Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người bán hạt dẻ Kabul

của Rabindranath Tagore

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 14.942 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Con gái tôi, bé Mi-ni năm tuổi, không thể…
  2. 1:41Tôi không biết con gái tôi cảm thấy gì…
  3. 3:36"Con lấy đâu ra đồng tám xu này?"
  4. 4:41Phần lớn các cô bé người Bengal từ rất…
  5. 7:10Tôi bảo rằng chuyện ấy không phải là không…
  6. 9:21"Chà," ông nói, "lẽ ra ông đã nện cho…
  7. 11:39"Thưa ông, tôi có được gặp cô bé một…
  8. 13:46"Cô bé ơi, cô sắp về nhà bố chồng…

Con gái tôi, bé Mi-ni năm tuổi, không thể sống mà không líu lo. Tôi tin rằng suốt đời con bé chưa phí một phút nào cho im lặng. Mẹ nó thường bực mình, muốn bắt nó thôi ríu rít, nhưng tôi thì không. Thấy Mi-ni im lặng là điều trái tự nhiên, tôi chịu không nổi lâu. Vì thế chuyện trò giữa hai bố con lúc nào cũng rôm rả.

Chẳng hạn một buổi sáng, tôi đang viết dở chương mười bảy cuốn tiểu thuyết mới, thì bé Mi-ni lẻn vào phòng, đặt bàn tay nhỏ vào tay tôi mà nói:

"Bố ơi! Bác gác cổng Ram-đay-an gọi con quạ là con quạc! Bác ấy chẳng biết gì cả, bố nhỉ?"

Tôi chưa kịp giảng cho con về chuyện mỗi nơi trên đời nói một kiểu, thì nó đã lao sang chuyện khác.

"Bố nghĩ sao hả bố? Anh Bô-la bảo trên mây có một con voi, nó lấy vòi phun nước ra, thế nên trời mới mưa đấy!"

Tôi còn đang ngồi yên nghĩ cách trả lời câu ấy, thì nó lại vọt sang chuyện mới:

"Bố ơi! Mẹ là gì của bố?"

Tôi buột miệng lẩm bẩm một câu đùa một mình, rồi làm mặt nghiêm mà đáp:

"Con đi chơi với anh Bô-la đi, Mi-ni! Bố đang bận!"

Cửa sổ phòng tôi nhìn ra mặt đường. Con bé ngồi dưới chân tôi, cạnh bàn viết, khẽ khàng chơi một mình, gõ gõ lên đầu gối như đánh trống. Tôi đang cắm cúi với chương mười bảy, đúng đoạn chàng Pờ-rô-táp Xinh vừa ôm nàng Can-chan-la-ta vào lòng, sắp cùng nàng trốn qua cửa sổ tầng ba của toà lâu đài, thì bỗng Mi-ni bỏ chơi, chạy ra cửa sổ, reo lên:

"Ông Kabul! Ông Kabul!"

Quả nhiên, dưới đường có một người Kabul đang thong thả đi qua. Ông mặc bộ quần áo rộng thùng thình, lấm lem, theo kiểu người xứ ông, đầu quấn một chiếc khăn cao. Trên lưng ông đeo một cái bị, tay xách mấy hộp nho.

Tôi không biết con gái tôi cảm thấy gì khi nhìn thấy ông ta, nhưng nó bắt đầu gọi ầm lên. Tôi nghĩ thầm: "Thôi chết, ông ta sẽ vào nhà, và cái chương mười bảy của mình sẽ chẳng bao giờ viết xong!"

Đúng lúc ấy người Kabul quay lại, ngước nhìn con bé. Thấy vậy, Mi-ni sợ hết hồn, chạy tọt vào với mẹ, biến mất. Con bé tin chắc như đinh đóng cột rằng trong cái bị ông lớn kia đeo trên lưng, có khi đang có hai ba đứa trẻ con như nó. Trong lúc đó, người bán hàng rong đã bước vào cửa nhà tôi, tươi cười chào hỏi.

Chàng và nàng trong truyện của tôi đang lâm vào cảnh nguy ngập, nhưng vì người ta đã bị gọi vào, nên ý nghĩ đầu tiên của tôi là ngừng tay mua lấy thứ gì đó. Tôi mua lặt vặt mấy thứ, rồi hai bên bắt đầu chuyện trò về vua Áp-đu-ra-man, về người Nga, người Anh, về chuyện biên giới.

Lúc sắp đi, ông ta hỏi:

"Thế còn cô bé đâu, thưa ông?"

Tôi nghĩ Mi-ni nên bỏ cái nỗi sợ vô cớ ấy đi, bèn cho gọi con ra.

Con bé đứng cạnh ghế tôi, nhìn người Kabul và cái bị của ông. Ông đưa cho nó hạt dẻ và nho khô, nhưng nó không chịu, chỉ càng níu chặt lấy tôi, lòng càng thêm ngờ vực.

Đó là lần gặp gỡ đầu tiên của hai người.

Thế nhưng ít hôm sau, một buổi sáng, đang định ra khỏi nhà, tôi giật mình thấy Mi-ni ngồi trên chiếc ghế dài gần cửa, cười nói luôn miệng, còn ông Kabul to lớn thì ngồi dưới chân nó. Hình như suốt đời mình, ngoài bố nó ra, con gái nhỏ của tôi chưa từng gặp ai chịu ngồi nghe nó kiên nhẫn đến thế. Và vạt áo xa-ri nhỏ của nó đã nhét đầy hạnh nhân và nho khô, quà của vị khách.

"Sao ông lại cho cháu những thứ ấy?" tôi nói, rồi rút ra một đồng tám xu, đưa cho ông ta.

Ông ta nhận tiền, không chối từ gì, bỏ ngay vào túi.

Than ôi, một giờ sau trở về, tôi mới biết đồng tiền xấu số ấy đã gây ra một mớ rắc rối lớn gấp đôi giá trị của nó! Vì ông Kabul đã đem nó cho Mi-ni. Mẹ con bé bắt gặp cái vật tròn sáng loáng ấy, liền chụp lấy con mà hỏi:

"Con lấy đâu ra đồng tám xu này?"

"Ông Kabul cho con đấy," Mi-ni vui vẻ đáp.

"Ông Kabul cho con à!" mẹ nó kêu lên, hoảng hốt. "Trời ơi, Mi-ni! Sao con lại dám lấy tiền của ông ấy?"

Tôi bước vào đúng lúc ấy, cứu con bé khỏi trận đòn sắp giáng xuống, rồi tự mình đi dò hỏi.

Hoá ra đây chẳng phải lần thứ nhất thứ nhì hai người gặp nhau. Ông Kabul đã khéo dùng hạt dẻ và hạnh nhân mua chuộc, xua tan nỗi sợ ban đầu của con bé, và giờ thì hai người đã thành đôi bạn thân.

Hai người có những câu đùa ngộ nghĩnh riêng, nói hoài mà vẫn khoái. Mi-ni ngồi trước mặt ông, nhìn xuống thân hình khổng lồ của ông với tất cả vẻ trịnh trọng bé xíu của mình, mặt rạng lên tiếng cười, mà hỏi:

"Ông Kabul ơi, ông Kabul ơi, trong bị ông có gì thế?"

Và ông đáp bằng cái giọng mũi của người miền núi:

"Một con voi!"

Có lẽ chẳng có gì đáng cười lắm. Nhưng hai người khoái câu đùa ấy biết bao! Còn tôi, cái cảnh con bé chuyện trò với một người đàn ông lớn tuổi lúc nào cũng có một sức hút lạ lùng.

Rồi đến lượt ông Kabul, không chịu kém, hỏi lại:

"Thế cô bé ơi, bao giờ thì cô về nhà bố chồng?"

Phần lớn các cô bé người Bengal từ rất sớm đã nghe nói tới nhà bố chồng. Nhưng chúng tôi vốn hơi theo lối mới, nên chẳng bao giờ nói với con những chuyện ấy. Hẳn là Mi-ni nghe câu hỏi thì hơi ngơ ngác. Nhưng nó không để lộ ra, lanh lợi đáp ngay:

"Thế ông có về đấy không?"

Có điều, trong giới những người như ông Kabul, ai cũng biết chữ "nhà bố chồng" còn một nghĩa nữa. Đó là cách nói tránh chữ nhà tù, cái chỗ người ta được nuôi nấng chu đáo mà mình chẳng tốn đồng nào. Ông lái buôn vạm vỡ hiểu câu hỏi của con gái tôi theo nghĩa ấy.

"À," ông vừa nói vừa vung nắm đấm vào một viên cảnh sát vô hình, "tôi sẽ nện cho ông bố chồng một trận!"

Nghe vậy, hình dung ra ông bố chồng tội nghiệp bị đánh tơi bời, Mi-ni cười rũ rượi, và người bạn dữ tướng của nó cũng phá lên cười theo.

Đó là những buổi sáng mùa thu, đúng vào mùa mà các vị vua xưa cất quân đi chinh phạt. Còn tôi, chẳng bao giờ nhúc nhích khỏi góc nhỏ của mình ở Calcutta, cứ để tâm trí lang thang khắp thế giới. Nghe tên một xứ lạ là lòng tôi đã hướng cả về đó. Thấy một người ngoại quốc trên đường là tôi lại thêu dệt cả một tấm lưới mộng mơ: núi non, thung lũng, rừng rậm nơi quê nhà xa xôi của người ấy, căn nhà nhỏ giữa cảnh trí ấy, cuộc sống tự do tự tại giữa chốn hoang vu xa thẳm.

Có lẽ chính vì tôi sống ì ra như một cái cây, đến nỗi một lời rủ đi xa cũng giáng xuống tôi như sét đánh, nên những cảnh đường xa mới hiện lên trong trí tưởng tượng của tôi sống động đến thế. Ngồi trước ông Kabul, tôi lập tức được đưa tới chân những đỉnh núi khô cằn, nơi những hẻm núi nhỏ hẹp quanh co len lỏi giữa các đỉnh cao chót vót. Tôi thấy đoàn lạc đà chở hàng, thấy đoàn lái buôn quấn khăn, người mang những khẩu súng cổ kỳ quặc, người cầm giáo, đang lần xuống đồng bằng. Tôi thấy... nhưng đến chừng ấy thì mẹ Mi-ni thường xen vào, năn nỉ tôi "coi chừng gã đàn ông đó".

Khổ nỗi, mẹ Mi-ni là người rất nhát. Hễ nghe tiếng động ngoài đường, hay thấy ai đi về phía nhà mình, là bà ấy kết luận ngay đó là kẻ trộm, hoặc thằng say rượu, hoặc rắn, hoặc hổ, hoặc bệnh sốt rét, hoặc gián, hoặc sâu róm, hoặc một gã thuỷ thủ người Anh. Bao nhiêu năm trải nghiệm rồi mà bà ấy vẫn không bỏ được nỗi sợ. Vì thế bà ấy rất ngờ vực ông Kabul, cứ nài tôi phải để mắt canh chừng ông ta.

Tôi cố nhẹ nhàng cười cho bà ấy hết sợ. Nhưng bà ấy liền nghiêm mặt quay sang tôi, hỏi những câu hệ trọng.

Chẳng lẽ trẻ con không bao giờ bị bắt cóc sao?

Vậy ở Kabul không có chế độ nô lệ à?

Một người đàn ông to lớn như thế mà mang được một đứa bé tí xíu đi, có gì là vô lý lắm đâu?

Tôi bảo rằng chuyện ấy không phải là không thể, nhưng rất khó xảy ra. Thế vẫn chưa đủ, nỗi lo của bà ấy vẫn còn đó. Nhưng vì nó mơ hồ quá, nên cấm người ta đến nhà thì có vẻ không phải, và tình bạn kia cứ thế tiếp tục, chẳng ai ngăn cản.

Mỗi năm một lần, vào giữa tháng Giêng, ông Kabul tên là Ra-mun ấy lại về xứ mình. Gần đến ngày đi, ông rất bận, đi hết nhà này sang nhà khác đòi nợ. Thế mà năm ấy, ông vẫn luôn tìm được thì giờ đến thăm Mi-ni. Người ngoài nhìn vào hẳn sẽ tưởng hai người có âm mưu gì với nhau, vì hôm nào buổi sáng ông không đến được thì buổi chiều ông lại xuất hiện.

Ngay cả tôi, đôi khi cũng hơi giật mình khi bỗng bắt gặp trong góc một căn phòng tối cái ông to cao, quần áo lùng thùng, mang lỉnh kỉnh túi bị ấy. Nhưng rồi Mi-ni chạy ùa vào, cười tươi, gọi "Ông Kabul ơi! Ông Kabul ơi!", và đôi bạn cách nhau bao nhiêu tuổi tác lại chìm vào tiếng cười cũ, những câu đùa cũ, thì tôi lại yên lòng.

Một buổi sáng, vài hôm trước ngày ông định lên đường, tôi đang ngồi trong phòng sách sửa bản in thử. Trời se lạnh. Nắng chiếu qua cửa sổ chạm vào chân tôi, chút hơi ấm ấy thật dễ chịu. Đã gần tám giờ, những người đi dạo sớm đang trùm đầu trở về nhà.

Bỗng tôi nghe thấy ồn ào ngoài đường. Nhìn ra, tôi thấy Ra-mun bị trói, bị hai viên cảnh sát dẫn đi, phía sau là một đám trẻ con tò mò. Trên quần áo ông Kabul có vết máu, một viên cảnh sát cầm một con dao. Tôi vội chạy ra, chặn họ lại, hỏi chuyện gì thế. Người này nói một ít, người kia nói một ít, tôi mới hiểu ra rằng một người hàng xóm nợ ông lái buôn tiền một chiếc khăn choàng Ram-pu, nhưng lại chối phăng là chưa hề mua. Trong lúc cãi nhau, Ra-mun đã đâm ông ta.

Đang cơn nóng giận, người tù bắt đầu chửi rủa kẻ thù đủ thứ tên, thì bỗng trên hiên nhà tôi xuất hiện bé Mi-ni, với câu reo quen thuộc:

"Ông Kabul ơi! Ông Kabul ơi!"

Mặt Ra-mun rạng lên khi quay về phía con bé. Hôm nay ông không cắp cái bị nào, nên con bé không bàn chuyện con voi với ông được. Vì vậy nó chuyển ngay sang câu hỏi thứ hai:

"Ông có về nhà bố chồng không?"

Ra-mun cười mà rằng:

"Đúng là ông đang về đấy đây, cô bé ạ!"

Rồi thấy câu trả lời không làm con bé vui, ông giơ đôi tay bị xích lên.

"Chà," ông nói, "lẽ ra ông đã nện cho lão bố chồng ấy một trận, nhưng tay ông bị trói mất rồi!"

Bị buộc tội cố ý giết người, Ra-mun bị kết án mấy năm tù.

Thời gian trôi qua, không ai còn nhớ đến ông. Công việc quen thuộc ở chỗ quen thuộc cứ thế cuốn chúng tôi đi. Ý nghĩ về người miền núi từng sống tự do nay đang mòn mỏi những năm tháng trong tù hiếm khi, hay chẳng bao giờ, đến với chúng tôi. Ngay cả bé Mi-ni vô tư của tôi, nói ra thật xấu hổ, cũng quên người bạn cũ. Những người bạn mới lấp đầy cuộc sống của nó. Lớn lên, nó dành nhiều thì giờ hơn với các bạn gái. Nhiều đến mức nó chẳng còn chạy vào phòng bố như ngày trước nữa. Bố con tôi hầu như chẳng mấy khi trò chuyện.

Nhiều năm đã qua. Lại một mùa thu nữa, và chúng tôi đã sắp đặt xong việc gả chồng cho Mi-ni. Đám cưới sẽ cử hành vào dịp lễ hội mùa thu. Nữ thần Đuốc-ga trở về núi Kai-lát thì ánh sáng của nhà chúng tôi cũng sắp ra đi về nhà chồng, để lại nhà bố trong bóng tối.

Buổi sáng hôm ấy rực rỡ. Sau mùa mưa, không khí như vừa được tắm gội, ánh nắng trông như vàng ròng. Nắng sáng đến mức làm cho cả những bức tường gạch nhếch nhác trong các ngõ hẻm Calcutta của chúng tôi cũng ánh lên rạng rỡ. Từ lúc tinh mơ, tiếng kèn đám cưới đã vang lên, và mỗi nhịp kèn lại làm tim tôi thắt lại. Giai điệu Bai-ra-vi ai oán dường như càng khoét sâu nỗi đau sắp phải chia lìa. Đêm nay, Mi-ni của tôi đi lấy chồng.

Từ sáng sớm, cả nhà đã ồn ào nhộn nhịp. Ngoài sân phải căng rạp trên những cây tre. Trong mỗi phòng, ngoài mỗi hiên phải treo những chùm đèn pha lê kêu leng keng. Vội vàng tất bật không ngớt.

Tôi đang ngồi trong phòng sách xem lại sổ sách, thì có người bước vào, kính cẩn chào, rồi đứng trước mặt tôi. Đó là Ra-mun, ông Kabul. Thoạt đầu tôi không nhận ra ông. Ông không đeo bị, không còn mái tóc dài, cũng không còn vẻ khoẻ mạnh như xưa. Nhưng ông mỉm cười, và tôi nhận ra ông.

"Ông đến bao giờ thế, Ra-mun?" tôi hỏi.

"Tối qua," ông nói. "Tôi được ra tù."

Câu nói ấy nghe chói tai tôi. Xưa nay tôi chưa từng nói chuyện với một kẻ đã đâm người. Nghĩ đến điều đó, lòng tôi co lại, vì tôi thấy giá ông ta đừng đến thì ngày hôm nay sẽ tốt lành hơn.

"Nhà tôi đang có lễ," tôi nói, "và tôi đang bận. Hay ông đến vào hôm khác được không?"

Ông quay đi ngay. Nhưng tới cửa, ông ngập ngừng, rồi nói:

"Thưa ông, tôi có được gặp cô bé một chút không?"

Ông tin rằng Mi-ni vẫn y như ngày xưa. Ông đã hình dung con bé sẽ chạy ùa tới như ngày nào, gọi "Ông Kabul ơi! Ông Kabul ơi!". Ông cũng tưởng tượng hai người sẽ lại cười nói với nhau như hồi trước. Thậm chí, để nhớ lại những ngày xưa, ông đã mang theo mấy hạt hạnh nhân, mấy nắm nho khô và nho tươi gói cẩn thận trong giấy, xin đâu được của một người đồng hương, vì số vốn nhỏ của ông đã tiêu tán cả.

Tôi lại nói:

"Nhà đang có lễ, hôm nay ông không gặp ai được đâu."

Mặt ông xịu xuống. Ông nhìn tôi một lúc, đầy khao khát, rồi chào "Chào ông" và bước ra. Tôi thấy hơi áy náy, định gọi ông lại, thì thấy ông tự quay trở lại. Ông đến sát bên tôi, chìa mấy thứ quà ra mà nói:

"Thưa ông, tôi mang mấy thứ này cho cô bé. Ông đưa giùm cô bé được không?"

Tôi cầm lấy, định trả tiền, nhưng ông nắm lấy tay tôi mà nói:

"Ông tốt quá, thưa ông! Xin ông nhớ đến tôi. Đừng đưa tiền cho tôi! Ông có một cô con gái nhỏ, ở quê nhà tôi cũng có một đứa như thế. Tôi nhớ nó, nên mới mang quả cho con ông, chứ có phải để kiếm lời cho mình đâu."

Nói rồi, ông thò tay vào trong chiếc áo choàng rộng, lấy ra một mảnh giấy nhỏ bẩn thỉu. Ông thận trọng mở ra, dùng cả hai tay vuốt phẳng trên bàn tôi. Trên đó có in hình một bàn tay nhỏ. Không phải ảnh chụp. Không phải tranh vẽ. Chỉ là dấu của một bàn tay bé xíu bôi mực, áp phẳng lên giấy. Cái chạm tay ấy của đứa con gái nhỏ, năm này qua năm khác, ông vẫn ấp trong lòng mỗi khi xuống Calcutta bán hàng rong ngoài phố.

Nước mắt tôi trào ra. Tôi quên mất rằng ông chỉ là một người Kabul nghèo bán hoa quả, còn tôi là... nhưng không, tôi thì hơn gì ông? Ông cũng là một người cha. Dấu bàn tay của bé Pác-va-ti nơi mái nhà xa xôi giữa núi kia làm tôi nhớ đến bé Mi-ni của chính mình.

Tôi cho người vào buồng trong gọi Mi-ni ra ngay. Người ta bày ra đủ điều khó dễ, nhưng tôi không nghe. Trong bộ xa-ri lụa đỏ ngày cưới, trán điểm bột trầm hương, trang sức như một cô dâu trẻ, Mi-ni bước ra, e lệ đứng trước mặt tôi.

Ông Kabul trông thấy thì hơi sững người. Ông không làm sống lại được tình bạn cũ. Mãi rồi ông mới mỉm cười mà nói:

"Cô bé ơi, cô sắp về nhà bố chồng đấy à?"

Nhưng giờ Mi-ni đã hiểu chữ "bố chồng" nghĩa là gì, nên không thể đáp lại ông như ngày xưa. Nghe câu hỏi, mặt nó đỏ bừng, đứng trước ông, gương mặt cô dâu cúi gằm xuống.

Tôi nhớ lại cái ngày ông Kabul và bé Mi-ni của tôi gặp nhau lần đầu, và lòng tôi buồn rười rượi. Mi-ni đi vào rồi, Ra-mun thở dài một tiếng, ngồi bệt xuống sàn. Ông vừa chợt nghĩ ra rằng trong ngần ấy năm, con gái ông chắc cũng đã lớn, và ông sẽ phải làm quen lại với nó từ đầu. Chắc chắn ông sẽ không còn thấy nó như ông từng biết nữa. Mà biết đâu trong tám năm ấy, đã chẳng có chuyện gì xảy đến với nó?

Kèn cưới vang lên, nắng thu dịu dàng tràn ngập quanh chúng tôi. Nhưng Ra-mun ngồi đó, trong con ngõ nhỏ ở Calcutta, mà thấy trước mắt mình những ngọn núi trơ trụi của xứ Áp-ga-ni-xtan.

Tôi lấy ra một tờ giấy bạc, đưa cho ông mà nói:

"Ra-mun, ông hãy về với con gái ông, ở quê nhà ông. Và mong niềm vui ngày bố con ông gặp lại sẽ đem phúc lành đến cho con gái tôi!"

Đưa món quà ấy rồi, tôi phải cắt bớt một vài thứ trong lễ cưới. Tôi không thắp được đèn điện như đã định, cũng không thuê được ban nhạc nhà binh, và các bà trong nhà lấy làm buồn lắm. Nhưng với tôi, tiệc cưới lại càng rạng rỡ hơn, khi nghĩ rằng ở một xứ sở xa xôi, một người cha xa cách đã lâu đang được gặp lại đứa con gái duy nhất của mình.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal của Rabindranath Tagore, 1892; dịch từ bản tiếng Anh The Hungry Stones and Other Stories, 1916
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →