Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ba ngày đóng cửa

Người lính bị gọi nhập ngũ · Chương 1/2 · của Honoré de Balzac

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 14.361 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một buổi tối tháng Mười một năm 1793, những…
  2. 5:06Nhờ được chăm sóc không ngơi nghỉ, người con…
  3. 8:54Nếu bà ấy ốm, người tò mò thứ nhất…
  4. 11:23Ông ta không nói hết câu, nhưng ai cũng…
  5. 11:56Vẻ mặt khác lạ của bà bá tước càng…
  6. 12:38Ông lại đây, bà nói, nắm tay ông dẫn…
  7. 13:03Tôi tin ông.

Chương 1: Ba ngày đóng cửa

Một buổi tối tháng Mười một năm 1793, những nhân vật quan trọng nhất của thị trấn Ca-răng-tăng có mặt trong phòng khách của bà Đê, nơi mọi người vẫn tụ họp hằng ngày. Vài chuyện mà ở một thành phố lớn chẳng ai để ý, nhưng ở một thị trấn nhỏ thì hẳn làm người ta bận tâm lắm, đã khiến cuộc gặp quen thuộc này có một sức hấp dẫn khác thường. Hôm kia, bà Đê đã đóng cửa không tiếp bạn bè, và hôm qua bà cũng miễn tiếp nốt, viện cớ trong người không khoẻ. Vào thời bình thường, hai việc ấy ở Ca-răng-tăng cũng gây ra hiệu quả y như việc mọi nhà hát ở Pa-ri cùng đóng cửa nghỉ diễn. Những ngày ấy, cuộc sống dường như thiếu đi một cái gì. Nhưng vào năm 1793, cách hành xử của bà Đê có thể dẫn tới những hậu quả tai hại nhất. Hồi ấy, với giới quý tộc, chỉ một bước đi liều lĩnh nhỏ nhất cũng gần như luôn thành chuyện sống chết. Để hiểu rõ nỗi tò mò mãnh liệt và những toan tính nhỏ nhen đã làm sống động những gương mặt dân Noóc-măng của mọi người tối hôm ấy, nhưng nhất là để chia sẻ những nỗi băn khoăn thầm kín của bà Đê, cần phải cắt nghĩa vai trò của bà ở Ca-răng-tăng. Cái hoàn cảnh hiểm nghèo bà đang gặp lúc này hẳn cũng là hoàn cảnh của biết bao người trong thời Cách mạng, nên sự đồng cảm của không ít người đọc sẽ tô thêm màu sắc cho câu chuyện.

Bà Đê, vợ goá của một vị trung tướng, hiệp sĩ các dòng huân chương nhà vua, đã rời triều đình ngay khi làn sóng lưu vong mới bắt đầu. Có nhiều ruộng đất quanh vùng Ca-răng-tăng, bà về đây lánh nạn, hy vọng nơi này sẽ ít chịu ảnh hưởng của thời Khủng bố. Tính toán ấy, dựa trên sự hiểu biết tường tận về vùng đất, là đúng. Cách mạng ít gây tàn phá ở miền Hạ Noóc-măng. Dù ngày trước, mỗi lần về thăm điền sản, bà Đê chỉ giao thiệp với các gia đình quý tộc trong vùng, giờ bà đã khôn khéo mở cửa đón những thị dân có máu mặt trong thị trấn và các nhà chức trách mới, cố làm cho họ tự hào vì được bà quý, mà không khơi dậy ở họ chút thù ghét hay ganh tị nào. Duyên dáng và tốt bụng, có cái dịu dàng khó tả biết cách làm vừa lòng người khác mà không cần hạ mình hay van nài, bà đã được mọi người quý trọng nhờ một sự tế nhị tuyệt vời. Sự tế nhị ấy giúp bà đứng vững trên cái lằn ranh mong manh, nơi bà có thể đáp ứng những đòi hỏi của cái xã hội pha tạp ấy, mà không làm tổn thương lòng tự ái khó chiều của đám mới phất, cũng không làm phật lòng những người bạn cũ.

Trạc ba mươi tám tuổi, bà vẫn còn giữ được, không phải vẻ đẹp tươi tắn đầy đặn của các cô gái miền Hạ Noóc-măng, mà một vẻ đẹp mảnh mai, có thể nói là quý phái. Nét mặt bà thanh tú, tinh tế. Dáng người mềm mại, thon thả. Khi bà nói, gương mặt nhợt nhạt như sáng bừng lên và có sức sống. Đôi mắt đen to đầy vẻ nhã nhặn, nhưng cái nhìn điềm tĩnh, sùng đạo dường như cho thấy lẽ sống của bà không còn ở trong chính bà nữa. Lấy chồng khi đang độ xuân xanh, chồng lại là một ông quan võ già và ghen tuông, cái vị thế giả tạo của bà giữa một triều đình phong tình hẳn đã góp phần lớn phủ một tấm màn u buồn nghiêm trang lên gương mặt mà xưa kia lẽ ra phải rạng rỡ nét duyên và sự sôi nổi của tình yêu. Phải luôn kìm nén những rung động hồn nhiên, những xúc cảm của người đàn bà ở cái tuổi còn cảm nhiều hơn nghĩ, nên đam mê vẫn còn trinh nguyên trong đáy lòng bà. Vì thế sức quyến rũ chính của bà đến từ cái tuổi trẻ thầm kín đôi khi hé lộ trên nét mặt, khiến những ý nghĩ của bà mang một vẻ khao khát ngây thơ. Dáng vẻ bà khiến người ta phải giữ ý, nhưng trong cử chỉ, trong giọng nói của bà luôn có những khát khao hướng về một tương lai chưa biết, như ở một thiếu nữ. Chẳng bao lâu người đàn ông vô cảm nhất cũng thấy mình yêu bà, nhưng vẫn giữ một nỗi e dè kính nể, do phong cách lịch thiệp đầy uy nghi của bà gợi nên. Tâm hồn bà, vốn lớn lao bẩm sinh, lại được tôi luyện qua những cuộc đấu tranh khắc nghiệt, dường như ở quá xa đám người tầm thường, và đàn ông tự biết thân biết phận. Một tâm hồn như thế tất phải cần một đam mê cao cả. Cho nên mọi tình cảm của bà Đê đều dồn cả vào một mối tình duy nhất, tình mẫu tử. Hạnh phúc và lạc thú mà cuộc đời người đàn bà của bà đã bị tước mất, bà tìm lại được trong tình yêu thương vô bờ dành cho đứa con trai. Bà không chỉ yêu con bằng sự tận tuỵ trong sáng và sâu sắc của người mẹ, mà còn bằng sự làm duyên của người tình, bằng sự ghen tuông của người vợ. Xa con là bà khổ, con đi vắng là bà lo, bà không bao giờ thấy được gặp con cho đủ, bà chỉ sống nhờ con và vì con. Muốn cho đàn ông hiểu được sức mạnh của tình cảm ấy, chỉ cần nói thêm rằng người con trai này không chỉ là đứa con duy nhất của bà Đê, mà còn là người thân cuối cùng của bà, sinh linh duy nhất mà bà có thể gửi gắm mọi lo âu, hy vọng và niềm vui trong đời. Cố bá tước Đê là người cuối cùng của dòng họ mình, cũng như bà là người thừa kế duy nhất của dòng họ bà. Vậy là những toan tính và lợi ích của con người đã hoà hợp với những nhu cầu cao quý nhất của tâm hồn, để thổi bùng trong lòng bà bá tước một tình cảm vốn đã rất mãnh liệt ở đàn bà. Bà nuôi con khôn lớn với muôn vàn vất vả, càng làm con thêm quý. Hai mươi lần các thầy thuốc báo trước bà sẽ mất con. Nhưng tin vào linh cảm, vào hy vọng của mình, bà đã có niềm vui khôn tả khi thấy con vượt qua mọi hiểm nghèo thời thơ ấu, thấy con ngày một cứng cáp, bất chấp những lời phán của giới y khoa.

Nhờ được chăm sóc không ngơi nghỉ, người con lớn lên khôi ngô tới mức năm hai mươi tuổi, chàng được coi là một trong những kỵ sĩ hoàn hảo nhất ở Véc-xây. Lại thêm một niềm hạnh phúc không phải người mẹ nào cũng được đền đáp: bà được con trai tôn thờ. Tâm hồn hai mẹ con hiểu nhau bằng một thứ đồng cảm như anh em. Giả như không có sẵn mối dây ruột thịt, hẳn họ cũng sẽ tự nhiên dành cho nhau thứ tình bạn giữa hai người đàn ông, thứ tình hiếm gặp trong đời. Được phong thiếu uý kỵ binh năm mười tám tuổi, chàng bá tước trẻ đã làm theo lẽ danh dự của thời ấy, đi theo các vị hoàng thân sống lưu vong.

Vì thế bà Đê, quý tộc, giàu có, lại là mẹ của một người lưu vong, chẳng tự lừa mình về những hiểm nguy trong hoàn cảnh khắc nghiệt của bà. Chỉ mong giữ lại cho con một gia sản lớn, bà đã từ bỏ hạnh phúc được đi cùng con. Nhưng khi đọc những đạo luật khắt khe mà theo đó, ngày nào nền Cộng hoà cũng tịch thu tài sản của những người lưu vong ở Ca-răng-tăng, bà tự khen mình đã can đảm làm như vậy. Chẳng phải bà đang giữ của cải cho con bằng chính mạng sống của mình sao? Rồi khi nghe tin về những cuộc hành quyết khủng khiếp do Quốc ước ra lệnh, bà lại yên giấc, sung sướng biết rằng báu vật duy nhất của mình đang an toàn, xa mọi hiểm nguy, xa mọi máy chém. Bà vui lòng tin rằng mình đã chọn con đường đúng nhất để cứu được cùng lúc mọi thứ của cải của mình. Nhân nhượng với ý nghĩ thầm kín ấy đúng mức mà thời buổi khốn khó đòi hỏi, nhưng không làm tổn hại tới phẩm giá đàn bà hay niềm tin quý tộc của mình, bà gói kín nỗi đau trong một vẻ bí ẩn lạnh lùng. Bà đã hiểu những khó khăn đang chờ mình ở Ca-răng-tăng. Tới đây chiếm vị trí số một, chẳng phải là ngày ngày thách thức máy chém sao? Nhưng được lòng can đảm của người mẹ nâng đỡ, bà đã biết cách chiếm được cảm tình của người nghèo bằng cách giúp đỡ mọi cảnh khốn khó không phân biệt, và trở nên cần thiết với người giàu bằng cách lo cho họ vui chơi. Bà tiếp ông biện lý của xã, ông thị trưởng, ông chủ tịch huyện, ông công tố viên, và cả các thẩm phán của toà án cách mạng. Bốn người đầu, chưa vợ, đều tán tỉnh bà mong được cưới bà, hoặc bằng cách doạ bà bằng những điều tệ hại họ có thể gây ra, hoặc bằng cách hứa che chở cho bà. Ông công tố viên, trước kia là luật sư ở thành Căng, từng lo việc kiện tụng cho bà bá tước, cố làm bà yêu mình bằng một cách cư xử đầy tận tuỵ và hào phóng. Một mưu mẹo nguy hiểm! Ông ta là kẻ đáng sợ nhất trong số những người theo đuổi bà. Chỉ mình ông ta biết tường tận gia sản lớn của thân chủ cũ. Lòng say mê của ông ta hẳn còn được thổi bùng bởi mọi thèm khát của một lòng tham dựa trên một quyền lực khổng lồ, quyền sinh quyền sát trong cả huyện. Người đàn ông này, còn trẻ, cư xử cao thượng tới mức bà Đê chưa thể đánh giá được ông ta. Nhưng coi thường mối nguy khi đấu trí với dân Noóc-măng, bà dùng óc sáng tạo và sự khôn khéo mà tạo hoá ban cho đàn bà để đẩy những kẻ tình địch ấy chống lại nhau. Kéo dài thời gian, bà hy vọng sẽ bình an vô sự cho tới khi hết thời loạn lạc. Hồi ấy, phe bảo hoàng trong nước ngày nào cũng tin rằng ngày mai Cách mạng sẽ chấm dứt, và niềm tin ấy đã làm hại không ít người trong số họ.

Bất chấp những trở ngại ấy, bà bá tước vẫn khá khéo léo giữ được sự độc lập của mình, cho tới cái ngày mà, vì một sự khinh suất không thể cắt nghĩa, bà lại nghĩ ra chuyện đóng cửa không tiếp khách. Bà gợi được một sự quan tâm sâu sắc và chân thành tới mức những người tới nhà bà tối hôm ấy rất lo lắng khi biết bà không thể tiếp họ. Rồi, với nỗi tò mò thẳng thắn vốn in đậm trong nếp sống tỉnh lẻ, họ hỏi han xem bà Đê gặp tai hoạ gì, buồn phiền gì, hay ốm đau gì. Trước những câu hỏi ấy, một bà quản gia già tên là Bri-gít đáp rằng bà chủ đã đóng cửa phòng, không muốn gặp ai, kể cả người trong nhà. Cuộc sống gần như khép kín như nhà tu của dân một thị trấn nhỏ tạo cho họ một thói quen phân tích và cắt nghĩa hành động của người khác, mạnh tới mức không cưỡng nổi. Nên sau khi đã thương hại bà Đê, mà chẳng biết bà đang thật sự vui hay buồn, ai nấy bắt đầu đi tìm nguyên do cho việc bà bỗng dưng lánh mặt.

— Nếu bà ấy ốm, người tò mò thứ nhất nói, thì bà ấy đã cho mời thầy thuốc. Nhưng ông bác sĩ ngồi đánh cờ ở nhà tôi suốt cả ngày! Ông ấy còn cười bảo tôi rằng, thời buổi này chỉ có mỗi một bệnh thôi... mà khổ nỗi lại là bệnh không chữa được.

Câu đùa ấy được buông ra một cách dè dặt. Đàn bà, đàn ông, người già và thiếu nữ liền bắt đầu dạo khắp cánh đồng mênh mông của những phỏng đoán. Ai cũng tưởng mình lờ mờ thấy một bí mật, và bí mật ấy choán hết trí tưởng tượng của mọi người. Hôm sau, mối ngờ vực càng thêm độc địa. Vì ở thị trấn nhỏ, đời sống lúc nào cũng phơi ra trước mắt mọi người, nên đám đàn bà là những người đầu tiên biết rằng Bri-gít đã mua ở chợ nhiều thực phẩm hơn thường lệ. Chuyện ấy không thể chối cãi. Người ta đã thấy Bri-gít ở quảng trường từ sáng sớm, và, chuyện lạ thường, bà đã mua con thỏ rừng duy nhất có ở chợ. Cả thị trấn đều biết bà Đê không thích thịt thú săn. Con thỏ rừng trở thành điểm xuất phát cho vô số giả thuyết. Trong cuộc dạo chơi hằng ngày, các ông già để ý thấy trong nhà bà bá tước có một thứ bận rộn kín đáo, lộ ra chính qua những cách người trong nhà cố che giấu nó. Người hầu phòng đập một tấm thảm ngoài vườn. Hôm trước thì chẳng ai để ý, nhưng giờ tấm thảm ấy trở thành một bằng chứng cho những cuốn tiểu thuyết mà ai nấy đang dựng lên. Mỗi người có một cuốn của riêng mình. Ngày thứ hai, nghe tin bà Đê bảo mình không khoẻ, những nhân vật quan trọng của Ca-răng-tăng họp nhau buổi tối ở nhà anh trai ông thị trưởng, một thương gia già đã có vợ, người ngay thẳng, được mọi người quý trọng, và được bà bá tước hết sức nể vì. Ở đó, mọi kẻ mong được cưới bà quả phụ giàu có đều kể ra một câu chuyện ít nhiều khả tín, và ai cũng tính cách xoay cái tình huống bí mật buộc bà phải liều lĩnh như vậy thành có lợi cho mình. Ông công tố viên tưởng tượng ra cả một tấn kịch để đưa con trai bà Đê về nhà bà ban đêm. Ông thị trưởng tin rằng có một linh mục không tuyên thệ từ miền Văng-đê tới xin bà cho trú ẩn, nhưng chuyện mua con thỏ rừng vào ngày thứ Sáu, ngày kiêng thịt, khiến ông rất bối rối. Ông chủ tịch huyện thì quả quyết đó là một thủ lĩnh quân Su-ăng hay quân Văng-đê đang bị truy đuổi gắt gao. Những người khác lại cho là một nhà quý tộc vượt ngục từ Pa-ri. Tóm lại, ai cũng ngờ rằng bà bá tước đã phạm vào một trong những việc làm hào hiệp mà luật pháp thời ấy gọi là tội ác, và có thể đưa người ta lên máy chém. Vả lại ông công tố viên còn hạ giọng bảo rằng mọi người nên im lặng, và cố cứu người đàn bà bất hạnh khỏi cái vực thẳm mà bà đang bước nhanh tới.

— Nếu các vị làm to chuyện này, ông ta nói thêm, tôi sẽ buộc phải can thiệp, phải khám xét nhà bà ấy, và khi đó thì!...

Ông ta không nói hết câu, nhưng ai cũng hiểu cái ý bỏ lửng ấy.

Những người bạn chân thành của bà bá tước lo cho bà tới nỗi sáng ngày thứ ba, ông biện lý của xã bảo vợ viết cho bà một mảnh giấy, khuyên bà tối hôm ấy tiếp khách như thường lệ. Bạo dạn hơn, ông thương gia già tới nhà bà Đê ngay buổi sáng. Cậy vào việc tốt mình muốn làm cho bà, ông đòi được đưa vào gặp bà, và sững sờ khi thấy bà đang ở ngoài vườn, cắt những bông hoa cuối cùng trên các luống để cắm vào bình.

"Hẳn bà ấy đã cho người tình trú ẩn," ông già nghĩ, lòng thương hại người đàn bà duyên dáng.

Vẻ mặt khác lạ của bà bá tước càng khiến ông tin vào mối nghi của mình. Rất xúc động trước sự hy sinh vốn rất tự nhiên ở đàn bà, nhưng bao giờ cũng làm chúng ta cảm động, vì đàn ông nào cũng thấy hãnh diện trước những hy sinh mà một người đàn bà dành cho một người đàn ông, ông thương gia kể cho bà bá tước nghe những lời đồn đại trong thị trấn và mối nguy bà đang gặp.

— Bởi vì, ông nói để kết thúc, nếu trong số các quan chức của chúng ta có vài người sẵn lòng bỏ qua cho bà một hành động anh hùng vì một vị linh mục, thì sẽ chẳng ai thương bà nếu người ta phát hiện ra bà hy sinh mình vì chuyện tình cảm.

Nghe những lời ấy, bà Đê nhìn ông già với một vẻ thất thần, điên loạn, khiến chính ông, một ông già, cũng phải rùng mình.

— Ông lại đây, bà nói, nắm tay ông dẫn vào phòng mình. Tới đó, sau khi chắc chắn chỉ có hai người, bà rút từ trong ngực áo ra một lá thư bẩn thỉu, nhàu nát.

— Ông đọc đi, bà kêu lên, phải gắng sức lắm mới nói được tiếng ấy.

Bà ngã xuống ghế bành như kiệt sức. Trong lúc ông thương gia già tìm kính và lau kính, bà ngước mắt nhìn ông, lần đầu tiên ngắm ông một cách tò mò. Rồi, bằng giọng lạc đi, bà dịu dàng nói:

— Tôi tin ông.

— Chẳng phải tôi tới đây để cùng chịu tội với bà sao, ông lão chất phác đáp.

Bà giật mình. Lần đầu tiên, ở cái thị trấn nhỏ này, tâm hồn bà đồng cảm với tâm hồn một người khác. Ông thương gia già bỗng hiểu ra cả nỗi suy sụp lẫn niềm vui của bà bá tước. Con trai bà đã tham gia cuộc đánh chiếm Gơ-răng-vin. Chàng viết thư cho mẹ từ trong nhà tù, gửi cho bà một niềm hy vọng vừa buồn vừa ngọt ngào. Không nghi ngờ gì về cách vượt ngục của mình, chàng báo cho mẹ ba ngày mà chàng sẽ cải trang tìm về nhà. Lá thư định mệnh có cả những lời vĩnh biệt xé lòng, phòng khi tối ngày thứ ba chàng không về tới Ca-răng-tăng. Chàng còn xin mẹ trao một khoản tiền khá lớn cho người liên lạc đã nhận mang lá thư này tới cho bà, vượt qua muôn ngàn hiểm nguy. Tờ giấy run run trong tay ông già.

— Hết chương 1 —

Mục lục Người lính bị gọi nhập ngũ

  1. 1Ba ngày đóng cửa13 phút
  2. 2Đêm thứ baĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHonoré de Balzac (1799 – 1850)
Năm mất1850
Xuất bản lần đầu1831
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Réquisitionnaire, 1831
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →