Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người biết chờ

của O. Henry

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 20.497 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ẩn sĩ sông Hát-xơn đang tất bật quanh hang…
  2. 3:25Rõ ràng ẩn sĩ đang chờ khách. Ông chải…
  3. 6:39Cô em út xinh đẹp nhất nhà Tren-hôm duỗi…
  4. 9:16Tôi thì không, — ẩn sĩ nói, vẻ tiếc…
  5. 10:22Phải, với ai?
  6. 12:43Bây giờ bọn tớ còn thân hơn trước. Hai…
  7. 16:14Đúng lúc trăng lên tối thứ Năm, ẩn sĩ…
  8. 19:30Nhà khiêu vũ vươn ra trên mặt nước sông.…

Ẩn sĩ sông Hát-xơn đang tất bật quanh hang của mình, hăng hái khác thường.

Cái hang nằm trên đỉnh, hay đúng hơn là trong đỉnh, một nhánh núi nhỏ của dãy Cát-xkin. Nhánh núi ấy đi lạc xuống tận mép sông, nhưng vì không có vé đò nên đành dừng lại đó. Mấy ngọn núi xinh xinh ấy cây cối rậm rạp, nhung nhúc những con sóc và chim gõ kiến hung dữ lúc nào cũng đe doạ khách du lịch mùa hè. Như một dải viền trắng khâu vụng, một con đường rải đá dăm chạy giữa vạt váy xanh của núi đồi và đường ren bọt sóng của mép sông. Một lối mòn mờ mờ từ con đường êm ả uốn lượn lên một mỏm đá cao, tới hang của ẩn sĩ. Cách đó một dặm về phía thượng nguồn là quán trọ Vọng Cảnh, nơi dân thành phố tới nghỉ hè. Họ rời những căn hộ mát mẻ có quạt điện để được người ta chở đi lòng vòng dưới nắng như thiêu, và để hò hét trên những chiếc xuồng máy do những chàng hiệp sĩ chân khẳng khiu cầm lái.

Xin anh hãy chĩa ống nhòm vào ẩn sĩ, để mắt anh đón lấy chút nét riêng sẽ khiến anh quý mến người anh hùng của chúng ta.

Một người đàn ông chừng bốn mươi, nói cho công bằng, tóc dài quăn ở đuôi, đôi mắt như diễn viên kịch, bộ râu nâu chẻ đôi giống râu những "thầy thuốc thánh" tự phong từng tràn sang miền Tây mấy năm trước, ngay sau một mùa châu chấu. Bộ áo ngoài của ông có vẻ làm bằng một thứ vải bao tải, được cắt may thành một bộ trang phục đủ làm giàu cho một ông thợ may ở Luân Đôn. Những ngón tay dài, thon đẹp, cái mũi thanh tú và phong thái điềm đạm nâng ông lên cao hơn hẳn hạng ẩn sĩ sợ nước, chôn tiền trong hộp sắt tây dưới hang, đúng chỗ có cây thập tự thô sơ khắc trên vách đá phía trên.

Chỗ ở của ẩn sĩ không hẳn chỉ là một cái hang. Cái hang là phần nối thêm vào am, mà am là một túp lều thô sơ dựng bằng sào, trát đất sét, lợp thứ tôn kẽm chống gỉ loại tốt nhất.

Trong căn nhà chính có những phiến đá làm ghế ngồi, một cái tủ sách mộc mạc đóng bằng những tấm ván dương chưa bào, và một cái bàn là một phiến gỗ đặt ngang trên hai tảng đá hoa cương dựng đứng, thứ đồ đạc nằm đâu đó giữa đền thờ của các thầy tế cổ xưa và một quán bít-tết dưới hầm ở phố Brốt-uê. Trên tường treo những tấm da thú rừng mua ở quanh phố Tám và quảng trường Đại học, thành phố New York.

Phía sau túp lều nối liền vào hang. Ở đó ẩn sĩ nấu ăn trên một cái bếp đá thô sơ. Với sự kiên nhẫn vô hạn và một cái rìu cũ, ông đã đẽo những ngăn kệ tự nhiên trên vách đá. Trên đó bày những thứ dự trữ của ông: bột mì, thịt xông khói, mỡ lợn, phấn rôm, dầu hoả, bột nở, viên tiêu hoá bạc hà, hạt tiêu, muối, và kem ô-liu chống nẻ, chống khô ráp da tay da mặt.

Ẩn sĩ đã ẩn ở đó mười năm. Ông là một tài sản của quán trọ Vọng Cảnh. Với khách của quán, ông chỉ kém độ hấp dẫn so với Tiếng Vọng Bí Ẩn ở Thung Lũng Ma. Còn Vực Tình Nhân thì chỉ hơn ông một chút xíu. Người ta biết tiếng ông ở xa, có điều không rộng lắm vì địa thế núi non, là một học giả trí tuệ xuất chúng đã từ bỏ thế gian vì bị phụ tình. Tối thứ Bảy nào quán trọ Vọng Cảnh cũng lén gửi lên cho ông một giỏ đồ ăn. Ông chẳng bao giờ đi xa khỏi vùng ngay quanh am. Những người khách của quán từng lên thăm ông đều bảo kho kiến thức, sự dí dỏm và triết lý lấp lánh của ông thật tuyệt vời.

Mùa hè năm ấy quán trọ Vọng Cảnh đông khách. Vì thế, vào các tối thứ Bảy, giỏ của ẩn sĩ có thêm mấy hộp cà chua, và thịt thăn bò thay cho thịt đùi.

Giờ anh đã nắm được những tình tiết chính của vụ việc. Vậy xin dọn đường cho chuyện tình.

Rõ ràng ẩn sĩ đang chờ khách. Ông chải kỹ mái tóc dài, rẽ bộ râu như râu thánh tông đồ. Khi chiếc đồng hồ báo thức chín mươi tám xu trên kệ đá điểm năm giờ, ông nâng vạt áo bao tải lên, phủi cẩn thận, cầm cây gậy gỗ sồi, thong thả bước vào khu rừng rậm quanh am.

Ông chẳng phải chờ lâu. Ngược lối mòn mờ mờ, trơn trượt dưới thảm lá thông, cô Bê-a-trích, cô em út và xinh đẹp nhất trong mấy chị em nhà Tren-hôm lừng danh, đang lên dốc. Cô mặc toàn màu xanh, từ mũ tới đôi giày vải. Những sắc xanh ấy đi từ màu tiếng chuông hoa lam leng keng lúc rạng đông một sáng thứ Bảy mùa xuân, cho tới màu xanh thẫm của chín giờ sáng thứ Hai khi bà giặt thuê không tới.

Bê-a-trích cắm cây dù màu xanh da trời sâu xuống lớp lá thông, thở dài. Ẩn sĩ lén lút dùng ngón chân cái của bàn chân này gỡ một quả ké khỏi mắt cá của bàn chân kia đi dép xăng-đan. Cô nhuộm xanh ông, gần như hồ cứng và là phẳng ông, bằng đôi mắt xanh màu cô-ban.

— Chắc là thích lắm, — cô nói, giọng nhỏ, hổn hển, run run, — được làm ẩn sĩ, có các quý cô trèo núi lên nói chuyện với mình.

Ẩn sĩ khoanh tay, tựa lưng vào một gốc cây. Bê-a-trích thở dài, ngồi xuống thảm lá thông như con chim lam đậu xuống tổ. Ẩn sĩ cũng ngồi theo, hơi vụng về co chân giấu dưới vạt áo bao tải.

— Chắc là thích lắm, — ông nói, với cái giọng nhẹ nhàng mà nặng nề, — được làm một ngọn núi, có những thiên thần mặc áo xanh trèo lên mình thay vì bay qua trên đầu.

— Mẹ em bị đau dây thần kinh, — Bê-a-trích nói, — nên đi nằm rồi, không thì em chẳng lên được. Ở cái quán trọ cũ kỹ khó chịu ấy nóng kinh khủng. Nhưng mùa hè năm nay nhà em chẳng có tiền đi đâu khác.

— Đêm qua, — ẩn sĩ nói, — tôi trèo lên tận đỉnh tảng đá to phía trên kia. Tôi nhìn thấy ánh đèn của quán trọ, và khi gió thuận thì nghe được một hai khúc nhạc. Tôi tưởng tượng em đang uyển chuyển lướt đi trong vòng tay người khác theo điệu van mơ màng giữa hương hoa. Em thử nghĩ xem tôi phải cô đơn biết bao!

Cô em út, xinh nhất và nghèo nhất trong mấy chị em nhà Tren-hôm lừng danh thở dài.

— Anh đoán chưa trúng lắm đâu, — cô nói, giọng than thở. — Em đang uyển chuyển, nhưng là bên cánh tay của một người khác. Mẹ em lên một cơn thấp khớp định kỳ ở cả hai khuỷu tay lẫn hai vai, em phải xoa bóp cho bà cả tiếng đồng hồ bằng thứ dầu xoa cũ kỹ khó chịu ấy. Em mong anh không tưởng cái mùi ấy giống hương hoa. Anh biết không, ở buổi khiêu vũ hằng tuần tối qua có mấy cậu học viên trường võ bị với cả một du thuyền chở các chàng trai trẻ từ thành phố tới. Em từng thấy mẹ em ngồi bên cửa sổ mở toang ba tiếng đồng hồ, nửa người nóng hầm hập, nửa người tê cóng, mà chẳng hắt hơi lấy một cái. Nhưng hễ có một đám thanh niên không đủ tiêu chuẩn lảng vảng quanh em là y như rằng các khớp ngón tay bà sưng lên, rồi bà kêu thét vì đau. Thế là em phải dìu bà về phòng mà xoa tay cho bà. Nhìn mẹ em mặc quần áo vào, anh sẽ ngạc nhiên khi biết cánh tay bà rộng tới bao nhiêu phân vuông đấy. Em nghĩ làm ẩn sĩ chắc thú vị lắm. Cái áo chùng... hay áo choàng nhỉ... anh mặc trông hợp quá. Anh tự may lấy à, may lấy mấy cái ấy chứ, dĩ nhiên anh phải có áo để thay chứ? Mà được đi dép thay vì đi giày chắc là nhẹ nhõm vô cùng! Anh thử nghĩ bọn em khổ thế nào, dù em mua giày nhỏ tới đâu thì nó cũng kẹp ngón chân em. Ôi, sao lại không có nữ ẩn sĩ nhỉ!

Cô em út xinh đẹp nhất nhà Tren-hôm duỗi ra hai mắt cá chân thon thả màu xanh, kết thúc bằng hai chiếc nơ lụa xanh to tướng gần như che khuất đôi giày búp bê, cũng mang một trong bốn mươi bảy sắc xanh. Ẩn sĩ, như bị một thứ thần giao cách cảm thôi thúc, rụt mấy ngón chân trần sâu hơn vào dưới vạt áo bao tải.

— Em đã nghe kể về chuyện tình của đời anh, — cô Tren-hôm dịu dàng nói. — Người ta in nó ở mặt sau tờ thực đơn ở quán trọ. Chị ấy có đẹp và quyến rũ lắm không?

— In trên thực đơn! — Ẩn sĩ lẩm bẩm. — Nhưng tôi màng gì tới những lời bàn tán của thế gian? Phải, nàng thuộc loại người cao quý, lộng lẫy nhất. Hồi ấy, — ông nói tiếp, — hồi ấy tôi nghĩ trên đời này không thể có người thứ hai sánh được với nàng. Vì thế tôi từ bỏ thế gian, tìm về chốn núi non hiểm trở này để sống một mình phần đời còn lại, để hiến dâng những năm tháng còn lại cho kỷ niệm về nàng.

— Cao cả quá, — cô Tren-hôm nói, — cao cả tuyệt đối. Em nghĩ cuộc sống ẩn sĩ là lý tưởng nhất. Chẳng có ai tới đòi nợ, chẳng phải thay áo đi ăn tối. Em ước gì được làm ẩn sĩ! Nhưng em chẳng có cái may ấy. Nếu mùa này em không lấy chồng, em tin thật là mẹ em sẽ bắt em đi làm công tác xã hội, hay đi trang trí mũ thuê. Đâu phải vì em già đi hay xấu đi, nhưng nhà em chẳng còn đủ tiền để chen chân vào những chỗ sang trọng nữa. Mà em lại không muốn lấy chồng, trừ phi là người em thích. Vì thế em mới muốn làm ẩn sĩ. Ẩn sĩ chẳng bao giờ lấy vợ, phải không anh?

— Cả trăm người lấy đấy, — ẩn sĩ nói, — khi họ tìm được đúng người.

— Nhưng họ làm ẩn sĩ, — cô em út xinh đẹp nhất nói, — là vì họ đã mất đúng người ấy, phải không anh?

— Vì họ tưởng là mình đã mất, — người ẩn dật đáp, vẻ khờ khạo. — Trí khôn tới với người sống trong hang núi cũng như tới với người sống giữa giới "thượng lưu", tôi nghĩ tiếng lóng gọi họ là thế.

— Khi có một người trong giới "thượng lưu" mang nó tới cho họ, — cô Tren-hôm nói. — Mà nhà em là dân thượng lưu đấy. Rắc rối là ở chỗ ấy. Nhưng mùa hè ở bờ biển nhiều dân thượng lưu quá, nhà em chỉ như mấy gợn sóng lăn tăn. Thế nên nhà em đành phải dồn hết tiền vào những chuyến nghỉ ven sông. Nhà em toàn con gái, anh biết đấy. Bốn chị em. Em là người duy nhất còn sót lại. Các chị em đã được gả đi hết rồi. Toàn lấy người giàu. Mẹ em tự hào về các chị em lắm. Giáng sinh năm nào các chị cũng gửi cho mẹ mấy cái khăn lau ngòi bút với mấy tấm lịch nghệ thuật xinh xắn nhất. Giờ chỉ còn mình em trên thị trường. Em bị cấm nhìn bất cứ ai không có tiền.

— Nhưng... — ẩn sĩ bắt đầu.

— Nhưng, ồ, — cô em xinh đẹp nhất nói, — dĩ nhiên ẩn sĩ có những hũ vàng to và tiền đúc chôn ở đâu đó gần ba cây sồi lớn. Ẩn sĩ nào cũng có mà.

— Tôi thì không, — ẩn sĩ nói, vẻ tiếc nuối.

— Em tiếc quá, — cô Tren-hôm nói. — Em vẫn tưởng ẩn sĩ nào cũng có. Chắc em phải về đây.

Ồ, không còn nghi ngờ gì nữa, cô đẹp nhất trần đời.

— Nàng tiên kiều diễm... — ẩn sĩ bắt đầu.

— Em là Bê-a-trích Tren-hôm, có người gọi em là Tríc, — cô nói. — Anh phải xuống quán trọ thăm em nhé.

— Mười năm nay tôi chưa từng đi xa khỏi hang quá một tầm ném đá, — ẩn sĩ nói.

— Anh phải xuống đó thăm em, — cô nhắc lại. — Tối nào cũng được, trừ tối thứ Năm.

Ẩn sĩ mỉm cười yếu ớt.

— Tạm biệt anh, — cô nói, túm vạt váy xanh nhạt. — Em sẽ chờ anh. Nhưng đừng tới vào tối thứ Năm, anh nhớ nhé.

Những tờ thực đơn sau này của quán trọ Vọng Cảnh sẽ hấp dẫn biết bao nếu được in thêm mấy dòng này: "Chỉ duy nhất một lần trong suốt hơn mười năm sống cô độc, ẩn sĩ trên núi đã rời khỏi cái hang nổi tiếng của mình. Đó là khi ông bị sức quyến rũ của cô Bê-a-trích Tren-hôm, cô em út xinh đẹp nhất trong mấy chị em nhà Tren-hôm lừng danh, kéo xuống quán trọ không sao cưỡng nổi, cô Bê-a-trích mà đám cưới lộng lẫy với..."

Phải, với ai?

Ẩn sĩ đi về am. Ở cửa có Bốp Binh-cli đang đứng, bạn cũ và người đồng hành của ông thời ông chưa từ bỏ thế gian. Đúng là Bốp, rực rỡ như hoa lan trong nhà kính trong bộ quần áo sặc sỡ của dân nghỉ hè. Bốp triệu phú, với khuôn mặt mập mạp, chắc nịch, nhẵn nhụi, khôn ngoan, những chiếc nhẫn kim cương, sợi dây đồng hồ lấp lánh và chiếc áo sơ mi xếp nếp trước ngực. Bốp hơn ẩn sĩ hai tuổi, nhưng trông trẻ hơn năm tuổi.

— Cậu là Ham E-li-xơn, dù có bộ râu kia với cái áo choàng tắm lên đường ấy, — Bốp hét lên. — Tớ đọc về cậu trên thực đơn ở quán trọ. Người ta in tiểu sử cậu ngay giữa món pho-mát với dòng "Quán không chịu trách nhiệm về áo khoác và ô dù". Cậu làm thế để làm gì hả Ham? Lại những mười năm, trời đất quỷ thần ơi!

— Cậu chẳng thay đổi gì, — ẩn sĩ nói. — Vào ngồi đi. Ngồi lên tảng đá vôi đằng kia ấy, nó mềm hơn tảng đá hoa cương.

— Tớ không hiểu nổi, bạn già ạ, — Binh-cli nói. — Tớ hiểu được chuyện cậu từ bỏ một người đàn bà mười năm, nhưng không hiểu nổi chuyện cậu bỏ mười năm vì một người đàn bà. Dĩ nhiên tớ biết vì sao cậu làm thế. Ai cũng biết. Ê-đít Ca. Ngoài cậu ra cô ấy còn bỏ bốn năm người nữa. Nhưng chỉ có mình cậu chui xuống lỗ. Mấy người kia thì tìm tới rượu, tới mỏ vàng, tới chính trường, hay tới cái phương thuốc lấy độc trị độc. Nhưng mà này, Ham, Ê-đít Ca đúng là người đàn bà tuyệt vời nhất trên đời. Cao sang, kiêu hãnh, cao thượng, quyết giữ lý tưởng của mình dù phải đánh cược với bất cứ tỷ lệ nào. Cô ấy đúng là hạng nhất.

— Từ khi tôi từ bỏ thế gian, — ẩn sĩ nói, — tôi chẳng nghe tin gì về nàng nữa.

— Cô ấy lấy tớ, — Binh-cli nói.

Ẩn sĩ tựa lưng vào vách gỗ gian ngoài hang, ngọ nguậy mấy ngón chân.

— Tớ biết cậu cảm thấy thế nào, — Binh-cli nói. — Nhưng cô ấy còn làm gì khác được? Còn bốn cô em gái, bà mẹ, với ông già Ca. Cậu còn nhớ ông ấy đổ hết tiền vào khinh khí cầu có lái chứ? Thế đấy, cái gì cũng rơi xuống, chẳng có gì bay lên cùng chúng cả, có thể nói thế. Tớ hiểu Ê-đít cũng rõ như cậu, dù tớ đã lấy cô ấy. Hồi ấy tớ có một triệu, từ đó tới giờ tớ đã đẩy lên năm sáu triệu. Cô ấy chẳng cần tớ bằng cần... chà, đại khái là thế này. Cô ấy có cả một lũ trên tay, mà lũ ấy thì phải được lo liệu. Ê-đít lấy tớ hai tháng sau khi cậu làm trò con sóc đất. Hồi ấy tớ cũng tưởng cô ấy thích tớ.

— Thế còn bây giờ? — Người ẩn dật hỏi.

— Bây giờ bọn tớ còn thân hơn trước. Hai năm trước cô ấy xin ly dị tớ. Chỉ vì không hợp nhau thôi. Tớ chẳng cãi gì. Chà, chà, chà, Ham ạ, cái hầm cậu dựng ở đây đúng là buồn cười thật. Nhưng xưa nay cậu vẫn là nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết mà. Lẽ ra cậu phải là người hợp ý Ê-đít nhất mới phải. Có khi cậu hợp thật, nhưng cái bắt được họ là xấp tiền, chàng trai ạ. Hang hốc với râu ria của cậu chẳng ăn thua đâu. Thật lòng đi, Ham, cậu không thấy mình là một thằng ngốc chết tiệt à?

Ẩn sĩ mỉm cười sau bộ râu rối bù. Ông vẫn là, và xưa nay vẫn luôn là, kẻ vượt xa gã Binh-cli thô thiển, hám tiền ấy, tới mức ngay cả những câu tục tằn của gã cũng không làm ông nổi giận. Hơn nữa, những năm học hỏi, suy tưởng trong chốn ẩn cư đã nâng ông lên cao hơn hẳn những thói phù hoa vặt vãnh của thế gian. Sườn núi nhỏ của ông gần như là một đỉnh thần sơn, từ mép ấy ông mỉm cười nhìn những tia sét giáng xuống thung lũng loài người bên dưới. Mười năm từ bỏ, suy tư, tận tuỵ với một lý tưởng, sống khinh bỉ một thế giới hèn hạ, lẽ nào lại uổng phí? Từ thế gian đã có người tìm lên với ông, cô em út, người đẹp nhất, đẹp hơn cả Ê-đít, đáng yêu gấp mấy lần nàng Ra-chen mà người xưa phải làm công bảy năm mới cưới được. Vì thế ẩn sĩ mỉm cười trong râu.

Khi Binh-cli đã giải thoát cái am khỏi vết nhơ là sự có mặt của gã, và ngôi sao mờ đầu tiên đã hiện ra trên ngọn thông, ẩn sĩ lấy hộp bột nở trong tủ ra. Ông vẫn mỉm cười sau bộ râu.

Có tiếng sột soạt khẽ ở cửa. Ê-đít Ca đứng đó, với tất cả vẻ đẹp, vẻ trang nghiêm, phong thái cao quý mà mười năm đã tăng thêm cho bà.

Bà chưa bao giờ là người lắm lời. Bà nhìn ẩn sĩ bằng đôi mắt đen to, đầy suy tư. Ẩn sĩ đứng yên, ngạc nhiên tới mức đứng sững bất động như bà. Chỉ có ý thức tiềm tàng về sự hợp lẽ khiến ông chầm chậm xoay hộp bột nở trong tay cho tới khi cái nhãn đỏ khuất vào ngực mình.

— Em đang trọ ở quán, — Ê-đít nói, giọng trầm nhưng rõ. — Em nghe nói về anh ở đó. Em tự nhủ em phải gặp anh. Em muốn xin anh tha thứ. Em đã bán hạnh phúc của mình lấy tiền. Có những người khác cần em lo liệu, nhưng điều đó không bào chữa được cho em. Em chỉ muốn gặp anh và xin anh tha thứ. Người ta bảo em anh đã sống ở đây mười năm, ôm ấp kỷ niệm về em! Em đã mù quáng, anh Ham-tơn ạ. Hồi ấy em không thấy được rằng tất cả tiền bạc trên đời cũng không nặng bằng một trái tim chung thuỷ trên bàn cân. Giá như... nhưng dĩ nhiên giờ đã quá muộn rồi.

Lời khẳng định của bà là một câu hỏi, được khoác lên khéo nhất có thể tấm áo kiêu hãnh của một người đàn bà đang yêu. Nhưng qua lớp nguỵ trang mỏng manh ấy, ẩn sĩ dễ dàng thấy rằng người đàn bà của ông đã quay về với ông, nếu ông muốn. Ông đã giành được chiếc vương miện vàng, nếu ông thích đội nó lên. Phần thưởng cho mười năm chung thuỷ đã sẵn đó, nếu ông muốn đưa tay ra nhận.

Trong một phút, bùa mê ngày xưa chiếu lên ông một thứ ánh sáng phản chiếu. Rồi lần lượt ông thấy những cảm giác đàn ông: phẫn nộ vì đã bị ruồng bỏ, rồi ghê tởm vì, có thể nói như thế, lại được tìm tới. Và sau cùng, lạ thay là rốt cuộc nó lại tới, hình ảnh màu xanh nhạt của cô em xinh đẹp nhất nhà Tren-hôm bừng sáng trong tâm trí ông, khiến ông không chút dao động.

— Đã quá muộn rồi, — ông nói, giọng trầm, ép chặt hộp bột nở vào tim.

Có một lần bà ngoảnh lại, sau khi đã chậm rãi đi xuống lối mòn chừng hai chục mét. Ẩn sĩ vừa định vặn nắp hộp, liền giấu nó vào dưới vạt áo bao tải. Ông thấy đôi mắt to của bà ánh lên buồn bã trong bóng chạng vạng. Nhưng ông đứng ở cửa lều, cứng rắn, không ra một dấu hiệu nào.

Đúng lúc trăng lên tối thứ Năm, ẩn sĩ bị cơn điên thế tục xâm chiếm.

Từ quán trọ, mờ hơn cả tiếng tù và nơi xứ tiên, thỉnh thoảng vọng lên vài nhịp nhạc của ban nhạc nhà khiêu vũ. Màn đêm làm sông Hát-xơn rộng ra thành một biển cả mênh mông. Những ánh đèn lờ mờ bên bờ bên kia không phải là đèn hiệu của những tuyến tàu điện tầm thường, mà là những vì sao treo thấp cách xa hàng triệu dặm. Mặt nước trước quán trọ rộn ràng đom đóm, hay là những chiếc xuồng máy nồng mùi xăng dầu? Có thời ẩn sĩ đã biết những thứ ấy, đã đùa vui với người đẹp dưới bóng những tấm bạt kẻ sọc đỏ trắng. Nhưng suốt mười năm nay, ông đã ngoảnh tai làm ngơ trước những tiếng vọng xa xăm của một thế giới phù phiếm. Thế mà tối nay có cái gì đó không ổn.

Ban nhạc nhà khiêu vũ đang chơi một điệu van, một điệu van. Ông thật ngốc khi cố tình xé bỏ mười năm đời mình khỏi tờ lịch của cuộc sống, vì một người đã bỏ ông để chạy theo những niềm vui giả dối mà sự giàu sang... "tùng tì tùng tì tùng tì"... điệu van ấy thế nào nhỉ? Nhưng những năm tháng ấy đâu có bị hy sinh uổng phí. Chẳng phải chúng đã mang tới cho ông vì sao và viên ngọc của cả thế gian, cô em út, người đẹp nhất trong...

"Nhưng đừng tới vào tối thứ Năm," cô đã dặn đi dặn lại. Có lẽ giờ này cô đang chậm rãi, duyên dáng lướt theo điệu van ấy, trong vòng tay ôm chặt của mấy cậu học viên võ bị hay mấy anh chàng thành phố, trong khi ông, kẻ đã đọc được trong mắt cô những điều bù đắp cho mười năm đời đã mất, lại ủ rũ như một con thú hoang trong hang núi. Tại sao lại phải...

— Khỉ thật, — ẩn sĩ bỗng nói, — mình sẽ đi!

Ông quăng cuốn sách triết học xuống, cởi phăng tấm áo bao tải. Ông lôi một cái rương phủ đầy bụi ở góc hang ra, khó nhọc cạy nắp.

Nến thì ông có thừa, chẳng mấy chốc cái hang sáng rực. Quần áo kiểu may từ mười năm trước, kéo, dao cạo, mũ, giày, tất cả những đồ mặc và vật dụng ông đã vứt bỏ, bị lôi ra không thương tiếc khỏi chỗ nằm yên của sự từ bỏ, vương vãi khắp nơi bừa bộn tới đau lòng.

Chiếc kéo chẳng mấy chốc đã cắt bộ râu ngắn tới mức những con dao cạo đã cùn có thể làm được phần nào nhiệm vụ của chúng. Tự cắt tóc thì vượt quá tài nghệ của ẩn sĩ. Vì thế ông chỉ chải và vuốt nó ra phía sau cho mượt nhất có thể. Lòng nhân hậu không cho phép chúng ta xem xét những nỗi khổ tâm và vất vả của một người đã xa rời quần áo và xã hội lâu như thế.

Cuối cùng, ẩn sĩ đi vào một góc trong cùng của hang, bắt đầu đào lớp đất mềm bằng một cái thìa sắt dài. Từ cái hố đào được, ông lôi ra một cái hộp sắt tây, và từ cái hộp ấy, ba nghìn đô-la giấy, cuộn chặt, bọc trong lụa tẩm dầu. Ông là một ẩn sĩ thực thụ, chi tiết này chắc khiến anh yên tâm.

Anh có thể ngắm qua ông trong lúc ông vội vã xuống sườn núi nhỏ. Một chiếc áo khoác dài màu đen nhăn nhúm dài tới bắp chân. Chiếc quần vải trắng chưa từng biết tới bàn là của thợ may, áo sơ mi hồng, cổ cồn trắng đứng, cà vạt nơ bướm xanh rực rỡ, và đôi giày cao cổ cài khuy. Nhưng thưa ông, thưa bà, xin nghĩ xem, mười năm cơ đấy! Dưới chiếc mũ rơm vành hẹp có dải băng kẻ sọc, mái tóc ông xoà ra. Nhìn ông, dù tinh khôn tới đâu, anh cũng không đoán ra nổi. Anh sẽ bảo ông là diễn viên đóng vai Hăm-lét, hay người thổi kèn tuba, hay dân chơi bài. Anh sẽ chẳng bao giờ đặt tay lên ngực mà nói: "Đây là một ẩn sĩ đã sống mười năm trong hang vì yêu một người đàn bà, để giành lấy một người đàn bà khác."

Nhà khiêu vũ vươn ra trên mặt nước sông. Những chiếc đèn lồng sặc sỡ và những bóng đèn điện mờ toả một ánh sáng dịu huyền ảo bên trong. Cả trăm quý bà quý ông từ quán trọ và các biệt thự nghỉ hè dập dìu ra vào. Bên trái con đường đầy bụi mà ẩn sĩ vừa lội bộ xuống là quán trọ và phòng ăn. Ở đó dường như cũng đang có chuyện gì. Cửa sổ sáng rực, nhạc đang chơi, thứ nhạc khác hẳn những điệu nhảy hai bước và điệu van của ban nhạc nhà khiêu vũ.

Một người phục vụ mặc áo vét trắng đi qua cánh cổng sắt có hai trụ đá hoa cương đồ sộ và những giá đèn bằng sắt rèn.

— Tối nay ở đây có chuyện gì thế? — Ẩn sĩ hỏi.

— Thưa ông, — người phục vụ nói, — ở nhà khiêu vũ có buổi khiêu vũ tối thứ Năm như thường lệ. Còn ở phòng ăn có tiệc bít-tết, thưa ông.

Ẩn sĩ ngước nhìn lên quán trọ trên sườn đồi, nơi bỗng vang lên một khúc hoà âm tuyệt diệu, đắc thắng.

— Còn trên kia, — ông nói, — họ đang chơi nhạc Men-đen-xôn. Trên kia có chuyện gì thế?

— Trên quán trọ ạ, — người phục vụ nói, — đang có đám cưới, thưa ông. Ông Binh-cli, một người giàu kếch xù, cưới cô Tren-hôm, thưa ông, cô gái đẹp nhất vùng này đấy ạ.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: To Him Who Waits, O. Henry, in trong tuyển tập Options
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →