự với Bà, trông khoẻ ra, với Cô, giờ đã "đẹp tuyệt", với cậu Pôn, "lớn bổng hẳn", chẳng quên cả ông bà đã khuất của họ mà nhà Li-ê-ba từng biết, vì đã phục vụ gia đình mấy đời rồi. Trang trại cũng như họ, mang vẻ cổ kính. Những thanh dầm trần nhà mục mọt, tường đen khói, kính cửa xám bụi. Một tủ bát bằng gỗ sồi bày đủ thứ dụng cụ, bình, đĩa, bát thiếc, bẫy sói, kéo xén lông cừu. Một ống thụt khổng lồ làm lũ trẻ bật cười. Chẳng cây nào trong ba khoảnh sân mà gốc không có nấm, hay trên cành không có một khóm tầm gửi. Gió đã quật đổ mấy cây. Chúng lại mọc lên từ giữa thân, và cây nào cũng oằn xuống vì sai quả táo. Những mái rạ như nhung nâu, dày mỏng không đều, chịu được cả những cơn gió mạnh nhất. Thế nhưng nhà để xe thì đang đổ nát. Bà Ô-banh bảo bà sẽ tính, rồi cho thắng yên lại.

Còn nửa giờ nữa mới tới Tru-vin. Đoàn người nhỏ xuống ngựa để đi qua Ê-co, một vách đá chìa ra trên những con thuyền. Và ba phút sau, ở cuối bến, họ vào sân quán Con Cừu Vàng, nhà bà Đa-vít.

Ngay từ những ngày đầu, Viếc-gi-ni đã thấy bớt yếu, nhờ đổi khí trời và nhờ tác dụng của những buổi tắm biển. Con bé mặc nguyên áo sơ mi mà tắm vì không có đồ tắm, và chị người làm mặc lại quần áo cho nó trong một chòi lính hải quan dùng cho người tắm.

Buổi chiều, mọi người dắt lừa đi quá những Tảng Đá Đen, về phía Ăng-nơ-kơ-vin. Lối mòn thoạt đầu leo lên giữa những khoảnh đất nhấp nhô như bãi cỏ trong một công viên, rồi tới một cao nguyên nơi đồng cỏ xen với ruộng cày. Bên vệ đường, giữa đám bụi mâm xôi rối rắm, những cây nhựa ruồi đứng thẳng. Chỗ này chỗ kia, một cây lớn đã chết in những đường dích dắc của cành lên nền trời xanh.

Hầu như lần nào cũng nghỉ trên một bãi cỏ, bên trái là Đô-vin, bên phải là Ha-vơ-rơ, và trước mặt là biển khơi. Biển lấp lánh nắng, phẳng như gương, êm tới mức chỉ nghe rì rào khe khẽ. Những con chim sẻ nấp đâu đó chiêm chiếp, và vòm trời mênh mông phủ lên tất cả. Bà Ô-banh ngồi khâu vá. Viếc-gi-ni bên cạnh bện cói. Phê-li-xi-tê nhổ hoa oải hương. Pôn thấy chán, đòi về.

Những lần khác, sau khi đi thuyền qua sông Tu-cơ, họ đi nhặt vỏ sò. Nước triều xuống để lộ ra những con nhím biển, những con sò, những con sứa. Lũ trẻ chạy đuổi theo những cụm bọt bị gió cuốn đi. Những con sóng ngái ngủ đổ xuống cát, cuộn dài theo bãi biển. Bãi biển trải ra tít tắp, nhưng phía đất liền thì giới hạn bởi những đồi cát ngăn nó với vùng Đầm Lầy, một đồng cỏ rộng hình trường đua ngựa. Khi họ về theo lối ấy, thị trấn Tru-vin ở phía cuối, trên sườn đồi, mỗi bước lại lớn thêm, và với tất cả những ngôi nhà cao thấp khác nhau, như đang nở ra trong một cảnh lộn xộn vui mắt.

Những ngày nóng quá, họ không ra khỏi phòng. Ánh sáng chói chang bên ngoài dán những vạch sáng giữa các nan cửa chớp. Làng chẳng có một tiếng động. Dưới hè phố chẳng có ai. Sự im lặng lan toả ấy càng làm mọi vật yên ả hơn. Ở xa, tiếng búa của những người xảm thuyền gõ vào thân tàu, và một làn gió nặng mang tới mùi hắc ín.

Thú vui chính là xem thuyền về. Vừa qua khỏi những cột mốc, chúng bắt đầu đi chữ chi. Buồm của chúng hạ xuống hai phần ba cột. Và lá buồm mũi phồng lên như quả bóng, chúng tiến vào, lướt đi giữa tiếng sóng óc ách, tới giữa cảng thì neo bỗng thả xuống. Rồi con thuyền ghé sát bến. Thuỷ thủ ném qua mạn những con cá còn giãy đành đạch. Một hàng xe bò chờ sẵn, và những người đàn bà đội mũ vải bông lao tới nhận giỏ và ôm chầm lấy chồng.

Một hôm, một người trong số họ lại gần Phê-li-xi-tê, và ít lâu sau chị vào phòng, mặt mày hớn hở. Chị đã tìm lại được một người chị gái. Và Na-xta-di Ba-rét, vợ Lơ-ru, xuất hiện, ngực ôm một đứa con còn bú, tay phải dắt một đứa khác, bên trái là một chú bé thuỷ thủ chống nạnh, mũ nồi đội lệch.

Mười lăm phút sau, bà Ô-banh cho chị ta về.

Lúc nào cũng gặp họ quanh quẩn gần nhà bếp, hay trong những cuộc dạo chơi. Người chồng thì chẳng thấy ló mặt.

Phê-li-xi-tê quý mến họ. Chị mua cho họ một tấm chăn, mấy chiếc áo, một cái bếp lò. Rõ ràng là họ lợi dụng chị. Sự yếu lòng ấy làm bà Ô-banh bực mình, mà bà lại chẳng ưa cái kiểu suồng sã của đứa cháu, vì nó mày tao với con trai bà. Và vì Viếc-gi-ni ho, mà mùa thì không còn tốt nữa, bà trở về Pông Lê-vếch.

Ông Bu-rê chỉ bảo bà chọn trường. Trường ở Ca-en nổi tiếng là tốt nhất. Pôn được gửi tới đó. Cậu dũng cảm từ biệt mọi người, hài lòng được tới sống ở một nơi có bạn bè.

Bà Ô-banh đành chịu xa con trai, vì đó là điều cần thiết. Viếc-gi-ni nghĩ tới anh ngày một ít đi. Phê-li-xi-tê nhớ tiếng ồn ào của cậu. Nhưng có một việc tới làm chị khuây khoả: từ lễ Giáng sinh, ngày nào chị cũng đưa cô bé đi học giáo lý.

— Hết chương 1 —

Mục lục Một tâm hồn chất phác

  1. 1Người hầu gái của bà Ô-banh18 phút
  2. 2Hai đứa trẻĐang thu âm
  3. 3Những năm tháng lặng lẽĐang thu âm
  4. 4Con vẹt Lu-luĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGustave Flaubert (1821 – 1880)
Năm mất1880
Xuất bản lần đầu1877
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Un cœur simple, trong tập Trois Contes, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →