Có một ông thầy Bà-la-môn nghèo, mắt mù, cùng bà vợ sống nhờ vào người con trai. Ngày nào anh con cũng ra ngoài xin được chút gì hay chút ấy. Cứ thế được một thời gian, rồi anh chán ngấy cảnh sống khốn khổ ấy, quyết đi sang nước khác thử vận may. Anh nói ý định ấy với vợ, dặn vợ trong mấy tháng anh vắng nhà phải xoay xở thế nào cũng được mà nuôi hai ông bà già. Anh dặn vợ phải chịu khó, kẻo cha mẹ giận mà nguyền rủa anh.
Một buổi sáng anh lên đường, mang theo một ít đồ ăn gói trong tay nải, đi hết ngày này qua ngày khác, tới kinh thành của nước láng giềng. Anh tới ngồi bên cửa hàng một nhà buôn mà xin bố thí. Nhà buôn hỏi anh từ đâu tới, tới đây làm gì, thuộc đẳng cấp nào. Anh đáp anh là người Bà-la-môn, đi lang thang khắp nơi xin ăn nuôi thân, nuôi vợ, nuôi cha mẹ. Thương tình, nhà buôn khuyên anh tới yết kiến nhà vua nước ấy, một ông vua nhân từ, rộng lượng, lại ngỏ ý dẫn anh vào triều. Đúng lúc ấy nhà vua đang tìm một người Bà-la-môn để trông nom ngôi đền vàng vua vừa xây xong. Thấy người Bà-la-môn, lại nghe nói anh là người tốt và thật thà, nhà vua mừng lắm. Vua giao ngay cho anh trông coi ngôi đền, truyền mỗi năm trả cho anh năm mươi gánh gạo và một trăm đồng tiền công.
Hai tháng sau, vợ người Bà-la-môn không nghe tin tức gì của chồng, bèn bỏ nhà đi tìm. Số may đưa đường, chị tới đúng nơi chồng đang ở. Chị nghe nói sáng nào ở ngôi đền vàng cũng có người nhân danh nhà vua phát một đồng tiền vàng cho bất cứ người ăn xin nào tới xin. Thế là sáng hôm sau chị tới đó, và gặp chồng.
— Sao mình lại tới đây? Anh hỏi. Sao mình bỏ cha mẹ tôi? Mình không lo cha mẹ nguyền rủa tôi, rồi tôi chết sao? Về ngay đi, chờ tôi về.
— Không, không, chị đáp. Tôi không về để chết đói, nhìn cha mẹ già chết được. Trong nhà không còn một hạt gạo.
— Trời ơi! Người Bà-la-môn kêu lên. Đây, cầm lấy cái này.
Anh viết vội mấy dòng lên một mảnh giấy, đưa cho vợ.
— Mình mang cái này dâng lên vua. Mình sẽ thấy vua cho mình mười vạn đồng để đổi lấy nó.
Nói xong anh bảo vợ về, và chị ra đi.
Trên mẩu giấy ấy có ghi ba lời khuyên. Thứ nhất, ai đi đường mà tới một nơi lạ lúc đêm hôm, phải cẩn thận chọn chỗ nghỉ, và đừng nhắm mắt ngủ, kẻo nhắm mắt luôn không dậy nữa. Thứ hai, ai có chị em gái đã lấy chồng, nếu tới thăm với dáng vẻ sang trọng, chị em sẽ đón tiếp vì những gì mình có thể kiếm được ở người ấy. Nhưng nếu tới trong cảnh nghèo hèn, chị em sẽ cau mặt mà chối bỏ. Thứ ba, ai có việc gì phải làm thì phải tự tay mình làm, dốc hết sức mà làm, và đừng sợ hãi.
Về tới nhà, người vợ kể với cha mẹ chồng chuyện gặp chồng, chuyện chồng đưa cho mình mẩu giấy quý giá đến thế. Nhưng chị ngại tự mình vào chầu vua, bèn nhờ một người họ hàng đi. Vua đọc mẩu giấy, sai đánh người ấy một trận roi rồi đuổi về. Sáng hôm sau người vợ tự cầm mẩu giấy đi. Đang vừa đi vừa đọc trên đường tới triều đình thì gặp thái tử. Thái tử hỏi chị đang đọc gì. Chị thưa rằng trong tay chị là mẩu giấy ghi mấy lời khuyên, chị muốn bán nó lấy mười vạn đồng. Thái tử xin xem, đọc xong liền viết cho chị một tờ lệnh lĩnh đủ số tiền ấy, rồi thúc ngựa đi. Người đàn bà nghèo biết ơn vô cùng. Ngay hôm ấy chị mua về thật nhiều lương thực, đủ cho cả nhà ăn lâu dài.
Tối ấy thái tử kể với vua cha chuyện gặp người đàn bà và mua mẩu giấy. Thái tử tưởng vua cha sẽ khen mình. Nhưng không phải thế. Vua còn giận hơn trước, đuổi thái tử ra khỏi nước.
Thái tử từ biệt mẹ, họ hàng và bạn bè, lên ngựa ra đi, chẳng biết đi đâu. Tới lúc chập tối, chàng tới một nơi kia, gặp một người đàn ông mời chàng về nhà nghỉ. Thái tử nhận lời, được tiếp đãi như một ông hoàng. Người ta trải chiếu cho chàng ngồi, dọn những món ngon nhất mời chàng ăn.
Lúc nằm xuống nghỉ, chàng nghĩ: "À! Đây là lúc dùng tới lời khuyên thứ nhất người đàn bà ấy bán cho mình. Đêm nay mình sẽ không ngủ."
May mà chàng quyết như vậy. Vì nửa đêm người đàn ông trở dậy, tay cầm gươm, lao tới định giết chàng. Nhưng chàng ngồi dậy nói:
— Đừng giết tôi. Giết tôi thì ông được lợi gì? Giết tôi rồi ông sẽ hối hận, như cái ông đã giết con chó của mình.
— Ông nào? Con chó nào? Người kia hỏi.
— Ông đưa tôi thanh gươm, tôi sẽ kể, thái tử đáp.
Người ấy đưa gươm cho chàng, và thái tử bắt đầu kể:
— Ngày xưa có một nhà buôn giàu có, nuôi một con chó cưng. Bỗng nhiên ông ta sa sút, nghèo túng, phải rời xa con chó. Ông vay của một nhà buôn khác năm nghìn đồng, để con chó lại làm tin, rồi lấy số tiền ấy buôn bán trở lại. Ít lâu sau, cửa hàng của nhà buôn kia bị trộm phá cửa, khoắng sạch. Trong cửa hàng chỉ còn lại chưa tới mười đồng tiền hàng. Nhưng con chó trung thành biết hết mọi chuyện. Nó đi theo bọn trộm, xem chúng giấu đồ ở đâu, rồi quay về.
— Sáng ra cả nhà nhà buôn khóc lóc than vãn khi biết chuyện. Chính nhà buôn suýt phát điên. Trong lúc ấy con chó cứ chạy ra cửa, rồi lại níu áo níu quần chủ, như muốn chủ đi ra ngoài. Cuối cùng có người bạn gợi ý có khi con chó biết đồ đạc ở đâu, khuyên nhà buôn cứ đi theo nó. Nhà buôn nghe theo, đi theo con chó tới tận chỗ bọn trộm giấu hàng. Tới nơi, con chó cào đất, sủa ầm lên, làm đủ cách cho người ta biết đồ đạc nằm bên dưới. Nhà buôn và bạn bè đào quanh đó, chẳng mấy chốc tìm thấy hết đồ bị mất. Không thiếu thứ gì. Mọi thứ còn nguyên như lúc bọn trộm lấy đi.
— Nhà buôn mừng lắm. Về tới nhà, ông lập tức gửi con chó về với chủ cũ, cuộn một lá thư giắt dưới vòng cổ nó. Trong thư ông kể con chó khôn ngoan thế nào, xin bạn coi như xoá món nợ, lại tặng thêm năm nghìn đồng nữa. Nhà buôn kia thấy con chó trở về thì nghĩ: "Than ôi! Bạn mình đòi tiền rồi. Lấy đâu mà trả? Mình chưa kịp gượng dậy sau mấy phen thua lỗ. Mình phải giết con chó trước khi nó tới cửa, rồi bảo là ai khác giết. Thế là xong món nợ. Không chó, không nợ." Thế là ông chạy ra giết chết con chó tội nghiệp. Lá thư rơi ra khỏi vòng cổ nó. Ông nhặt lên đọc. Biết sự tình rồi, ông đau đớn, ân hận biết chừng nào!
— Ông hãy coi chừng, thái tử nói tiếp, kẻo làm điều mà về sau ông có đổi cả mạng sống cũng không mong gì làm lại được.
Kể xong câu chuyện thì trời đã gần sáng. Thái tử thưởng cho người đàn ông rồi ra đi.
Rồi thái tử tới nước của anh rể mình. Chàng cải trang làm một ông đạo, ngồi dưới gốc cây gần cung điện, giả vờ nhập định cầu kinh. Tin về người đàn ông ấy và lòng mộ đạo lạ lùng của ông tới tai nhà vua. Vua quan tâm lắm, vì hoàng hậu đang ốm nặng, vua đã tìm bao thầy thuốc mà không ai chữa nổi. Vua nghĩ biết đâu bậc tu hành này có thể làm được gì cho hoàng hậu. Vua cho người tới mời. Nhưng ông đạo từ chối không đặt chân vào cung vua, bảo chỗ ở của ông là trời đất ngoài kia, vua muốn gặp thì phải tự tới, đưa cả hoàng hậu tới. Vua bèn đưa hoàng hậu tới chỗ ông đạo. Bậc tu hành bảo hoàng hậu phủ phục trước mặt mình. Hoàng hậu nằm phủ phục như thế chừng ba tiếng đồng hồ, ông đạo mới bảo bà đứng dậy về đi, bệnh đã khỏi rồi.
Tối hôm ấy cả cung náo động, vì hoàng hậu mất chuỗi tràng hạt ngọc trai mà không ai biết đâu cả. Mãi sau có người tới chỗ ông đạo, thấy chuỗi hạt nằm dưới đất, đúng chỗ hoàng hậu đã phủ phục. Vua nghe chuyện thì giận lắm, truyền đem ông đạo đi chém. Nhưng lệnh nghiêm ấy không được thi hành, vì thái tử đút lót cho bọn lính rồi trốn khỏi nước ấy. Thế là chàng biết lời khuyên thứ hai quả là đúng.
Một hôm, đã mặc lại quần áo của mình, thái tử đang đi đường thì thấy một bác thợ gốm cùng vợ con lúc khóc lúc cười.
— Này ông ngốc, có chuyện gì thế? Đã cười sao lại khóc? Đã khóc sao lại cười?
— Đừng làm phiền tôi. Can gì tới ông?
— Xin lỗi bác, nhưng tôi muốn biết vì sao.
— Thế thì vì thế này. Vua nước này có một cô con gái, ngày nào cũng phải gả chồng cho cô ấy, vì người chồng nào cũng chết ngay đêm đầu ở với cô. Trai tráng trong vùng chết gần hết cả rồi, chẳng mấy chốc sẽ tới lượt con trai tôi. Chúng tôi cười vì chuyện vô lý, con trai thợ gốm mà được lấy công chúa. Chúng tôi khóc vì cái hậu quả khủng khiếp của cuộc hôn nhân ấy. Biết làm sao bây giờ?
— Đúng là chuyện đáng cười mà cũng đáng khóc. Nhưng đừng khóc nữa. Tôi sẽ thế chỗ con trai bác, lấy công chúa thay cho cậu ấy. Bác chỉ cần cho tôi bộ quần áo tươm tất, sửa soạn cho tôi đi.
Bác thợ gốm đưa cho chàng quần áo đẹp và đồ trang sức, và thái tử vào cung. Tối đến, người ta dẫn chàng vào phòng công chúa. Chàng nghĩ: "Giờ phút ghê sợ đây! Mình cũng sẽ chết như hàng chục chàng trai trước mình sao?" Chàng nắm chặt thanh gươm, nằm xuống giường, quyết thức suốt đêm xem chuyện gì xảy ra. Nửa đêm, chàng thấy hai con rắn chúa từ lỗ mũi công chúa bò ra. Chúng lẳng lặng trườn về phía chàng, định giết chàng như những người đến trước. Nhưng chàng đã sẵn sàng. Chàng nắm lấy thanh gươm, và khi hai con rắn tới mép giường, chàng chém chết cả hai. Sáng ra vua tới hỏi thăm như thường lệ, ngạc nhiên nghe con gái mình và chàng trai đang vui vẻ trò chuyện với nhau. Vua nói:
— Hẳn người này mới đúng là chồng nó, vì chỉ có người này mới sống được với nó.
Vua bước vào phòng hỏi:
— Ngươi từ đâu tới? Ngươi là ai?
— Tâu bệ hạ, tôi là con trai một ông vua cai trị nước nọ nước kia.
Nghe vậy vua mừng lắm, bảo thái tử ở lại trong cung, lập chàng làm người nối ngôi. Thái tử ở lại hơn một năm, rồi xin phép về thăm quê, vua bằng lòng. Vua cho chàng voi, ngựa, châu báu và thật nhiều tiền để tiêu dọc đường và làm quà biếu vua cha, rồi thái tử lên đường.
Trên đường về chàng phải đi qua nước của người anh rể đã nói ở trên. Tin chàng tới đến tai nhà vua nước ấy. Vua đích thân ra đón, tay trói dây, cổ đeo thừng, để tỏ lòng thần phục. Vua hết sức khúm núm nài chàng ở lại trong cung, nhận chút lòng thành tiếp đãi. Trong lúc ở lại cung, chàng gặp chị gái mình. Chị đón chàng bằng những nụ cười và những cái hôn. Lúc ra về, chàng kể cho chị nghe lần đầu tới đây chàng đã bị vợ chồng chị đối xử thế nào, chàng đã thoát nạn ra sao. Rồi chàng tặng vợ chồng chị hai con voi, hai con ngựa đẹp, mười lăm người lính, và số châu báu đáng giá một triệu đồng.
Rồi chàng về quê nhà, cho cha mẹ hay tin mình đã về. Than ôi! Vua cha và hoàng hậu đều đã mù loà vì khóc thương đứa con lưu lạc.
— Cho nó vào đây, vua cha nói. Nó đặt tay lên mắt ta, ta sẽ thấy lại.
Thái tử bước vào, được cha mẹ già âu yếm đón chào. Chàng đặt tay lên mắt cha mẹ, và hai ông bà sáng mắt trở lại.
Rồi thái tử kể với cha mọi chuyện đã xảy đến với mình, kể chàng đã mấy lần thoát chết nhờ làm theo những lời khuyên mua của người đàn bà nghèo. Nghe xong, vua tỏ lòng hối tiếc đã đuổi con đi, và cả nhà lại vui vẻ, bình yên như xưa.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích