Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người đàn bà điên

của Guy de Maupassant

⏱ 7 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 6.007 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ông Ma-chi-ơ Đăng-đô-lanh nói:
  2. 0:42Người đàn bà trẻ tội nghiệp, bị nỗi đau…
  3. 1:59Chúng đi diễu qua dài dằng dặc, đứa nào…
  4. 3:15Hắn nói tiếp:
  5. 3:38Rồi hắn đi ra.
  6. 4:31Và viên sĩ quan vừa xoa tay vừa nói:
  7. 4:56Giờ đây tuyết rơi suốt ngày đêm, vùi kín…
  8. 5:52Thế rồi mùa thu năm sau, chim dẽ bay…

Ông Ma-chi-ơ Đăng-đô-lanh nói:

"Này, mấy con chim dẽ làm tôi nhớ tới một chuyện rất rùng rợn hồi chiến tranh.

Các anh biết khu đất của tôi ở ngoại ô Coóc-mây rồi đấy. Lúc quân Phổ tới, tôi đang ở đó.

Hồi ấy tôi có một bà hàng xóm, một người điên điên thế nào ấy, đầu óc đã lạc đi vì những đòn đau của số phận. Ngày trước, năm hai mươi lăm tuổi, chỉ trong một tháng, bà đã mất cha, mất chồng và mất đứa con mới đẻ.

Khi cái chết đã một lần bước vào một ngôi nhà, nó gần như bao giờ cũng quay lại ngay, như thể nó đã biết cửa.

Người đàn bà trẻ tội nghiệp, bị nỗi đau đánh gục, nằm liệt giường, mê sảng suốt sáu tuần. Rồi một thứ mệt mỏi lặng lẽ tiếp theo cơn khủng hoảng dữ dội ấy, bà nằm im không cử động, gần như chẳng ăn uống gì, chỉ còn đôi mắt là đưa đi đưa lại. Mỗi lần người ta muốn đỡ bà dậy, bà lại kêu thét lên như thể bị giết. Thế là người ta để bà nằm mãi, chỉ đưa bà ra khỏi chăn đệm để lau rửa và để lật nệm.

Một bà vú già ở lại bên bà, thỉnh thoảng cho bà uống nước hay nhai một chút thịt nguội. Có chuyện gì diễn ra trong tâm hồn tuyệt vọng ấy? Chẳng bao giờ người ta biết được, vì bà không nói nữa. Bà có nghĩ tới những người đã chết không? Bà có mơ màng buồn bã, chẳng nhớ rõ điều gì không? Hay là tư tưởng của bà đã tan biến, đứng im như một vũng nước không chảy?

Suốt mười lăm năm, bà cứ khép kín và bất động như thế.

Chiến tranh tới. Và vào những ngày đầu tháng Chạp, quân Phổ tiến vào Coóc-mây.

Tôi còn nhớ như mới hôm qua. Trời rét tới nứt cả đá. Chính tôi cũng đang nằm dài trong ghế bành, không nhúc nhích được vì bệnh gút, thì nghe thấy tiếng bước chân nặng nề và đều đặn của chúng. Từ cửa sổ, tôi nhìn thấy chúng đi qua.

Chúng đi diễu qua dài dằng dặc, đứa nào cũng như đứa nào, với cái kiểu cử động như những con rối, riêng có ở chúng. Rồi bọn chỉ huy chia quân về ở nhà dân. Tôi phải nhận mười bảy đứa. Bà hàng xóm, bà điên ấy, phải nhận mười hai đứa, trong đó có một viên thiếu tá, một tay lính già đúng nghĩa, hung bạo, cục cằn.

Mấy ngày đầu, mọi việc đều bình thường. Người ta đã nói với viên sĩ quan nhà bên rằng bà chủ nhà bị ốm, và hắn chẳng bận tâm gì mấy. Nhưng chẳng bao lâu, cái người đàn bà chẳng bao giờ thấy mặt ấy làm hắn bực mình. Hắn hỏi bà bị bệnh gì. Người ta trả lời rằng bà chủ đã nằm liệt giường mười lăm năm nay vì một nỗi đau quá lớn. Chắc là hắn chẳng tin, và hắn tưởng tượng rằng người đàn bà mất trí đáng thương kia không rời giường vì kiêu hãnh, để khỏi phải nhìn thấy quân Phổ, khỏi phải nói chuyện với chúng, khỏi phải chạm vào chúng.

Hắn đòi bà phải tiếp hắn. Người ta đưa hắn vào phòng bà. Hắn hỏi cộc lốc, bằng thứ tiếng Pháp lơ lớ:

"Tôi yêu cầu pà, thưa pà, dậy đi và xuống nhà cho người ta nhìn thấy pà."

Bà quay về phía hắn đôi mắt lơ đãng, đôi mắt trống rỗng, và không đáp.

Hắn nói tiếp:

"Tôi không dung thứ chuyện hỗn láo. Nếu pà không tự ý dậy, tôi sẽ có cách pắt pà đi dạo một mình."

Bà không làm một cử chỉ nào, vẫn bất động như thể không nhìn thấy hắn.

Hắn tức điên lên, cho rằng sự im lặng bình thản ấy là dấu hiệu của sự khinh bỉ tột cùng. Và hắn nói thêm:

"Nếu mai pà không xuống nhà..."

Rồi hắn đi ra.

Hôm sau, bà vú già cuống cuồng muốn mặc quần áo cho bà. Nhưng người đàn bà điên gào thét, giãy giụa. Viên sĩ quan vội vàng chạy lên. Người hầu gái quỳ sụp xuống chân hắn mà kêu:

"Bà ấy không chịu đâu ông ơi, bà ấy không chịu đâu. Xin ông tha cho bà ấy. Bà ấy khổ lắm rồi."

Viên sĩ quan lúng túng đứng đó, dù đang giận vẫn không dám sai lính lôi bà ra khỏi giường. Nhưng bỗng hắn phá lên cười và ra lệnh bằng tiếng Đức.

Chẳng bao lâu, người ta thấy một toán lính đi ra, khiêng một tấm nệm như người ta khiêng một người bị thương. Trên tấm nệm vẫn nguyên chăn gối ấy, người đàn bà điên, vẫn im lặng, nằm yên, chẳng màng tới những gì đang xảy ra, miễn là người ta cứ để bà nằm. Một người đi phía sau ôm một bọc quần áo đàn bà.

Và viên sĩ quan vừa xoa tay vừa nói:

"Để xem pà có tự mặc quần áo và đi dạo một vòng được không."

Rồi người ta thấy đoàn người đi xa dần về phía rừng I-mô-vin.

Hai giờ sau, bọn lính trở về, chỉ có mình chúng.

Người ta không bao giờ còn thấy người đàn bà điên nữa. Chúng đã làm gì bà? Chúng đã mang bà đi đâu? Chẳng bao giờ người ta biết được.

Giờ đây tuyết rơi suốt ngày đêm, vùi kín cánh đồng và những cánh rừng dưới một tấm khăn liệm bằng bọt băng. Chó sói kéo tới hú tận trước cửa nhà chúng tôi.

Ý nghĩ về người đàn bà mất tích ấy cứ ám ảnh tôi. Tôi đã nhiều lần tìm tới nhà chức trách Phổ để xin tin tức. Suýt nữa thì tôi bị bắn.

Mùa xuân trở lại. Quân chiếm đóng rút đi. Nhà bà hàng xóm vẫn đóng cửa im ỉm. Cỏ mọc dày trên các lối đi.

Bà vú già đã chết trong mùa đông. Chẳng còn ai bận tâm tới câu chuyện ấy nữa. Chỉ có mình tôi là cứ nghĩ tới mãi.

Chúng đã làm gì người đàn bà ấy? Bà đã trốn được qua rừng chăng? Có ai đó đã đón bà về, rồi giữ bà trong một bệnh viện mà không hỏi được bà một điều gì chăng? Chẳng có gì làm vơi đi những nghi vấn của tôi. Nhưng dần dần, thời gian làm dịu nỗi bận lòng của tôi.

Thế rồi mùa thu năm sau, chim dẽ bay qua từng đàn. Và vì bệnh gút để tôi yên được đôi chút, tôi lê bước tới tận khu rừng. Tôi đã bắn được bốn năm con chim mỏ dài thì bắn rơi một con, nó rơi mất hút vào một cái hố đầy cành cây. Tôi phải tụt xuống đó để nhặt con chim. Tôi thấy nó rơi ngay bên một cái đầu lâu. Và bỗng nhiên, kỷ niệm về người đàn bà điên đập vào ngực tôi như một quả đấm. Có lẽ còn nhiều người khác đã chết trong những cánh rừng này vào cái năm rùng rợn ấy. Nhưng chẳng hiểu vì sao, tôi tin chắc, tin chắc, tôi nói các anh nghe, rằng tôi đang gặp lại cái đầu của người đàn bà mất trí khốn khổ ấy.

Và bỗng tôi hiểu ra, tôi đoán ra tất cả. Chúng đã bỏ bà lại trên tấm nệm ấy, giữa khu rừng giá lạnh và vắng vẻ. Và trung thành với ý nghĩ cố định của mình, bà đã để mặc cho mình chết dưới lớp lông tơ tuyết dày mà nhẹ, không hề cử động tay hay chân.

Rồi chó sói đã ăn thịt bà.

Và chim chóc đã làm tổ bằng len của tấm nệm rách.

Tôi đã giữ lại khúc xương buồn thảm ấy. Và tôi cầu mong cho con cháu chúng ta đừng bao giờ phải thấy chiến tranh nữa."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Folle, 1882, tập Contes de la bécasse, Havard 1894
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →