Chương 1: Bông hồng trong đêm
Tôi hai mươi ba tuổi khi lên đường đi La Mã. Cha tôi đưa cho tôi một tá thư giới thiệu, trong đó chỉ một lá, dài không dưới bốn trang, là được dán kín. Ngoài phong bì đề: "Kính gửi bà hầu tước An-đô-bran-đi."
Cha tôi bảo:
— Con viết thư cho bố biết bà hầu tước có còn đẹp không nhé.
Mà từ thuở nhỏ, tôi đã thấy trong phòng làm việc của ông, treo trên lò sưởi, bức chân dung nhỏ của một người đàn bà rất xinh, tóc rắc phấn, đầu đội vòng lá thường xuân, một tấm da hổ khoác trên vai. Trên nền tranh đọc thấy chữ "La Mã, năm mười tám trăm...". Thấy trang phục lạ, tôi đã bao lần hỏi người đàn bà ấy là ai. Người ta trả lời tôi:
— Đó là một nữ tín đồ thần rượu.
Nhưng câu trả lời ấy chẳng làm tôi thoả mãn. Tôi còn ngờ có một bí mật, vì hễ tôi hỏi câu đơn giản ấy là mẹ tôi mím môi, còn cha tôi thì làm ra vẻ nghiêm trang.
Lần này, khi đưa tôi lá thư dán kín, ông liếc trộm bức chân dung. Tôi cũng bất giác liếc theo, và nảy ra ý nghĩ rằng người nữ tín đồ thần rượu tóc rắc phấn kia rất có thể là bà hầu tước An-đô-bran-đi. Vì bắt đầu hiểu chuyện đời, tôi rút ra đủ thứ kết luận từ vẻ mặt của mẹ và ánh mắt của cha.
Tới La Mã, lá thư đầu tiên tôi đi đưa là thư cho bà hầu tước. Bà ở trong một toà lâu đài đẹp gần quảng trường Xanh Mác.
Tôi đưa thư và danh thiếp cho một người hầu mặc chế phục vàng, anh ta dẫn tôi vào một phòng khách rộng, tối tăm và buồn tẻ, đồ đạc khá sơ sài. Nhưng ở mọi lâu đài La Mã đều có tranh của các bậc thầy. Phòng khách này có khá nhiều, mấy bức rất đáng chú ý.
Ngay từ đầu tôi đã để ý một bức chân dung đàn bà mà tôi đoán là của Lê-ô-na đờ Vanh-xi. Nhìn cái khung lộng lẫy, cái giá vẽ bằng gỗ hồng mộc đặt nó, không còn nghi ngờ gì nữa, đó là tác phẩm quý nhất trong bộ sưu tập. Vì bà hầu tước mãi chưa ra, tôi có thừa thì giờ ngắm nó. Tôi còn mang nó ra gần cửa sổ để xem dưới ánh sáng tốt hơn. Rõ ràng đó là một bức chân dung chứ không phải một khuôn mặt tưởng tượng, vì người ta không bịa ra được những khuôn mặt như thế: một người đàn bà đẹp, môi hơi dày, lông mày gần như giao nhau, ánh mắt vừa kiêu kỳ vừa mơn trớn. Ở nền, người ta thấy huy hiệu của bà, đội một vương miện công tước. Nhưng điều làm tôi chú ý nhất là trang phục, trừ lớp phấn rắc tóc, giống hệt trang phục của người nữ tín đồ thần rượu của cha tôi.
Tôi còn đang cầm bức chân dung trong tay thì bà hầu tước bước vào.
Bà vừa tiến về phía tôi vừa kêu lên:
— Y như bố cậu! Chà, người Pháp! Người Pháp! Mới tới mà đã chiếm ngay bà Lu-crê-xơ rồi.
Tôi vội xin lỗi vì sự tò mò của mình, rồi tuôn ra những lời ca tụng không ngớt về kiệt tác của Lê-ô-na mà tôi đã liều lĩnh xê dịch.
Bà hầu tước nói:
— Đúng là tranh của Lê-ô-na đấy, và đó là chân dung của Lu-crê-xơ Boóc-gia, người đàn bà khét tiếng ấy. Trong tất cả tranh của tôi, bố cậu thích bức ấy nhất... Mà lạy Chúa! Giống làm sao! Tôi tưởng như thấy bố cậu, như ông ấy hai mươi lăm năm trước. Ông ấy khoẻ không? Ông ấy làm gì? Có bao giờ ông ấy tới La Mã thăm chúng tôi không?
Dù bà hầu tước không rắc phấn lên tóc cũng chẳng khoác da hổ, ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhờ sức mạnh thiên tài của mình, tôi nhận ra bà chính là người nữ tín đồ thần rượu của cha tôi. Hai mươi lăm năm chưa xoá hết dấu vết của một nhan sắc lớn. Chỉ có vẻ mặt đã đổi khác, cũng như cách ăn mặc. Bà mặc toàn đồ đen, và ba lớp cằm, nụ cười nghiêm trang, vẻ trang trọng rạng rỡ của bà cho tôi biết bà đã trở nên sùng đạo.
Vả lại, bà tiếp tôi hết sức niềm nở. Chỉ trong ba câu, bà đã mời tôi coi nhà bà như nhà mình, ví tiền bà như ví mình, bạn bè bà như bạn mình, trong số đó bà kể tên mấy vị hồng y.
Bà nói:
— Cậu cứ coi tôi như mẹ cậu...
Bà khiêm nhường cụp mắt xuống.
— Bố cậu nhờ tôi trông nom và khuyên bảo cậu.
Và để chứng tỏ bà không coi nhiệm vụ ấy là việc nhàn, bà bắt đầu ngay lập tức dặn tôi coi chừng những hiểm nguy mà La Mã có thể bày ra cho một chàng trai tuổi tôi, khuyên tôi hết lời phải tránh xa chúng. Tôi phải tránh bạn bè xấu, nhất là bọn hoạ sĩ, chỉ được kết thân với những người bà chỉ định. Tóm lại, tôi được nghe một bài giảng ba đoạn. Tôi đáp lại cung kính, với sự giả dối thích đáng.
Khi tôi đứng dậy cáo từ, bà nói:
— Tiếc là con trai tôi, ngài hầu tước, giờ đang ở điền trang bên Rô-ma-nhơ. Nhưng tôi muốn giới thiệu với cậu con trai thứ của tôi, đôn Ốt-ta-vi-ô, sắp được làm đức ông rồi. Tôi mong cậu sẽ quý nó, và hai cậu sẽ thành bạn như lẽ ra phải thế...
Bà vội thêm:
— Vì hai cậu gần bằng tuổi nhau, mà nó cũng là một cậu hiền lành, nề nếp như cậu.
Lập tức bà cho gọi đôn Ốt-ta-vi-ô. Tôi thấy một chàng trai cao, xanh xao, vẻ u sầu, mắt lúc nào cũng nhìn xuống, đã thoang thoảng cái vẻ thầy dòng đạo đức giả.
Chẳng để cậu kịp nói, bà hầu tước đã nhân danh cậu mà mời mọc tôi những lời dễ thương nhất. Cậu xác nhận mọi câu của mẹ bằng những cái cúi chào thật thấp, và hai bên thoả thuận rằng ngay hôm sau cậu sẽ tới đón tôi đi dạo trong thành phố, rồi đưa tôi về ăn tối với gia đình ở lâu đài An-đô-bran-đi.
Tôi mới đi được chừng hai chục bước ngoài phố thì có người gọi sau lưng tôi bằng một giọng hách dịch:
— Cậu đi đâu một mình giờ này thế, đôn Ốt-ta-vi-ô?
Tôi quay lại, thấy một ông cha đạo béo phị đang nhìn tôi từ đầu tới chân, mắt trợn tròn.
Tôi bảo ông:
— Tôi không phải đôn Ốt-ta-vi-ô.
Ông cha đạo cúi chào tôi sát đất, xin lỗi rối rít, và một lát sau tôi thấy ông đi vào lâu đài An-đô-bran-đi. Tôi đi tiếp, chẳng mấy hãnh diện vì bị nhầm là một đức ông non.
Mặc những lời dặn của bà hầu tước, có lẽ chính vì những lời dặn ấy, tôi chẳng có việc gì gấp hơn là đi tìm chỗ ở của một ông hoạ sĩ quen, và ngồi một giờ với anh trong xưởng vẽ, bàn về những cách giải trí, được phép hay không, mà La Mã có thể cho tôi. Tôi gợi chuyện nhà An-đô-bran-đi.
Anh kể rằng bà hầu tước, sau một thời khá phóng túng, đã lao vào sùng đạo khi nhận ra cái tuổi chinh phục đã qua. Con trai cả của bà là một gã thô lỗ, suốt ngày đi săn và thu tiền tá điền nộp từ những điền trang rộng lớn. Người ta đang làm cho cậu thứ, đôn Ốt-ta-vi-ô, đần độn đi, định sau này cho cậu làm hồng y. Trong khi chờ đợi, cậu bị giao cho các thầy dòng Tên. Chẳng bao giờ cậu được ra ngoài một mình. Cấm nhìn đàn bà, cấm đi một bước mà không có sau gót một ông cha đạo đã nuôi dạy cậu để phụng sự Chúa. Ông này, sau khi là người tình cuối cùng của bà hầu tước, giờ cai quản nhà bà với một uy quyền gần như độc đoán.
Hôm sau, đôn Ốt-ta-vi-ô, theo sau là cha Nê-grô-ni, chính người hôm trước đã nhầm tôi với học trò mình, đi xe tới đón tôi, ngỏ ý làm người hướng dẫn.
Công trình đầu tiên chúng tôi dừng lại là một nhà thờ. Theo gương ông cha đạo, đôn Ốt-ta-vi-ô quỳ xuống, đấm ngực, làm dấu thánh giá không biết bao nhiêu lần. Đứng dậy xong, cậu chỉ cho tôi những bức bích hoạ và những pho tượng, nói về chúng như một người có lý trí và có khiếu thẩm mỹ. Điều ấy làm tôi ngạc nhiên thú vị. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện, và câu chuyện của cậu làm tôi thích. Một lúc lâu chúng tôi nói tiếng Ý. Bỗng cậu nói với tôi bằng tiếng Pháp:
— Ông thầy của tôi chẳng hiểu một chữ tiếng của anh. Ta nói tiếng Pháp đi, sẽ thoải mái hơn.
Tưởng như đổi thứ tiếng đã biến đổi chàng trai. Trong lời cậu nói chẳng còn gì mùi thầy tu. Tôi tưởng như đang nghe một người theo phái tự do ở tỉnh lẻ nước tôi. Tôi để ý thấy cậu nói mọi điều bằng cùng một giọng đều đều, và cách nói ấy thường trái ngược lạ lùng với sự sôi nổi của lời lẽ. Hẳn đó là một thói quen để đánh lừa ông Nê-grô-ni, người thỉnh thoảng lại bắt giải thích cho ông nghe chúng tôi đang nói gì. Dĩ nhiên những lời dịch của chúng tôi rất là phóng khoáng.
Chúng tôi thấy một chàng trai đi tất tím đi qua.
Đôn Ốt-ta-vi-ô bảo tôi:
— Đấy, giới quý tộc của chúng tôi ngày nay. Bộ áo ô nhục! Vài tháng nữa nó cũng sẽ là áo của tôi!
Cậu im lặng một lúc rồi nói thêm:
— Sung sướng biết bao được sống ở một đất nước như của anh! Nếu tôi là người Pháp, có lẽ một ngày kia tôi sẽ được làm nghị sĩ!
Cái tham vọng cao quý ấy làm tôi rất muốn bật cười, và vì ông cha đạo nhận ra, tôi phải giải thích với ông rằng chúng tôi đang nói về sự nhầm lẫn của một nhà khảo cổ tưởng một pho tượng của Béc-ni-ni là đồ cổ.
Chúng tôi về ăn tối ở lâu đài An-đô-bran-đi. Gần như ngay sau cà phê, bà hầu tước xin lỗi tôi cho con trai bà, vì vài bổn phận đạo đức buộc cậu phải về phòng. Tôi ở lại một mình với bà và cha Nê-grô-ni, ông ngả người trong một chiếc ghế bành lớn, ngủ giấc ngủ của người công chính.
Trong khi ấy bà hầu tước hỏi tôi kỹ lưỡng về cha tôi, về Pa-ri, về đời tôi đã qua, về những dự định tương lai. Tôi thấy bà dễ mến và tốt bụng, nhưng hơi quá tò mò và nhất là quá lo cho sự cứu rỗi linh hồn tôi. Vả lại bà nói tiếng Ý tuyệt hay, và tôi được một bài học phát âm tốt với bà, mà tôi tự hứa sẽ ôn lại.
Tôi tới thăm bà luôn. Hầu như sáng nào tôi cũng đi thăm các di tích cổ cùng con trai bà và ông Nê-grô-ni muôn thuở, còn tối thì ăn tối với họ ở lâu đài An-đô-bran-đi. Bà hầu tước ít tiếp khách, mà hầu như chỉ tiếp các vị tu sĩ.
Thế nhưng có lần bà giới thiệu tôi với một bà người Đức, mới cải đạo, là bạn thân của bà. Đó là bà Xtra-len-hai, một người đàn bà rất đẹp đã sống ở La Mã từ lâu. Trong khi hai bà nói chuyện về một nhà giảng đạo nổi tiếng, tôi ngắm bức chân dung Lu-crê-xơ dưới ánh đèn, và tôi nghĩ mình nên chen vào một câu.
Tôi kêu lên:
— Đôi mắt mới đẹp làm sao! Tưởng như mi mắt sắp động đậy!
Nghe câu cường điệu hơi kiểu cách ấy, mà tôi liều nói để tỏ ra mình là người sành tranh trước mặt bà Xtra-len-hai, bà giật mình kinh hãi và lấy khăn tay che mặt.
Bà hầu tước hỏi:
— Chị làm sao thế?
— Ôi, chẳng sao, nhưng điều ông ấy vừa nói!...
Người ta hỏi dồn, và khi bà đã lỡ nói rằng câu nói của tôi làm bà nhớ tới một câu chuyện khủng khiếp, bà đành phải kể.
Đại để như sau.
Bà Xtra-len-hai có một cô em chồng tên là Vin-hen-min, đã hứa hôn với một chàng trai xứ Vét-xpha-li, Giu-li-út phôn Cát-xen-en-bô-gân, lính tình nguyện trong sư đoàn của tướng Clai-xtơ. Tôi rất tiếc phải nhắc lại ngần ấy cái tên khó đọc, nhưng những chuyện kỳ lạ chẳng bao giờ xảy ra với ai ngoài những người có cái tên khó phát âm.
Giu-li-út là một chàng trai dễ thương, đầy lòng yêu nước và triết lý siêu hình. Khi ra trận, chàng tặng Vin-hen-min bức chân dung của mình, còn Vin-hen-min tặng chàng bức chân dung của nàng, chàng luôn mang trên ngực. Ở Đức người ta hay làm thế lắm.
Ngày mười ba tháng Chín năm 1813, Vin-hen-min ở Ca-xen, khoảng năm giờ chiều, đang ngồi đan với mẹ và chị dâu. Vừa đan, nàng vừa nhìn bức chân dung người yêu đặt trên cái bàn khâu nhỏ trước mặt. Bỗng nàng thét lên một tiếng khủng khiếp, đưa tay lên ngực rồi ngất đi. Người ta vất vả lắm mới làm nàng tỉnh lại, và vừa nói được, nàng đã kêu lên:
— Giu-li-út chết rồi! Giu-li-út bị giết rồi!
Nàng quả quyết, và nỗi kinh hoàng hiện trên mọi nét mặt nàng đủ chứng tỏ nàng tin như thế, rằng nàng đã thấy bức chân dung nhắm mắt lại, và cùng lúc ấy nàng cảm thấy một cơn đau khủng khiếp, như có một thanh sắt nung đỏ xuyên qua tim mình.
Ai cũng cố giải thích vô ích với nàng rằng ảo ảnh ấy chẳng có gì thật, nàng đừng để tâm. Cô gái tội nghiệp không sao nguôi. Nàng khóc suốt đêm, và hôm sau muốn mặc đồ tang, như đã chắc chắn về tai hoạ vừa được báo cho mình.
Hai ngày sau, người ta nhận được tin về trận đánh đẫm máu ở Lai-xích. Giu-li-út viết cho vị hôn thê một mẩu thư đề ngày mười ba, lúc ba giờ chiều. Chàng không bị thương, đã lập công, và vừa vào được Lai-xích, nơi chàng định qua đêm cùng tổng hành dinh, nghĩa là xa mọi hiểm nguy. Lá thư trấn an ấy chẳng làm Vin-hen-min yên lòng, nàng để ý thấy thư đề lúc ba giờ, và cứ khăng khăng tin người yêu đã chết lúc năm giờ.
Người con gái bất hạnh không lầm. Ít lâu sau người ta biết rằng Giu-li-út được giao mang một mệnh lệnh, đã rời Lai-xích lúc bốn giờ rưỡi, và cách thành phố chừng ba phần tư dặm, bên kia sông En-xtơ, một tên lính lạc ngũ của quân địch nấp dưới một con mương đã bắn chết chàng. Viên đạn xuyên qua tim chàng đã làm vỡ bức chân dung của Vin-hen-min.
Tôi hỏi bà Xtra-len-hai:
— Thế cô gái tội nghiệp ấy giờ ra sao?
— Ôi, cô ấy ốm nặng lắm. Giờ cô ấy đã lấy ông cố vấn toà án Véc-ne, và nếu anh tới Đét-xau, cô ấy sẽ cho anh xem bức chân dung của Giu-li-út.
Ông cha đạo, nãy giờ chỉ ngủ có một mắt trong khi bà Xtra-len-hai kể chuyện, nói:
— Tất cả những chuyện ấy đều do quỷ dữ xui khiến. Kẻ từng làm cho những lời sấm của bọn ngoại đạo cất tiếng nói thì muốn làm cho mắt một bức chân dung động đậy lúc nào cũng được. Chưa đầy hai chục năm trước, ở Ti-vô-li, một người Anh đã bị một pho tượng bóp cổ chết.
Tôi kêu lên:
— Bị một pho tượng! Làm sao lại thế?
— Đó là một ông huân tước đã cho đào bới ở Ti-vô-li. Ông ta tìm được một pho tượng hoàng hậu, Ác-ríp-pi-na hay Mét-xa-li-na gì đó, chẳng quan trọng. Thế là ông ta cho khuân về nhà, và cứ ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó mãi, ông ta hoá điên. Mấy ông theo đạo Tin Lành thì đã điên quá nửa rồi. Ông ta gọi nó là vợ mình, là phu nhân của mình, ôm hôn nó dù nó bằng đá hoa. Ông ta bảo tối nào pho tượng cũng sống dậy vì ông ta. Đến nỗi một buổi sáng người ta thấy ông huân tước chết cứng trên giường. Thế mà, các vị có tin không? Lại có một người Anh khác tới mua pho tượng ấy. Tôi mà là ông ta thì tôi đem nung thành vôi.
Một khi đã mở chương những chuyện siêu nhiên thì không dừng lại được nữa. Ai cũng có chuyện của mình để kể. Chính tôi cũng góp phần vào cái bản hoà tấu những chuyện rùng rợn ấy. Đến nỗi lúc chia tay, ai nấy đều khá xúc động và thấm thía lòng kính sợ trước quyền lực của quỷ dữ.
Tôi đi bộ về chỗ trọ, và để ra phố Coóc-xô, tôi rẽ vào một ngõ hẻm nhỏ quanh co mà tôi chưa từng đi qua. Ngõ vắng tanh. Chỉ thấy những bức tường vườn dài, hay vài ngôi nhà tồi tàn chẳng nhà nào sáng đèn. Vừa điểm nửa đêm. Trời tối đen. Tôi đang đi khá nhanh giữa ngõ thì nghe trên đầu một tiếng động khẽ, một tiếng "suỵt!", và cùng lúc ấy, một bông hồng rơi xuống chân tôi. Tôi ngước mắt lên, và dù trời tối, tôi thấy một người đàn bà mặc áo trắng ở một khung cửa sổ, cánh tay chìa về phía tôi. Người Pháp chúng tôi ở xứ người thì rất hay tự phụ, và cha ông chúng tôi, những kẻ chinh phục châu Âu, đã ru chúng tôi bằng những truyền thuyết tâng bốc lòng tự hào dân tộc. Tôi thành kính tin rằng các bà các cô Đức, Tây Ban Nha và Ý chỉ cần thấy một người Pháp là bốc cháy. Tóm lại, hồi ấy tôi còn rất là người nước tôi. Vả lại, bông hồng chẳng phải đã nói rõ quá rồi sao?
Tôi nhặt bông hồng lên, khẽ nói:
— Thưa bà, bà đánh rơi hoa...
Nhưng người đàn bà đã biến mất, và cửa sổ đã đóng lại chẳng một tiếng động. Tôi làm điều mà ai ở địa vị tôi cũng sẽ làm. Tôi tìm cánh cửa gần nhất. Nó ở cách cửa sổ hai bước. Tôi tìm thấy, và chờ người ta ra mở. Năm phút trôi qua trong im lặng sâu thẳm. Bấy giờ tôi ho khẽ, rồi cào nhẹ vào cửa. Nhưng cửa không mở. Tôi xem kỹ hơn, mong tìm được chìa khoá hay chốt gài. Tôi ngạc nhiên vô cùng thấy trên đó có một cái ổ khoá móc.
Tôi nghĩ bụng:
— Vậy là gã ghen tuông chưa về.
Tôi nhặt một hòn sỏi nhỏ ném vào cửa sổ. Nó chạm vào một cánh chớp gỗ rồi rơi xuống chân tôi.
Tôi nghĩ:
— Quỷ thật! Các bà các cô La Mã tưởng người ta có sẵn thang trong túi chắc? Chẳng ai nói với mình tục lệ ấy cả.
Tôi chờ thêm mấy phút nữa, cũng chẳng ăn thua gì. Có điều, một hai lần tôi thấy như cánh chớp khẽ rung, như thể từ bên trong có người muốn hé nó ra để nhìn ra phố. Sau mười lăm phút, hết kiên nhẫn, tôi châm một điếu xì gà, đi tiếp, không quên ghi nhớ vị trí ngôi nhà có ổ khoá móc.
Hôm sau, nghĩ lại cuộc phiêu lưu ấy, tôi đi tới những kết luận như sau. Một thiếu phụ La Mã, có lẽ rất đẹp, đã thấy tôi trong những lần dạo phố, và đã phải lòng những nét hấp dẫn khiêm tốn của tôi. Nếu nàng chỉ tỏ tình bằng món quà một bông hoa bí ẩn, ấy là vì một sự e thẹn đứng đắn đã giữ nàng lại, hoặc vì nàng bị quấy rầy bởi một bà vú già nào đó, có khi là một ông giám hộ đáng ghét như trong các vở hài kịch. Tôi quyết định bày một trận vây hãm bài bản trước ngôi nhà có nàng công chúa ấy.
Với ý định cao đẹp ấy, tôi ra khỏi nhà sau khi chải tóc một kiểu chinh phục. Tôi mặc chiếc áo khoác mới và đi găng vàng. Ăn mặc như thế, mũ đội lệch, bông hồng héo cài ở khuyết áo, tôi đi tới con ngõ mà tôi chưa biết tên, nhưng chẳng khó gì tìm ra. Một tấm biển phía trên một bức tượng Đức Mẹ cho tôi biết tên nó là Ngõ hẻm bà Lu-crê-xơ.
Cái tên ấy làm tôi ngạc nhiên. Lập tức tôi nhớ tới bức chân dung của Lê-ô-na đờ Vanh-xi, và những chuyện điềm báo, chuyện ma quỷ mà tối hôm trước người ta kể ở nhà bà hầu tước. Rồi tôi nghĩ rằng trên trời vẫn có những mối tình định mệnh. Sao người tình của tôi lại không thể tên là Lu-crê-xơ? Sao nàng lại không thể giống bà Lu-crê-xơ trong phòng tranh An-đô-bran-đi?
Trời sáng rồi, tôi đang ở cách một người đẹp chỉ hai bước, và chẳng có ý nghĩ u ám nào trong nỗi xúc động của tôi.
Tôi tới trước ngôi nhà. Nó mang số mười ba. Điềm gở... Than ôi! Nó chẳng giống chút nào cái hình dung tôi đã có khi thấy nó ban đêm. Nó chẳng phải lâu đài gì, còn xa mới phải. Tôi thấy một khoảnh tường rào đen sạm vì thời gian, phủ đầy rêu, sau đó lấp ló cành của vài cây ăn quả chẳng được bắt sâu. Ở một góc rào dựng một căn nhà một tầng, có hai cửa sổ nhìn ra phố, cả hai đều đóng bằng những cánh chớp cũ có nhiều thanh sắt chắn bên ngoài. Cánh cửa thấp, phía trên có một huy hiệu đã mòn, cũng khoá bằng một cái ổ khoá móc to buộc xích như hôm trước. Trên cửa có dòng chữ viết bằng phấn: "Nhà bán hoặc cho thuê."
Thế nhưng tôi không nhầm. Ở phía ấy của con phố, nhà cửa thưa thớt tới mức không thể nhầm được. Đúng là cái ổ khoá móc của tôi, hơn nữa, hai cánh hoa hồng trên mặt đường, gần cửa, chỉ đúng chỗ tôi đã nhận lời tỏ tình bằng dấu hiệu của người yêu, và chứng tỏ người ta chẳng mấy khi quét trước cửa nhà nàng.
Tôi hỏi vài người nghèo trong xóm xem người coi giữ ngôi nhà bí ẩn ấy ở đâu.
Người ta đáp cộc lốc:
— Không phải ở đây.
Hình như câu hỏi của tôi làm những người tôi hỏi khó chịu, và điều ấy càng khơi sự tò mò của tôi. Đi từ cửa này sang cửa khác, cuối cùng tôi vào một thứ hầm tối, nơi có một bà già trông có thể ngờ là phù thuỷ, vì bà có một con mèo đen và đang nấu thứ gì chẳng biết trong một cái nồi.
Bà hỏi:
— Ông muốn xem nhà bà Lu-crê-xơ à? Tôi giữ chìa khoá đấy.
— Thế thì cho tôi xem.
Bà mỉm cười, vẻ ngờ vực:
— Ông muốn thuê à?
— Ừ, nếu nó hợp ý tôi.
— Nó không hợp ý ông đâu. Nhưng thôi, ông có cho tôi một đồng bạc nhỏ nếu tôi dẫn ông đi xem không?
— Sẵn lòng.
Được hứa thế, bà nhanh nhẹn đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu, gỡ trên tường xuống một chiếc chìa khoá han gỉ và dẫn tôi tới trước ngôi nhà số mười ba.
Tôi hỏi bà:
— Sao người ta gọi ngôi nhà này là nhà bà Lu-crê-xơ?
Bấy giờ bà già cười khẩy:
— Sao người ta lại gọi ông là người nước ngoài? Chẳng phải vì ông là người nước ngoài à?
— Được, nhưng bà Lu-crê-xơ ấy là ai? Một bà ở La Mã à?
— Sao! Ông tới La Mã mà chưa nghe nói tới bà Lu-crê-xơ! Vào trong rồi tôi kể ông nghe chuyện bà ta. Mà kìa, lại thêm một trò ma quỷ nữa! Chẳng biết cái chìa khoá này làm sao, nó không xoay. Ông thử xem.
Quả thật cái ổ khoá và cái chìa đã lâu lắm không gặp nhau. Thế nhưng với ba câu chửi thề và chừng ấy lần nghiến răng, tôi cũng xoay được chìa. Nhưng tôi làm rách đôi găng vàng và trẹo cả lòng bàn tay. Chúng tôi bước vào một lối đi tối tăm dẫn tới mấy gian phòng thấp.
Trần nhà ốp gỗ chạm khắc tinh xảo, phủ đầy mạng nhện, dưới đó chỉ còn thấy lờ mờ vài vết mạ vàng. Ngửi mùi ẩm mốc toả ra từ mọi phòng, rõ ràng đã lâu lắm không ai ở. Chẳng thấy lấy một món đồ đạc. Vài mảnh da cũ rủ dọc những bức tường loang lổ vệt muối ẩm. Theo những đường chạm trên mấy chiếc giá đỡ và kiểu lò sưởi, tôi đoán ngôi nhà có từ thế kỷ mười lăm, và có lẽ ngày trước nó đã được trang hoàng khá trang nhã. Những cửa sổ ô kính nhỏ, phần lớn đã vỡ, nhìn ra vườn, nơi tôi thấy một khóm hồng đang nở, vài cây ăn quả và rất nhiều luống súp lơ xanh.
Đi hết các phòng tầng trệt, tôi lên tầng trên, nơi tôi đã thấy người đàn bà lạ. Bà già cố giữ tôi lại, bảo trên ấy chẳng có gì xem mà cầu thang thì hỏng lắm. Thấy tôi khăng khăng, bà đi theo, nhưng rõ ràng miễn cưỡng. Những phòng ở tầng này cũng giống những phòng kia, chỉ đỡ ẩm hơn. Sàn và cửa sổ cũng tốt hơn. Trong căn phòng cuối cùng tôi bước vào có một chiếc ghế bành rộng bọc da đen, điều lạ là nó chẳng hề phủ bụi. Tôi ngồi xuống, thấy nó thật tiện để nghe chuyện, bèn nhờ bà già kể chuyện bà Lu-crê-xơ. Nhưng trước đó, để bà nhớ cho rõ, tôi tặng bà vài đồng bạc nhỏ. Bà ho, xì mũi, rồi bắt đầu kể như sau:
— Thời ngoại đạo, ông A-lếch-xan-đơ làm hoàng đế, ông có một cô con gái đẹp như ban ngày, người ta gọi là bà Lu-crê-xơ. Đây này, bà ấy đây!...
Tôi quay phắt lại. Bà già đang chỉ cho tôi một cái giá đỡ chạm trổ đỡ thanh xà chính của căn phòng. Đó là một nàng tiên cá tạc rất thô.
Bà già kể tiếp:
— Bà ta thích vui chơi lắm. Mà vì bố bà ta có thể không bằng lòng, nên bà ta cho xây ngôi nhà ta đang ngồi đây. Đêm nào bà ta cũng từ đồi Qui-ri-nan xuống đây để mua vui. Bà ta ra đứng ở cửa sổ này, và hễ có một chàng kỵ sĩ đẹp trai như ông đây đi qua ngoài phố, là bà ta gọi. Chàng ta được tiếp đãi thế nào thì ông cứ tự đoán lấy. Nhưng đàn ông thì hay ba hoa, ít ra là vài người, và họ có thể làm hại bà ta vì cái tật nói nhiều. Cho nên bà ta lo liệu chu đáo. Khi bà ta đã chào từ biệt chàng trai, bọn tay chân của bà ta đứng sẵn ở cầu thang ta vừa leo lên. Chúng khử chàng ta, rồi chôn trong mấy luống súp lơ kia. Ấy! Người ta đã tìm thấy xương người trong khu vườn ấy đấy!
Bà nói tiếp:
— Trò ấy kéo dài được một thời gian. Nhưng rồi một tối, người anh trai của bà ta, tên là Xít-xtô Tác-qui-nô, đi qua dưới cửa sổ. Bà ta không nhận ra. Bà ta gọi. Anh ta lên. Đêm tối thì mèo nào cũng xám. Anh ta cũng chịu chung số phận với những kẻ khác. Nhưng anh ta bỏ quên chiếc khăn tay, trên đó có thêu tên mình.
— Bà ta vừa thấy cái việc độc ác chúng đã làm thì tuyệt vọng. Bà ta vội tháo nịt bít tất ra mà treo cổ lên thanh xà kia. Đấy, thế là một bài học cho bọn trẻ!
Trong khi bà già lẫn lộn hết các thời đại như thế, trộn nhà Tác-qui-nô với nhà Boóc-gia, tôi dán mắt xuống sàn. Tôi vừa phát hiện ở đó vài cánh hoa hồng còn tươi, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều.
Tôi hỏi bà già:
— Ai trồng cây trong vườn này thế?
— Con trai tôi đấy, thưa ông, nó làm vườn cho ông Va-nốt-xi, người có khu vườn bên cạnh. Ông Va-nốt-xi lúc nào cũng ở vùng Ma-rem-ma, ít khi về La Mã. Vì thế vườn không được chăm sóc mấy. Con tôi đi với ông ấy. Mà tôi sợ chúng nó chưa về sớm đâu.
Bà thở dài nói thêm thế.
— Vậy là nó bận việc với ông Va-nốt-xi lắm à?
— Chao ôi! Ông ấy là một người kỳ quặc, bắt nó làm đủ thứ việc... Tôi sợ có chuyện chẳng hay... Ôi, khổ thân con tôi!
Bà bước một bước về phía cửa như để cắt ngang câu chuyện. Tôi giữ bà lại, hỏi tiếp:
— Vậy là chẳng ai ở đây cả à?
— Chẳng có ai trên đời này.
— Vì sao thế?
Bà nhún vai.
Tôi đưa bà một đồng tiền bạc lớn mà bảo:
— Bà nghe này, nói thật cho tôi biết đi. Có một người đàn bà hay tới đây.
— Một người đàn bà, lạy Chúa Giê-su!
— Phải, tối qua tôi thấy cô ta. Tôi đã nói chuyện với cô ta.
Bà già lao về phía cầu thang mà kêu lên:
— Lạy Đức Mẹ! Vậy là bà Lu-crê-xơ rồi! Ra thôi, ra thôi, ông ơi! Người ta đã bảo tôi là bà ta hay về ban đêm, nhưng tôi không muốn nói với ông, để khỏi thiệt cho chủ nhà, vì tôi tưởng ông muốn thuê.
Tôi không sao giữ bà lại được. Bà vội vã rời khỏi ngôi nhà, bảo phải đi ngay tới nhà thờ gần nhất dâng một cây nến.
Tôi cũng đi ra, để bà đi, tuyệt vọng không biết thêm được gì.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn