Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ngoài đồng quê

của Guy de Maupassant

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 10.741 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Hai túp nhà tranh nằm sát cạnh nhau, dưới…
  2. 2:45Chị tên là bà Hăng-ri Đuy-bi-e.
  3. 4:27Người chồng không nói gì, vẻ nghiêm trang, suy…
  4. 5:36Ông Đuy-bi-e lại đưa ra những đề nghị của…
  5. 6:32Bà Đuy-bi-e, sốt ruột giậm chân, chấp nhận ngay.…
  6. 8:41Và chàng bước vào túp lều nhà Va-lanh như…
  7. 9:37"Bố mẹ phải ngu lắm mới để cho nhà…
  8. 10:27Anh đứng dậy.

Hai túp nhà tranh nằm sát cạnh nhau, dưới chân một ngọn đồi, gần một thị trấn nhỏ có suối nước khoáng. Hai bác nông dân làm lụng vất vả trên mảnh đất cằn cỗi để nuôi cả bầy con nhỏ. Mỗi nhà có bốn đứa. Trước hai cánh cửa liền nhau, lũ trẻ lúc nhúc từ sáng tới tối. Hai đứa lớn nhất lên sáu tuổi, còn hai đứa út chừng mười lăm tháng. Chuyện cưới xin, rồi chuyện sinh nở, ở hai nhà gần như diễn ra cùng một lúc.

Hai bà mẹ khó khăn lắm mới phân biệt được con mình trong cả đám. Còn hai ông bố thì lẫn lộn hết. Tám cái tên nhảy múa trong đầu họ, cứ trộn vào nhau mãi. Mỗi khi cần gọi một đứa, cánh đàn ông thường phải gọi tới ba tên mới trúng đứa cần gọi.

Ngôi nhà thứ nhất, tính từ trạm nước khoáng Rôn-lơ-po đi tới, là nhà Tuy-va-sơ, có ba gái một trai. Túp lều thứ hai là nhà Va-lanh, có một gái ba trai.

Cả đám người ấy sống chật vật bằng xúp, khoai tây và khí trời. Bảy giờ sáng, rồi mười hai giờ trưa, rồi sáu giờ chiều, các bà nội trợ lại lùa đàn con lại để cho ăn, như người chăn ngỗng lùa đàn ngỗng của mình. Lũ trẻ ngồi theo thứ tự tuổi trước chiếc bàn gỗ đã bóng lên sau năm mươi năm dùng. Đứa nhỏ nhất ngồi vào miệng mới chạm tới mặt bàn. Người ta đặt trước mặt chúng chiếc đĩa sâu lòng đầy bánh mì ngâm trong nước luộc khoai tây, nửa cái bắp cải và ba củ hành. Và cả dãy ăn cho tới khi hết đói. Đứa nhỏ nhất thì mẹ tự tay bón. Chủ nhật có chút thịt trong nồi thịt hầm là cả nhà như ngày hội. Hôm ấy, ông bố ngồi nán lại bên bữa ăn, nhắc đi nhắc lại:

"Ngày nào cũng được thế này thì tôi chịu ngay."

Một buổi chiều tháng Tám, một cỗ xe nhẹ bỗng dừng lại trước hai túp nhà tranh. Một người đàn bà trẻ, tự tay cầm cương, nói với người đàn ông ngồi cạnh:

"Ôi! Anh Hăng-ri xem kìa, cả một bầy trẻ con! Trông chúng xinh chưa kìa, lăn lóc trong bụi đất thế kia!"

Người đàn ông không đáp. Anh đã quen với những lời trầm trồ ấy, những lời làm anh đau đớn và gần như là một lời trách móc đối với anh.

Người đàn bà trẻ nói tiếp:

"Em phải hôn chúng mới được! Ôi! Em ước gì có được một đứa, đứa kia kìa, đứa bé tí ấy."

Rồi nhảy xuống xe, chị chạy tới chỗ lũ trẻ, bế một trong hai đứa út, đứa nhà Tuy-va-sơ, nhấc bổng lên tay, hôn say sưa lên đôi má bẩn thỉu của nó, lên mái tóc vàng xoăn bết đất của nó, lên đôi bàn tay bé xíu nó đang khua lên để gạt những cái vuốt ve phiền phức.

Rồi chị lên xe, cho ngựa phóng nước kiệu. Nhưng tuần sau chị lại tới, tự ngồi bệt xuống đất, bế thằng nhóc lên, nhồi cho nó đầy bánh ngọt, cho tất cả những đứa khác kẹo, và chơi đùa với chúng như một đứa trẻ, trong khi chồng chị kiên nhẫn ngồi chờ trên cỗ xe mảnh mai.

Chị còn tới nữa, làm quen với bố mẹ chúng, rồi ngày nào cũng tới, túi đầy quà bánh và tiền xu.

Chị tên là bà Hăng-ri Đuy-bi-e.

Một buổi sáng, khi tới nơi, chồng chị cùng xuống xe với chị. Và chẳng dừng lại với lũ trẻ, giờ đã quen chị lắm, chị bước thẳng vào nhà của hai vợ chồng nông dân.

Họ đang ở đó, đang bổ củi để nấu xúp. Họ đứng thẳng dậy, ngạc nhiên vô cùng, đưa ghế mời ngồi rồi chờ đợi. Thế là người đàn bà trẻ bắt đầu nói, giọng đứt quãng, run run:

"Thưa hai bác, tôi tới gặp hai bác vì tôi muốn... tôi rất muốn được đưa... được đưa cháu bé nhà mình về với tôi..."

Hai vợ chồng nhà quê sững sờ, đầu óc trống rỗng, không đáp.

Chị lấy lại hơi, nói tiếp:

"Chúng tôi không có con. Chỉ có hai vợ chồng tôi thôi... Chúng tôi sẽ nuôi cháu... hai bác bằng lòng chứ?"

Bà nông dân bắt đầu hiểu ra. Bà hỏi:

"Bà muốn bắt thằng Sác-lô nhà tôi à? Ồ không, nhất định không."

Lúc ấy ông Đuy-bi-e mới xen vào:

"Nhà tôi nói chưa rõ. Chúng tôi muốn nhận cháu làm con nuôi, nhưng cháu vẫn sẽ về thăm hai bác. Nếu cháu nên người, mà mọi thứ đều cho thấy là cháu sẽ nên người, thì cháu sẽ là người thừa kế của chúng tôi. Nếu tình cờ chúng tôi có con, cháu sẽ được chia phần ngang với chúng. Còn nếu cháu không xứng với công chúng tôi nuôi dạy, thì khi cháu tới tuổi trưởng thành, chúng tôi sẽ cho cháu một khoản hai mươi nghìn quan, khoản này sẽ được gửi ngay đứng tên cháu ở chỗ ông công chứng. Và vì chúng tôi cũng có nghĩ tới hai bác, nên hai bác sẽ được nhận, cho tới khi qua đời, một khoản tiền trợ cấp một trăm quan mỗi tháng. Hai bác hiểu rõ cả chưa?"

Bà chủ trại đã đứng phắt dậy, giận sôi lên:

"Ông muốn chúng tôi bán thằng Sác-lô cho ông à? Ồ không đâu, không đời nào. Những chuyện ấy không ai đi hỏi một người mẹ cả! Không đời nào! Thế thì kinh tởm lắm."

Người chồng không nói gì, vẻ nghiêm trang, suy nghĩ, nhưng cứ gật gù liên tục tỏ ý đồng tình với vợ.

Bà Đuy-bi-e, cuống cuồng, bật khóc, rồi quay sang chồng, bằng một giọng đầy nức nở, giọng của một đứa trẻ quen được chiều mọi ước muốn, bà lắp bắp:

"Họ không chịu, anh Hăng-ri ơi, họ không chịu!"

Thế là họ thử một lần chót:

"Nhưng hai bác ơi, hai bác nghĩ tới tương lai của cháu, tới hạnh phúc của cháu, tới..."

Bà nông dân, giận tới cùng cực, cắt ngang:

"Thấy rồi, nghe rồi, nghĩ kỹ rồi... Ông bà đi đi, và đừng để tôi thấy mặt ở đây nữa. Ai đời lại muốn bắt con người ta như thế bao giờ!"

Lúc đi ra, bà Đuy-bi-e chợt để ý thấy có hai đứa bé tí, và qua nước mắt, với cái lì lợm của một người đàn bà quen được nuông chiều, muốn gì được nấy, không bao giờ chịu chờ đợi, bà hỏi:

"Thế đứa nhỏ kia không phải con hai bác à?"

Bác Tuy-va-sơ đáp:

"Không, con nhà hàng xóm đấy. Bà muốn thì sang mà hỏi."

Rồi bác quay vào nhà, nơi giọng bà vợ vẫn đang oang oang phẫn nộ.

Nhà Va-lanh đang ngồi bên bàn, chậm rãi ăn những lát bánh mì, mà họ quệt dè sẻn một chút bơ lấy bằng mũi dao trong chiếc đĩa đặt giữa hai người.

Ông Đuy-bi-e lại đưa ra những đề nghị của mình, nhưng lần này bóng gió hơn, rào đón hơn, khéo léo hơn.

Hai vợ chồng nhà quê lắc đầu tỏ ý từ chối. Nhưng khi nghe nói sẽ được một trăm quan mỗi tháng, họ nhìn nhau, đưa mắt hỏi ý nhau, lung lay hẳn.

Họ im lặng hồi lâu, dằn vặt, ngần ngừ. Cuối cùng người vợ hỏi:

"Thế ông nghĩ sao?"

Người chồng nói, giọng trịnh trọng:

"Tôi nghĩ là cũng không phải chuyện đáng khinh."

Thế là bà Đuy-bi-e, run lên vì lo âu, nói với họ về tương lai của đứa bé, về hạnh phúc của nó, và về tất cả số tiền mà sau này nó có thể đem lại cho họ.

Bác nông dân hỏi:

"Cái khoản trợ cấp một nghìn hai trăm quan một năm ấy, có hứa trước mặt ông công chứng không?"

Ông Đuy-bi-e đáp:

"Tất nhiên rồi, ngay từ ngày mai."

Bà chủ trại, đang ngẫm nghĩ, nói tiếp:

"Một trăm quan một tháng thì không đủ để chúng tôi mất thằng bé. Vài năm nữa nó đã làm ra tiền rồi. Phải một trăm hai mươi quan."

Bà Đuy-bi-e, sốt ruột giậm chân, chấp nhận ngay. Và vì bà muốn mang đứa bé đi ngay, bà biếu họ một trăm quan làm quà trong lúc chồng bà viết giấy tờ. Ông thị trưởng và một người hàng xóm, được gọi tới ngay, làm những người làm chứng dễ dãi.

Và người đàn bà trẻ, rạng rỡ, ôm đứa bé đang gào khóc đi, như người ta ôm một món đồ trang trí mình thèm muốn ra khỏi cửa hàng.

Nhà Tuy-va-sơ đứng ở cửa nhìn theo, câm lặng, nghiêm khắc, có lẽ đang tiếc vì đã từ chối.

Rồi người ta chẳng còn nghe nói gì về bé Giăng Va-lanh nữa. Tháng nào hai vợ chồng cũng tới chỗ ông công chứng lĩnh một trăm hai mươi quan. Và họ giận nhau với hàng xóm, vì mụ Tuy-va-sơ chửi bới họ thậm tệ, đi hết cửa này tới cửa khác mà rêu rao rằng phải là đồ mất hết tính người mới đi bán con, rằng thế là ghê tởm, là bẩn thỉu, là đồi bại.

Và đôi lúc mụ bế thằng Sác-lô của mình lên tay, cố tình khoe khoang, gào lên với nó như thể nó hiểu được:

"Tao không bán mày đâu, tao không bán mày đâu, con ạ. Tao không bán con tao. Tao không giàu, nhưng tao không bán con tao."

Và trong bao nhiêu năm, rồi lại bao nhiêu năm nữa, ngày nào cũng thế. Ngày nào cũng có những lời bóng gió thô tục được gào lên trước cửa, sao cho lọt được vào tận nhà bên cạnh. Mụ Tuy-va-sơ rốt cuộc tin rằng mình cao quý hơn cả vùng, vì mụ đã không bán thằng Sác-lô. Và những người nói về mụ đều bảo:

"Tôi biết là món ấy hấp dẫn đấy, nhưng dù sao thì mụ ấy cũng đã cư xử như một người mẹ tốt."

Người ta lấy mụ ra làm gương. Còn Sác-lô, đã sắp mười tám tuổi, lớn lên với cái ý nghĩ mà người ta nhắc đi nhắc lại với nó không ngớt, tự cho mình hơn hẳn chúng bạn, vì người ta đã không bán nó.

Nhà Va-lanh sống tàm tạm, đủ đầy, nhờ khoản trợ cấp. Cơn giận không sao nguôi của nhà Tuy-va-sơ, vẫn khốn khổ như xưa, là từ đó mà ra.

Con trai cả của họ đi lính. Đứa thứ hai chết. Sác-lô còn lại một mình cùng ông bố già vất vả nuôi bà mẹ và hai cô em gái.

Anh vừa hai mươi mốt tuổi thì một buổi sáng, một cỗ xe lộng lẫy dừng lại trước hai túp nhà tranh. Một chàng trai trẻ, đeo dây đồng hồ bằng vàng, bước xuống, đưa tay đỡ một bà cụ tóc bạc. Bà cụ bảo chàng:

"Đây rồi, con ạ, ở ngôi nhà thứ hai ấy."

Và chàng bước vào túp lều nhà Va-lanh như vào nhà mình.

Bà mẹ già đang giặt tạp dề. Ông bố tàn tật đang ngủ gà ngủ gật bên bếp lửa. Cả hai ngẩng đầu lên, và chàng trai nói:

"Con chào bố, con chào mẹ."

Hai ông bà đứng bật dậy, hoảng hốt. Bà nông dân xúc động tới mức đánh rơi bánh xà phòng vào chậu nước, ấp úng:

"Con đấy à, con ơi? Con đấy à, con ơi?"

Chàng ôm lấy bà mà hôn, nhắc đi nhắc lại:

"Con chào mẹ."

Trong khi ông bố, run lẩy bẩy, nói bằng cái giọng điềm tĩnh không bao giờ mất của mình:

"Thế là mày về đấy à, Giăng?"

Cứ như thể ông mới gặp con một tháng trước.

Và khi đã nhận ra nhau rồi, hai ông bà muốn đưa ngay cậu con trai đi khắp vùng để khoe. Người ta dẫn chàng tới nhà ông thị trưởng, nhà ông phó thị trưởng, nhà cha xứ, nhà thầy giáo.

Sác-lô đứng ở ngưỡng cửa túp nhà tranh của mình, nhìn theo chàng đi qua.

Tối hôm ấy, trong bữa ăn, anh nói với hai ông bà già:

"Bố mẹ phải ngu lắm mới để cho nhà Va-lanh được thằng bé ấy."

Mẹ anh đáp, bướng bỉnh:

"Tao không muốn bán con tao."

Ông bố không nói gì. Cậu con nói tiếp:

"Bị hy sinh như thế, có phải là khổ không cơ chứ."

Thế là bác Tuy-va-sơ gằn giọng, giận dữ:

"Mày lại còn trách chúng tao đã giữ mày lại à?"

Và chàng trai đáp phũ phàng:

"Phải, tôi trách đấy, vì bố mẹ chỉ là những kẻ ngu. Bố mẹ như thế là làm khổ con cái. Bố mẹ đáng bị tôi bỏ đi lắm."

Bà mẹ khóc vào trong đĩa. Bà rên rỉ, trong lúc nuốt những thìa xúp mà đổ ra mất một nửa:

"Thế đấy, cứ đi mà khổ sở nuôi con cho lắm vào!"

Thế là chàng trai nói, giọng thô bạo:

"Thà tôi đừng sinh ra còn hơn là thành cái thứ như tôi bây giờ. Lúc nãy nhìn thấy thằng kia, máu tôi sôi lên. Tôi tự nhủ: đấy, đáng lẽ bây giờ mình đã được như thế."

Anh đứng dậy.

"Thôi, tôi thấy rõ là tôi không nên ở lại đây thì hơn, vì tôi sẽ trách bố mẹ từ sáng tới tối, và sẽ làm cho bố mẹ khổ cả đời. Cái đó, bố mẹ biết không, tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho bố mẹ!"

Hai ông bà già im lặng, bàng hoàng, nước mắt lưng tròng.

Anh nói tiếp:

"Không, nghĩ tới chuyện ấy thì khổ quá. Thà tôi bỏ đi kiếm sống ở chỗ khác còn hơn."

Anh mở cửa. Một tràng tiếng nói vọng vào. Nhà Va-lanh đang ăn mừng đứa con trở về.

Thế là Sác-lô giậm chân, rồi quay về phía bố mẹ, quát lên:

"Đồ nhà quê!"

Rồi anh biến mất vào bóng đêm.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Aux champs, 1882, tập Contes de la bécasse, Havard 1894
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →