Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Nàng Lý Oa

của Truyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 19.772 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Hành Quốc phu nhân Lý Oa vốn là một…
  2. 2:45Em giữ cậu ấy lại, chị sửa sang trang…
  3. 4:47Lát sau, mọi người dời sang nhà phía tây.…
  4. 7:14Đứa hầu gái đáp:
  5. 8:59Người hàng xóm đáp:
  6. 13:24Người hát kia trông giống hệt cậu nhà đã…
  7. 16:26Để chàng một sớm đến nông nỗi này, là…
  8. 19:26Cậu đi thi, một lần đỗ ngay giáp khoa,…

Hành Quốc phu nhân Lý Oa vốn là một ca kỹ ở thành Trường An. Tiết hạnh của nàng lạ lùng hiếm có, đáng được ca ngợi. Vì thế quan giám sát ngự sử Bạch Hành Giản chép lại thành truyện.

Trong khoảng năm Thiên Bảo, có ông thứ sử Thường Châu, người đất Huỳnh Dương, xin giấu họ tên không chép, là người danh vọng rất cao, nhà cửa giàu có, kẻ hầu người hạ đông đúc. Năm năm mươi tuổi, ông có một người con trai vừa tròn hai mươi, tuấn tú sáng sủa, văn hay chữ tốt, vượt hẳn bạn bè, người cùng lứa ai cũng phục. Ông cha yêu con lắm, coi trọng con, thường nói:

— Đây là con ngựa nghìn dặm của nhà ta.

Cậu được tiến cử đi thi tú tài. Lúc sắp lên đường, ông cha sắm cho cậu thật nhiều áo quần, đồ dùng, xe ngựa sang trọng, lại tính sẵn tiền củi gạo ăn ở chốn kinh đô, rồi bảo:

— Cha xem tài con, chỉ một trận là đứng đầu. Nay cha sắm đủ tiêu dùng cho hai năm, lại cấp rộng rãi, để con thoả chí.

Cậu cũng tự phụ, coi việc đỗ cao dễ như trở bàn tay. Cậu ra đi từ Tì Lăng, hơn một tháng thì tới Trường An, trọ ở phường Bố Chính.

Một hôm cậu đi chơi chợ Đông về, vào cửa đông phường Bình Khang, định đi thăm một người bạn ở phía tây nam. Đến ngõ Minh Kha, cậu thấy một ngôi nhà, cổng sân không rộng lắm nhưng nhà cửa nghiêm trang thâm thúy. Một cánh cửa khép hờ, có một cô gái đang tựa vai một đứa hầu búi tóc hai bên mà đứng. Dáng điệu yêu kiều tuyệt đẹp, đời chưa từng có.

Cậu chợt trông thấy, bất giác dừng ngựa hồi lâu, cứ quanh quẩn không nỡ đi. Cậu bèn giả vờ đánh rơi chiếc roi ngựa, đợi người hầu nhặt lên, mắt thì cứ liếc nhìn cô gái mãi. Cô gái cũng quay lại nhìn đăm đăm, ra chiều rất mến. Nhưng rốt cuộc cậu không dám nói câu nào, đành bỏ đi.

Từ đó cậu như người mất hồn. Cậu lén hỏi một người bạn thạo đường ngang ngõ tắt ở Trường An. Người bạn nói:

— Đó là nhà nàng Lý, một ca kỹ.

Cậu hỏi:

— Có thể làm quen được nàng không?

Người bạn đáp:

— Nhà họ Lý khá giàu. Những người qua lại với nàng trước kia phần nhiều là quý thích, hào phú, nàng được nhiều tiền lắm. Không có hàng trăm vạn thì đừng hòng lay được lòng nàng.

Cậu nói:

— Chỉ sợ không thành, chứ trăm vạn thì có tiếc gì.

Hôm khác, cậu ăn mặc chỉnh tề, dẫn theo đông người hầu, đến gõ cửa. Một lát có đứa hầu gái ra mở. Cậu hỏi:

— Đây là nhà ai thế?

Đứa hầu không đáp, chạy vào gọi to:

— Cậu đánh rơi roi hôm trước đến đấy!

Lý Oa mừng lắm, bảo:

— Em giữ cậu ấy lại, chị sửa sang trang điểm, thay áo rồi ra.

Cậu nghe vậy thì mừng thầm. Đứa hầu dẫn cậu vào tới bức bình phong, thấy một bà cụ tóc bạc, lưng còng, chính là mẹ của Lý Oa. Cậu quỳ lạy, thưa:

— Nghe nói ở đây có gian nhà trống, cháu muốn thuê để ở, không biết có không ạ?

Bà cụ nói:

— Chỉ sợ nhà cửa nông hẹp ẩm thấp, không xứng chỗ bậc trưởng giả ở, đâu dám nói chuyện giá cả.

Bà mời cậu vào phòng khách. Phòng khách rất đẹp. Bà ngồi đối diện với cậu, rồi nói:

— Già có đứa con gái còn non dại, nghề ngón kém cỏi, nhưng thích tiếp khách. Già muốn cho nó ra chào cậu.

Rồi bà gọi Lý Oa ra. Mắt sáng, cổ tay trắng, bước đi yểu điệu. Cậu vội đứng bật dậy, không dám ngẩng lên nhìn. Chào hỏi xong, hai bên nói chuyện nắng mưa. Mỗi cử chỉ của nàng đều duyên dáng chưa từng thấy. Ngồi xuống, nàng pha trà rót rượu, đồ dùng đều rất sạch sẽ.

Hồi lâu, trời tối, tiếng trống đóng cửa phường nổi lên khắp bốn phía. Bà cụ hỏi nhà cậu ở xa hay gần. Cậu nói dối:

— Ở ngoài cửa Diên Bình mấy dặm.

Cậu mong nói xa thì sẽ được giữ lại. Bà cụ bảo:

— Trống đã nổi rồi, cậu nên mau về, kẻo phạm lệnh cấm đi đêm.

Cậu nói:

— Được vui cười cùng bà, chẳng biết trời đã tối. Đường thì xa, trong thành lại không có họ hàng, biết làm sao bây giờ?

Lý Oa nói:

— Cậu đã không chê nhà quê mùa mà định đến ở, thì ngủ lại một đêm có hại gì.

Cậu mấy lần đưa mắt nhìn bà cụ. Bà cụ nói:

— Ừ, ừ.

Cậu bèn gọi gia đồng, đem hai tấm lụa ra, xin để làm tiền cỗ một đêm. Lý Oa cười, ngăn lại:

— Lễ nghĩa chủ khách không phải như vậy. Chi phí đêm nay, xin để nhà nghèo này tuỳ cơm rau đạm bạc mà đãi cậu. Những thứ khác, xin để dịp sau.

Cậu cố nài, nàng nhất định không nhận.

Lát sau, mọi người dời sang nhà phía tây. Màn trướng, rèm, giường rực rỡ chói mắt. Hộp phấn, chăn gối cũng đều xa hoa. Đèn nến thắp lên, cỗ bàn dọn ra, món ăn rất thịnh soạn. Ăn xong, bà cụ đứng dậy đi ra. Cậu và Lý Oa chuyện trò đang thắm thiết, cười đùa trêu ghẹo không ngớt. Cậu nói:

— Hôm trước tình cờ đi qua cửa nhà nàng, gặp nàng đứng bên bình phong. Từ đó lòng tôi cứ nhớ nhung mãi, ăn ngủ cũng chẳng lúc nào quên.

Lý Oa đáp:

— Lòng em cũng vậy.

Cậu lại nói:

— Hôm nay tôi đến đây, đâu phải chỉ để thuê nhà. Tôi mong được thoả nguyện cả đời, chỉ chưa biết số phận ra sao.

Lời chưa dứt, bà cụ đã trở vào, hỏi chuyện gì. Cậu kể thật cả. Bà cụ cười:

— Chuyện trai gái, ấy là lòng ham muốn lớn của con người. Tình đã hợp nhau thì dẫu là lệnh cha mẹ cũng không ngăn được. Con gái già quê mùa, đâu đáng hầu hạ quân tử.

Cậu bèn xuống thềm, lạy tạ:

— Cháu xin làm kẻ hầu hạ trong nhà.

Bà cụ từ đó gọi cậu là con rể. Uống rượu say rồi mới tan.

Sáng hôm sau, cậu đem hết hành lý đến, ở luôn nhà họ Lý. Từ đó cậu lánh mặt, không qua lại với người quen thân thích nữa, ngày ngày tụ tập với bọn đào kép, đùa nghịch yến tiệc. Hết tiền trong túi, cậu bán ngựa quý, bán cả gia đồng. Hơn một năm, tiền của, đầy tớ, ngựa xe đều sạch trơn. Từ đó bà cụ ngày càng lạnh nhạt, còn Lý Oa thì tình càng thêm sâu nặng.

Một hôm, Lý Oa bảo cậu:

— Em với chàng quen nhau đã một năm mà vẫn chưa có con. Em thường nghe nói thần Trúc Lâm linh ứng lắm, cầu gì được nấy. Mình đến dâng lễ cầu tự, chàng thấy thế nào?

Cậu không biết đó là mưu, mừng lắm, đem áo xống cầm ở hiệu để sắm lễ vật, cùng nàng đến đền khấn vái. Ở lại hai đêm rồi về.

Cậu cưỡi lừa theo sau xe, tới cổng bắc của phường, Lý Oa nói:

— Rẽ sang phía đông, trong ngõ nhỏ kia là nhà dì em. Mình ghé vào nghỉ chân, thăm dì một chút, được không chàng?

Cậu nghe theo. Đi chưa quá trăm bước, quả thấy một cổng lớn. Nhìn qua khe, trong rất rộng rãi. Đứa hầu gái đi sau xe bảo dừng lại:

— Tới rồi.

Cậu xuống lừa, vừa lúc có người ra hỏi:

— Ai đấy?

Đứa hầu gái đáp:

— Lý Oa đây.

Người ấy vào báo. Một lát có một bà chừng hơn bốn mươi tuổi ra đón, hỏi:

— Cháu tôi đến đấy à?

Lý Oa xuống xe, bà ta đón lấy mà hỏi:

— Sao lâu thế không lại thăm dì?

Hai người nhìn nhau mà cười. Lý Oa dẫn cậu ra chào. Chào xong, cả bọn vào một biệt viện bên cổng phía tây. Trong có núi giả, đình nhỏ, tre trúc xanh um, ao hồ lầu gác thâm u. Cậu hỏi Lý Oa:

— Đây là nhà riêng của dì à?

Nàng cười không đáp, lấy chuyện khác nói lảng đi. Lát sau người nhà dâng trà và hoa quả, toàn thứ quý lạ.

Ăn xong được một lúc, có một người dắt con ngựa lớn, mồ hôi nhễ nhại phi tới, báo:

— Bà cụ bị bệnh đột ngột, nặng lắm, gần như không nhận ra ai nữa. Xin về ngay!

Lý Oa bảo người dì:

— Lòng cháu rối bời. Cháu cưỡi ngựa về trước, sẽ cho ngựa quay lại đón chàng sau.

Cậu định theo nàng, nhưng người dì thì thầm với đứa hầu gái, rồi vẫy tay bảo cậu đứng lại ngoài cửa mà nói:

— Bà cụ sắp mất rồi, cậu phải bàn với tôi việc tang ma cho kịp lo, sao lại vội theo đi?

Cậu bèn ở lại, cùng bà ta tính toán việc đồ tang, việc cúng tế. Trời đã chiều mà ngựa vẫn chưa tới. Người dì nói:

— Không thấy ai báo lại, sao thế nhỉ? Cậu mau về xem, tôi sẽ theo sau.

Cậu bèn đi. Về tới nhà cũ, thấy cổng khoá kín mít, lại trát cả bùn niêm phong. Cậu kinh hãi, hỏi người hàng xóm. Người hàng xóm nói:

— Nhà họ Lý vốn thuê nhà này, hạn thuê đã hết. Chủ nhà lấy lại rồi. Bà cụ dọn đi đã được hai đêm.

Cậu hỏi:

— Dọn đi đâu?

Người hàng xóm đáp:

— Không rõ.

Cậu định phóng tới phường Tuyên Dương hỏi người dì thì trời đã tối, tính đường không kịp. Cậu bèn cởi áo cầm lấy cơm ăn, thuê giường mà ngủ. Lòng cậu căm giận vô cùng, từ tối đến sáng không chợp mắt.

Tờ mờ sáng, cậu cưỡi con lừa què đi. Tới nơi, gõ cửa liên hồi, cả bữa cơm không ai thưa. Cậu gọi to mấy lần, mới có một viên hoạn quan thong thả bước ra. Cậu vội hỏi:

— Bà dì có ở đây không?

Viên hoạn quan đáp:

— Không có ai như thế.

Cậu nói:

— Chiều qua còn ở đây, sao lại giấu?

Cậu hỏi đây là nhà ai. Người kia đáp:

— Đây là phủ của Thôi thượng thư. Hôm qua có người thuê gian nhà này, nói là để đợi người họ hàng ở xa tới, chưa tối đã đi rồi.

Cậu hoảng hốt như người phát điên, chẳng biết làm sao, đành quay về chỗ trọ cũ ở phường Bố Chính. Chủ trọ thương tình dọn cơm cho ăn. Cậu uất ức, nhịn đói ba ngày, đổ bệnh rất nặng. Hơn mười ngày, bệnh càng nặng thêm. Chủ trọ sợ cậu chết, đem cậu sang gửi ở một hiệu bán đồ tang. Cậu thoi thóp một thời gian, người trong hiệu ai cũng thương, thay nhau đút cho ăn. Sau cậu khá dần, chống gậy đứng dậy được.

Từ đó hiệu đồ tang ngày ngày thuê cậu cầm màn che quan tài, lấy tiền công tự nuôi thân. Mấy tháng sau, cậu khoẻ lại. Mỗi lần nghe những bài hát đưa ma, cậu lại tủi rằng mình còn không bằng người đã chết, nghẹn ngào khóc không cầm được. Về nhà, cậu tập hát theo. Cậu vốn sáng dạ, chẳng bao lâu đã hát hay tuyệt, cả Trường An không ai bì kịp.

Trước đó, hai hiệu cho thuê đồ tang ở phía đông và phía tây vẫn tranh hơn kém với nhau. Xe kiệu của hiệu phía đông đều đẹp lạ, hiệu phía tây không sánh nổi, chỉ có phần hát đưa ma là kém. Chủ hiệu phía đông biết cậu hát hay tuyệt, bèn góp hai vạn tiền thuê cậu. Những người lão luyện trong hiệu cùng nhau xem cậu giỏi chỗ nào, lén dạy cậu những điệu mới, rồi hát hoạ theo. Mấy mươi ngày, không ai hay biết.

Hai chủ hiệu bàn nhau:

— Chúng ta mỗi bên đem đồ nghề ra bày ở phố Thiên Môn để so hơn kém. Bên nào thua phạt năm vạn tiền để làm tiệc rượu. Được không?

Hai bên đều ưng. Họ lập giao kèo, ký tên có người bảo lãnh, rồi mới đem đồ ra bày. Trai gái kéo đến xem đông nghịt, có tới mấy vạn người. Viên lý trưởng báo lên quan coi việc trị an, quan trị an báo lên quan Kinh Triệu doãn. Người bốn phương đổ cả đến, trong ngõ không còn ai ở nhà.

Từ sáng đến trưa, bày hết xe kiệu, nghi trượng, hiệu phía tây đều thua, ông chủ hổ thẹn ra mặt. Ông bèn kê một cái sạp cao ở góc phía nam. Có một người râu dài ôm chiếc chuông lắc bước ra, mấy người theo hầu hai bên. Người ấy vểnh râu, nhướn mày, nắm cổ tay, gật đầu bước lên, cất giọng hát bài Bạch Mã. Cậy mình xưa nay vẫn thắng, anh ta liếc nhìn hai bên, ra vẻ coi như không có ai. Mọi người đồng thanh khen ngợi, anh ta tự cho là độc bộ một thời, không ai làm anh ta chịu thua được.

Một lát sau, chủ hiệu phía đông kê một dãy sạp ở góc phía bắc. Có một chàng trai trẻ đội khăn đen, năm sáu người theo hầu hai bên cầm quạt che, bước tới. Đó chính là cậu. Cậu sửa lại áo quần, cúi ngẩng thật chậm rãi, rồi cất giọng, dáng như không kham nổi nỗi buồn, hát bài Giới Lộ, bài sương trên lá hẹ. Tiếng hát trong vút, vang động cả rừng cây. Khúc hát chưa dứt, người nghe đã sụt sùi che mặt khóc.

Chủ hiệu phía tây bị mọi người chế giễu, càng hổ thẹn, lặng lẽ đặt số tiền thua cược ra trước mặt rồi lẩn mất. Người bốn phía ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu ra sao.

Trước đó, nhà vua vừa xuống chiếu, bắt các quan trấn nhậm ngoài các châu mỗi năm phải về kinh một lần, gọi là nhập kế. Lúc ấy vừa khéo cha cậu đang ở kinh đô, cùng mấy vị đồng liêu thay áo thường, lén đi xem hội. Có một ông đầy tớ già, là chồng của vú nuôi cậu, nhìn dáng điệu, giọng nói của cậu, định nhận mà chưa dám, nước mắt chảy ròng. Cha cậu lấy làm lạ, hỏi. Ông già thưa:

— Người hát kia trông giống hệt cậu nhà đã mất.

Cha cậu nói:

— Con ta vì mang nhiều tiền mà bị cướp giết rồi, đâu đến nỗi này.

Nói xong, ông cũng khóc.

Về rồi, ông già tranh thủ chạy đi, hỏi người trong hiệu:

— Người hát vừa rồi là ai mà hay đến thế?

Người ta đều nói:

— Là con nhà họ nọ.

Hỏi tên thì đã đổi tên khác rồi. Ông già giật mình kinh hãi, thong thả đi tới, đến sát mà nhìn. Cậu thấy ông già biến sắc, quay đi định lẩn vào đám đông. Ông già bèn níu lấy tay áo cậu:

— Có phải cậu đó không?

Hai người ôm nhau mà khóc. Rồi ông già đưa cậu về. Về tới chỗ trọ, cha cậu mắng:

— Chí hướng, hạnh kiểm như thế này, làm nhục cả nhà ta, còn mặt mũi nào mà gặp nhau nữa!

Rồi ông dẫn cậu đi bộ ra phía tây Khúc Giang, phía đông vườn Hạnh, lột áo cậu ra, lấy roi ngựa quất mấy trăm roi. Cậu không chịu nổi đau, chết ngất. Cha cậu bỏ mặc đó mà đi.

Ông chủ dạy hát sai một người thân với cậu lén đi theo. Người ấy về báo lại, cả bọn đều thương xót than thở, sai hai người đem chiếu cói ra chôn cậu. Tới nơi thấy dưới ngực cậu còn hơi ấm. Họ nâng cậu lên, hồi lâu hơi thở dần thông, bèn cùng khiêng về, lấy ống sậy rót nước cháo cho uống. Qua một đêm thì cậu sống lại.

Hơn một tháng, tay chân cậu vẫn không nhấc lên được. Những chỗ bị roi vọt đều lở loét, hôi hám vô cùng. Bạn bè ngán ngẩm, một đêm đem bỏ cậu ra bên đường. Người qua lại ai cũng thương, thường ném cho chút cơm thừa, cậu nhờ đó mà có cái lót dạ. Một trăm ngày sau, cậu mới chống gậy đứng dậy được. Cậu khoác chiếc áo vải vá trăm mảnh, rách tả tơi như lông chim cút. Tay cầm cái bát vỡ, cậu đi khắp làng xóm xin ăn. Từ thu sang đông, đêm thì chui vào hang hốc đống rác, ngày thì lang thang khắp phố chợ.

Một hôm tuyết rơi dày, cậu đói rét không chịu nổi, đành đội tuyết ra đi. Tiếng kêu xin ăn thảm thiết, ai nghe thấy cũng mủi lòng. Bấy giờ tuyết rơi rất dữ, nhà nào cũng đóng chặt cổng ngoài. Đến cửa đông phường An Ấp, men theo tường rẽ lên phía bắc, tới ngôi nhà thứ bảy thứ tám, có một cái cổng chỉ hé một cánh bên trái. Đó chính là nhà Lý Oa.

Cậu không biết, cứ thế kêu liên hồi. Đói rét quá, tiếng kêu thê thiết, nghe không nỡ. Lý Oa ở trong buồng nghe thấy, bảo đứa hầu:

— Đây ắt là chàng. Chị nhận ra giọng rồi.

Nàng vội vã bước ra, thấy cậu gầy trơ xương, ghẻ lở đầy mình, gần như không còn ra hình người. Lý Oa động lòng, hỏi:

— Có phải chàng đó không?

Cậu uất nghẹn ngã vật ra, miệng không nói được, chỉ gật đầu. Lý Oa bước tới ôm lấy cổ cậu, lấy chiếc áo thêu của mình quấn quanh người cậu, đưa vào nhà phía tây. Nàng bật khóc thảm thiết:

— Để chàng một sớm đến nông nỗi này, là tội của em!

Nàng ngất đi rồi lại tỉnh. Bà cụ hốt hoảng chạy đến hỏi:

— Gì thế?

Lý Oa đáp:

— Là chàng.

Bà cụ vội nói:

— Phải đuổi nó đi ngay, sao lại cho vào đây?

Lý Oa nghiêm nét mặt, quay lại nhìn bà mà nói:

— Không được. Đây là con nhà lương thiện. Ngày trước chàng đánh xe cao, mang vàng bạc, đến nhà con, chưa đầy một năm đã tiêu sạch. Rồi nhà mình bày mưu lừa gạt, bỏ rơi mà đuổi chàng đi, thật không phải đạo làm người. Mình làm chàng mất hết chí hướng, không còn được đứng vào hàng người tử tế. Tình cha con là thiên tính, vậy mà để cha con chàng tuyệt tình, cha đánh chết con rồi bỏ đi, lại khốn khổ đến thế này. Người khắp thiên hạ đều biết là tại con. Họ hàng chàng làm quan đầy triều, một khi người có quyền xét rõ đầu đuôi, tai hoạ sẽ đến với nhà mình. Huống chi dối trời phụ người, quỷ thần không phù hộ, đừng tự chuốc lấy tai ương. Con làm con của mẹ đến nay đã hai mươi năm. Tính ra số tiền con kiếm cho mẹ, không dưới nghìn vàng. Nay mẹ đã ngoài sáu mươi, con xin tính đủ tiền ăn mặc cho mẹ hai mươi năm để chuộc thân, rồi cùng chàng tìm chỗ khác mà ở. Chỗ ở sẽ không xa, sớm tối con vẫn sang thăm mẹ, quạt nồng ấp lạnh. Được như thế là con mãn nguyện rồi.

Bà cụ liệu chí nàng không thể lay chuyển, đành bằng lòng. Trả cho bà cụ xong, Lý Oa còn lại trăm lạng vàng. Nàng thuê một gian nhà trống ở góc phía bắc, cách đó năm nhà. Nàng tắm rửa cho cậu, thay áo quần mới, nấu cháo loãng cho ruột gan thông, rồi cho uống sữa để thấm nhuận tạng phủ. Hơn mười ngày sau mới cho ăn cơm thịt cá. Khăn mũ giày tất đều chọn thứ quý giá cho cậu mặc. Chưa được mấy tháng, da thịt cậu đã đầy đặn hơn. Hết năm, cậu khoẻ mạnh như xưa.

Một hôm, Lý Oa bảo cậu:

— Người chàng đã khoẻ, chí chàng đã mạnh. Chàng thử lắng lòng nghĩ kỹ, xem việc học ngày trước còn ôn lại được không?

Cậu nghĩ một lúc rồi đáp:

— Mười phần còn được hai ba.

Lý Oa sai đánh xe ra phố, cậu cưỡi ngựa theo sau. Tới hiệu sách bên cửa phía nam lầu chợ, nàng bảo cậu chọn mà mua, hết cả trăm lạng vàng, chở về đầy xe. Rồi nàng bắt cậu gạt bỏ mọi lo nghĩ, chuyên tâm học hành, lấy đêm làm ngày, chăm chỉ không ngơi. Lý Oa thường ngồi bên cạnh, quá nửa đêm mới đi ngủ. Thấy cậu mệt mỏi, nàng lại bảo cậu làm thơ làm phú cho đổi óc.

Hai năm sau, việc học đã thành, sách vở trong thiên hạ không gì là cậu chưa đọc qua. Cậu nói với Lý Oa:

— Có thể ghi tên đi thi được rồi.

Lý Oa đáp:

— Chưa được. Hãy học cho thật nhuần nhuyễn, để đợi trăm trận.

Thêm một năm nữa, nàng mới bảo:

— Đi được rồi.

Cậu đi thi, một lần đỗ ngay giáp khoa, tiếng vang khắp trường thi. Đến những bậc tiền bối đọc văn cậu, ai cũng sửa áo kính phục, muốn kết bạn mà không được. Lý Oa nói:

— Chưa được đâu. Bây giờ kẻ sĩ hễ đỗ được một khoa, là tự cho rằng có thể chiếm chức to trong triều, nắm tiếng tốt trong thiên hạ. Chàng từng có vết nhơ, việc làm thấp hèn, không giống những kẻ sĩ khác. Chàng phải mài sắc thêm thanh gươm của mình, để thắng thêm lần nữa, rồi mới sánh vai được với các kẻ sĩ, tranh hùng với bậc anh tài.

Từ đó cậu càng chăm chỉ khổ công, danh tiếng ngày càng lớn. Năm ấy gặp kỳ thi lớn, nhà vua xuống chiếu vời người tài bốn phương. Cậu dự khoa Trực ngôn cực gián, đỗ đầu, được bổ làm tham quân phủ Thành Đô. Từ hàng tam công trở xuống, ai cũng là bạn của cậu.

Lúc sắp đi nhậm chức, Lý Oa bảo cậu:

— Nay chàng đã trở lại là chính mình, em không phụ chàng nữa. Em xin đem quãng đời còn lại về phụng dưỡng mẹ già. Chàng nên kết duyên với con gái nhà danh giá, để lo việc thờ cúng tổ tiên. Trong ngoài hôn phối cho xứng, đừng tự làm nhục mình. Chàng hãy gắng giữ gìn. Em từ đây xin đi.

Cậu khóc mà nói:

— Nếu nàng bỏ ta, ta sẽ tự đâm cổ mà chết.

Lý Oa nhất định từ chối, cậu càng van nài khẩn thiết. Lý Oa nói:

— Em sẽ đưa chàng qua sông, tới Kiếm Môn, rồi chàng phải cho em về.

Cậu bằng lòng.

Hơn một tháng thì tới Kiếm Môn. Chưa kịp lên đường thì có chiếu bổ nhiệm tới: cha cậu được triệu từ Thường Châu, phong làm doãn Thành Đô, kiêm thái phỏng sứ Kiếm Nam. Mười hai ngày sau, cha cậu tới. Cậu đưa danh thiếp, vào yết kiến ở trạm dịch. Người cha không dám nhận, nhưng thấy trên thiếp ghi tên tuổi chức tước của ông nội và cha, mới giật mình kinh ngạc, gọi cậu lên thềm, vỗ lưng con mà khóc rống lên. Hồi lâu, ông nói:

— Cha con ta lại như xưa.

Ông hỏi đầu đuôi, cậu kể hết mọi chuyện. Ông lấy làm lạ lắm, hỏi Lý Oa đâu. Cậu thưa:

— Nàng đưa con tới đây, con phải để nàng về.

Người cha nói:

— Không được.

Hôm sau, ông sai đánh xe cùng cậu đi trước tới Thành Đô, giữ Lý Oa lại Kiếm Môn, dựng một biệt quán cho nàng ở. Hôm sau nữa, ông sai bà mối đến ngỏ lời kết thân giữa hai họ, sửa đủ sáu lễ để rước nàng về, thành vợ chồng đường hoàng.

Lý Oa về làm dâu đủ lễ. Ngày tết ngày giỗ, nàng giữ trọn đạo làm dâu, coi sóc việc nhà nghiêm chỉnh, được cha mẹ chồng hết sức yêu quý. Mấy năm sau, cha mẹ chồng lần lượt qua đời, hai vợ chồng chịu tang hết lòng hiếu thảo. Ở túp lều chịu tang mọc lên một cây linh chi, một gốc ba bông. Quan trong đạo tâu lên vua. Lại có mấy chục con én trắng làm tổ trên mái nhà. Nhà vua lấy làm lạ, ban ân sủng cao hơn bậc thường.

Mãn tang, cậu được thăng dần lên những chức vụ thanh cao hiển đạt. Trong mười năm, cậu làm quan trấn nhậm mấy quận. Lý Oa được phong Hành Quốc phu nhân. Hai vợ chồng có bốn con trai, đều làm quan to, người kém nhất cũng làm doãn Thái Nguyên. Anh em, thông gia đều là nhà danh giá bậc nhất. Trong họ ngoài họ thịnh vượng, không nhà nào sánh bằng.

Than ôi, một người ca kỹ mà tiết hạnh như thế, dẫu những liệt nữ thời xưa cũng không hơn được. Sao có thể không ngậm ngùi thán phục cho được. Ông bác của tôi từng làm mục ở Tấn Châu, rồi chuyển sang bộ Hộ, làm thuỷ lục vận sứ, ba lần đều nối chức người con trai họ Huỳnh Dương ấy, cho nên biết rõ đầu đuôi câu chuyện. Trong khoảng năm Trinh Nguyên, tôi cùng Lý Công Tá người Lũng Tây bàn về phẩm hạnh tiết liệt của phụ nữ, nhân đó kể chuyện Hành Quốc phu nhân. Công Tá vỗ tay chăm chú lắng nghe, bảo tôi viết thành truyện. Tôi bèn cầm bút chấm mực, chép lại để lưu truyền. Lúc ấy là tháng tám mùa thu năm Ất Hợi, Bạch Hành Giản người Thái Nguyên ghi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảTruyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)
Xuất bản lần đầu795
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Lý Oa truyện của Bạch Hành Giản, truyền kỳ đời Đường (Wikisource chữ Hán)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →