Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người lính cầm kích ở Lâu Đài Nhỏ

của O. Henry

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 18.344 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Thỉnh thoảng tôi vẫn vào quán bia kiêm nhà…
  2. 2:59Anh ta còn hơn thế nữa, — anh Mười…
  3. 5:28"Anh Mười Tám," anh ta nói, "với tư cách…
  4. 8:47"Tôi đang làm lính cầm kích để kiếm sống,"…
  5. 10:08Thế là đôi mắt cô gái bốn mươi mã…
  6. 11:52Ông già nhìn anh ta dữ dằn, như con…
  7. 13:49"Tôi muốn thằng này bị đuổi việc ngay lập…
  8. 17:19Tôi mà đánh cược thì tôi đặt vào cô…

Thỉnh thoảng tôi vẫn vào quán bia kiêm nhà hàng tên là Mu-ních Cổ. Cách đây chưa lâu, đó còn là chỗ lui tới của những nghệ sĩ phóng túng đáng chú ý, nhưng giờ thì chỉ còn dân hoạ sĩ, nhạc sĩ và giới cầm bút hay tới. Có điều bia Pin-xen ở đây vẫn ngon, và tôi tìm được chút giải trí trong những câu chuyện của Anh Bồi Số Mười Tám.

Bao nhiêu năm nay, khách của Mu-ních Cổ đã chấp nhận nơi này là một bản sao trung thành của thị trấn Đức cổ xưa. Gian sảnh lớn với những xà nhà ám khói, những hàng cốc bia nhập khẩu, bức chân dung đại thi hào Gơ-tê, và những câu thơ vẽ trên tường, dịch sang tiếng Đức từ nguyên tác của mấy nhà thơ ở Xin-xin-na-ti, trông có vẻ đúng không khí lắm khi nhìn qua đáy cốc.

Nhưng cách đây không lâu, chủ quán làm thêm căn phòng phía trên, đặt tên là Lâu Đài Nhỏ Bên Sông Ranh, và xây một cầu thang lên đó. Trên ấy có một bờ tường thành giả đá, phủ dây thường xuân, còn tường thì được vẽ cho có chiều sâu và khoảng xa, với sông Ranh uốn lượn dưới chân những sườn đồi trồng nho, và toà thành cổ sừng sững ngay trước lối vào. Dĩ nhiên có bàn ghế, và người ta mang bia và đồ ăn tới cho bạn, như lẽ tự nhiên khi bạn ngồi trên nóc một toà lâu đài bên sông Ranh.

Một buổi chiều vắng khách, tôi vào Mu-ních Cổ, ngồi ở chiếc bàn quen gần cầu thang. Tôi bàng hoàng và gần như phật ý khi thấy tủ kính bày xì-gà cạnh bục dàn nhạc đã bị đập vỡ tan tành. Tôi không thích ở Mu-ních Cổ có chuyện gì xảy ra. Trước nay ở đó chưa từng có chuyện gì.

Anh Bồi Số Mười Tám đi tới, thở phả vào gáy tôi. Tôi là của anh ta theo quyền người phát hiện. Đầu óc anh Mười Tám được xây như một cái chuồng quây gia súc. Nó đầy ý tưởng, và hễ anh mở cổng là chúng chen nhau ùa ra như đàn cừu, sau đó có thể tụ lại hoặc không. Tôi chẳng phải người chăn cừu giỏi. Nói về loại người thì anh Mười Tám chẳng khớp với loại nào. Tôi không tìm ra anh có quốc tịch, gia đình, tín ngưỡng, nỗi bất bình, thú chơi, linh hồn, sở thích, nhà cửa hay lá phiếu nào không. Anh chỉ luôn tới bàn tôi, và chừng nào thời gian rảnh cho phép, lại để lời nói bay ra khỏi miệng như đàn én rời kho thóc lúc rạng đông.

— Sao tủ xì-gà lại vỡ thế, anh Mười Tám? — tôi hỏi, với một cảm giác như bị xúc phạm riêng.

— Chuyện ấy tôi kể ông nghe được, thưa ông, — anh nói, gác chân lên chiếc ghế bên cạnh tôi. — Ông có bao giờ được ai trao cho cả hai vốc tay đầy vận may trong khi hai tay ông đang đầy vận rủi, rồi dừng lại để ý xem mấy ngón tay ông xử sự thế nào không?

— Đừng đố chữ, anh Mười Tám, — tôi nói. — Bỏ chuyện xem chỉ tay với làm móng đi.

— Ông còn nhớ, — anh Mười Tám nói, — cái gã mặc áo khoác dài bằng đồng thau gò, quần bằng vàng giả, đội mũ đồng hợp kim, vác cái món vừa là rìu chặt thịt, vừa là dùi đục đá, vừa là cột cờ, vẫn đứng ở chiếu nghỉ đầu tiên khi ông đi lên Lâu Đài Nhỏ không?

— À, có, — tôi nói. — Người lính cầm kích. Tôi chẳng để ý gì nhiều tới anh ta. Tôi nhớ anh ta tưởng mình chỉ là một bộ áo giáp. Đứng vững không chê vào đâu được.

— Anh ta còn hơn thế nữa, — anh Mười Tám nói. — Anh ta là bạn tôi. Anh ta là một tấm biển quảng cáo. Ông chủ thuê anh ta đứng ở cầu thang làm thứ phông cảnh, cho người ta biết trên lầu đang có trò gì đó thuộc loại đồ cổ. Ông gọi anh ta là gì nhỉ, người lính cầm cái gì cơ?

— Cầm kích, — tôi nói. — Đó là một người lính thời xưa, từ nhiều trăm năm trước.

— Có nhầm lẫn rồi, — anh Mười Tám nói. — Anh này đâu có già thế. Anh ta chưa quá hai mươi ba hai mươi bốn.

Mặc cho một người bộ đồ sắt tây thời tiền chiến rồi bắt đứng ở chiếu nghỉ của lâu đài là ý của ông chủ. Ông mua bộ đồ ở một hiệu đồ cổ trên đại lộ Bốn, rồi treo biển ra ngoài: "Cần người lính cầm kích khoẻ mạnh. Có cấp trang phục."

Ngay sáng hôm ấy một chàng trai mặc bộ quần áo tốt đã tả tơi, mặt đói meo, bước vào, tay cầm theo tấm biển. Lúc ấy tôi đang đổ mù tạt vào mấy cái lọ ở chỗ tôi phụ trách.

"Tôi chính là nó đây," anh ta nói, "dù nó là cái gì đi nữa. Có điều tôi chưa bao giờ cầm kích trong nhà hàng. Cho tôi làm đi. Có phải tiệc hoá trang không?"

"Tiệc hoá trang thì tôi không biết," tôi nói, "chứ tiệc chả cá viên thì dưới bếp đang làm đấy."

"Hay lắm, anh Mười Tám," anh ta nói. "Tôi với anh sẽ hợp nhau đấy. Chỉ cho tôi bàn ông chủ đi."

Thế là ông chủ cho anh ta thử bộ đồ ngủ sắt ấy, vừa khít như vảy trên mình con cá hồng nướng, và anh ta được nhận. Ông thấy công việc ấy rồi đấy, anh ta đứng thẳng đơ ở góc chiếu nghỉ đầu tiên, kích vác trên vai, mắt nhìn thẳng phía trước, canh giữ cổng lâu đài. Ông chủ mê cái chuyện cho quán mình có hương vị Cựu Thế giới đích thực lắm. "Lính cầm kích đi với lâu đài sông Ranh," ông bảo, "cũng như chuột đi với hầm rượu, tất trắng đi với làng xứ Ti-rôn." Ông chủ là một thứ nhà khảo cổ, nắm vững đủ thứ dữ liệu với thông tin như thế.

Giờ làm của người lính cầm kích là từ tám giờ tối tới hai giờ sáng. Anh ta được ăn hai bữa với đám người làm bọn tôi, và một đô-la một đêm. Tôi ăn cùng bàn với anh ta. Anh ta mến tôi. Anh ta chẳng bao giờ nói tên. Chắc anh ta đi đây đi đó vi hành, như mấy ông vua. Lần đầu ăn tối, tôi bảo: "Mời ông xơi thêm khoai, ông Phre-linh-huy-xen." "Ồ, đừng khách sáo xa cách thế, anh Mười Tám," anh ta nói. "Cứ gọi tôi là Kích, viết tắt của người lính cầm kích." "Ồ, đừng nghĩ tôi định moi tên anh nhé," tôi nói. "Tôi biết hết chuyện rơi tõm từ giàu sang danh vọng xuống rồi. Dưới bếp có một ông bá tước rửa bát, còn anh pha rượu thứ ba từng là trưởng toa tàu nằm hạng sang. Mà họ làm việc đấy, thưa ngài hiệp sĩ," tôi nói, mỉa mai.

"Anh Mười Tám," anh ta nói, "với tư cách một con quỷ thân thiện trong cái địa ngục sặc mùi bắp cải này, anh có phiền cắt giùm tôi miếng bít-tết này không? Tôi không nói là nó nhiều gân hơn tôi, nhưng mà..." Rồi anh ta chìa lòng bàn tay cho tôi xem. Chúng phồng rộp, rách toác, chai sần, sưng vù, trông như hai miếng thịt sườn bò bị dao rạch chéo, cái loại mấy ông bán thịt giấu đi mang về nhà vì biết là ngon nhất.

"Xúc than," anh ta nói, "chất gạch, bốc hàng lên xe. Nhưng chúng hỏng mất, tôi đành phải từ chức. Tôi sinh ra để làm lính cầm kích, đã được giáo dục suốt hai mươi bốn năm cho chức vụ này. Giờ thì thôi chê bai nghề của tôi đi, chuyền cho tôi thêm thật nhiều giăm bông vào. Tôi đang làm lễ bế mạc," anh ta nói, "cho một đợt nhịn đói bốn mươi tám tiếng."

Tối thứ hai đi làm, anh ta rời góc của mình đi xuống tủ xì-gà gọi mua thuốc lá. Khách ở các bàn cười khúc khích thành tiếng để tỏ ra mình thông thạo lịch sử. Ông chủ hiểu ngay.

"Đó là, để xem nào, à phải, một sự sai niên đại," ông chủ nói. "Thời người ta đặt ra lính cầm kích thì chưa có thuốc lá cuốn."

"Thứ ông bán thì có đấy," ngài hiệp sĩ nói. "Thuốc lá thắng niên đại một khoảng dài bằng cái đầu lọc." Thế là anh ta mua, châm một điếu, bỏ bao thuốc vào chiếc mũ đồng, rồi quay về tuần tra lâu đài.

Anh ta được ưa chuộng lắm, nhất là với các bà các cô. Có cô còn lấy ngón tay chọc chọc vào anh ta xem là người thật hay chỉ là thứ hình nộm nhồi rơm như người ta đốt trong ngày lễ. Hễ anh ta cử động là các cô ré lên, rồi liếc mắt đưa tình với anh khi đi lên lâu đài. Trông anh ta bảnh lắm trong bộ đồ sắt. Anh ta ngủ ở một căn phòng hẹp trên đại lộ Ba, hai đô-la một tuần. Có một đêm anh ta mời tôi lên đó. Trên bàn rửa mặt có một cuốn sách nhỏ anh ta đọc thay vì đi la cà quán rượu sau giờ làm. "Tôi biết cái này rồi," tôi bảo, "đọc trong tiểu thuyết suốt. Anh hùng nào sa cơ cũng mang theo một cuốn sách nhỏ. Nó là thơ cổ La Mã gì đó, in bằng tiếng La-tinh, và anh là dân đại học. Mà tôi chẳng ngạc nhiên," tôi bảo, "nếu anh còn có học nữa." Nhưng hoá ra đó chỉ là bảng thành tích đánh bóng của các đội bóng chày mười năm gần đây.

Một đêm, khoảng mười một giờ rưỡi, có một nhóm dân chơi sang bước vào, cái loại lúc nào cũng săn tìm chỗ ăn mới để giễu cợt. Có một cô gái sang trọng mặc áo khoác đi ô-tô bốn mươi mã lực màu nâu nhạt, đeo mạng, một ông già béo tóc mai trắng, một cậu trai trẻ cứ không giữ nổi chân khỏi giẫm lên vạt áo cô gái, và một bà đứng tuổi coi cuộc đời là thứ trái đạo đức và không cần thiết. "Ăn tối trong lâu đài thì tuyệt vời quá," họ nói. Họ đi lên cầu thang, rồi nửa phút sau cô gái quay xuống, váy sột soạt như sóng vỗ bờ. Cô dừng lại ở chiếu nghỉ, nhìn thẳng vào mắt người lính cầm kích của bọn tôi.

"Anh!" cô nói, với một nụ cười làm tôi nhớ tới kem chanh. Lúc ấy tôi đang phục vụ trên lâu đài, đứng ngay chỗ cửa này, đang đổ giấm với ớt bột vào một chai nước sốt cay đã hết, nên tôi nghe hết họ nói gì.

"Chỉ là đồ vật thôi," ngài hiệp sĩ nói, không nhúc nhích. "Tôi chỉ là màu sắc địa phương. Áo giáp, mũ trụ với cây kích của tôi có ngay ngắn không?"

"Chuyện này có lời giải thích nào không?" cô nói. "Có phải là một trò đùa như đám đàn ông các anh vẫn bày ra ở mấy câu lạc bộ kia không? Em e là em không hiểu nổi cái hay. Em nghe loáng thoáng là anh đi xa. Ba tháng nay em, à, bọn em không gặp anh, không nghe tin gì về anh."

"Tôi đang làm lính cầm kích để kiếm sống," pho tượng nói. "Tôi đang làm việc," anh ta nói. "Tôi đoán cô không biết làm việc nghĩa là gì."

"Anh, anh mất hết tiền rồi à?" cô hỏi.

Ngài hiệp sĩ ngẫm nghĩ một phút.

"Tôi nghèo hơn," anh ta nói, "cả gã đeo biển quảng cáo nghèo nhất ngoài phố, nếu tôi không tự kiếm sống."

"Anh gọi cái này là làm việc à?" cô nói. "Em cứ tưởng đàn ông làm việc bằng tay hay bằng đầu, chứ đâu phải thành gã làm trò hề."

"Nghề lính cầm kích," anh ta nói, "là một nghề cổ xưa và đáng trọng. Đôi khi," anh ta nói, "người lính canh ở cổng đã cứu cả lâu đài trong khi các hiệp sĩ cài lông chim đang nhảy múa trong phòng tiệc trên lầu."

"Em thấy anh chẳng xấu hổ gì về cái sở thích kỳ quặc của anh," cô nói. "Nhưng em ngạc nhiên là cái khí phách đàn ông mà em từng tưởng thấy ở anh lại không thúc anh đi gánh nước hay bổ củi, thay vì phô bày nỗi nhục nhã của mình giữa thiên hạ trong trò hoá trang đáng hổ thẹn này."

Ngài hiệp sĩ làm bộ giáp kêu loảng xoảng, rồi nói: "Hê-len, em có thể hoãn tuyên án chuyện này một thời gian ngắn thôi được không? Em không hiểu đâu," anh ta nói. "Anh phải giữ được việc này thêm một chút nữa."

"Anh thích làm thằng hề, hay làm lính cầm kích như anh gọi, sao?" cô nói.

"Lúc này thì," anh ta nói, cười toe, "có ai bổ nhiệm anh làm đại sứ ở triều đình nước Anh, anh cũng không chịu để bị đuổi khỏi việc này."

Thế là đôi mắt cô gái bốn mươi mã lực lấp lánh rắn như kim cương.

"Được lắm," cô nói. "Đêm nay anh sẽ được tha hồ thoả mãn cái sở thích làm đầy tớ của anh."

Rồi cô lướt tới bàn ông chủ, trao cho ông một nụ cười làm rơi cả kính khỏi mũi ông.

"Tôi thấy lâu đài của ông," cô nói, "đẹp như một giấc mơ. Đó là một lát nhỏ của Cựu Thế giới đặt giữa New York. Bọn tôi sẽ ăn một bữa tối thật ngon trên đó, nhưng nếu ông cho bọn tôi một đặc ân thì ảo ảnh sẽ hoàn hảo. Ông cho người lính cầm kích của ông phục vụ bàn bọn tôi đi."

Câu ấy đánh trúng ngay thú khảo cổ của ông chủ. "Được chứ," ông nói, giọng lơ lớ, "thế thì hay lắm. Và dàn nhạc sẽ chơi bài Canh giữ sông Ranh suốt buổi." Rồi ông đi tới bảo người lính cầm kích lên lầu lo đồ ăn ở bàn khách sang.

"Tôi đi làm đây," ngài hiệp sĩ nói, tháo mũ treo lên cây kích rồi dựng cả hai trong góc. Cô gái đi lên ngồi vào chỗ, và tôi thấy quai hàm cô bạnh ra cứng ngắc dưới nụ cười. "Chúng ta sẽ được một người lính cầm kích thật phục vụ," cô nói, "một người tự hào về nghề nghiệp của mình. Có dễ thương không chứ?"

"Tuyệt cú," cậu trai sang trọng nói. "Tôi thích bồi bàn hơn," ông già béo nói. "Tôi mong anh ta không phải từ một bảo tàng rẻ tiền nào tới," bà đứng tuổi nói, "trong bộ đồ ấy có khi có vi trùng."

Trước khi tới bàn, ngài hiệp sĩ nắm tay tôi. "Anh Mười Tám," anh ta nói, "tôi phải làm trọn việc này mà không được sai sót gì. Anh chỉ bảo tôi cho đàng hoàng, không thì tôi lấy cây kích kia băm anh ra thành chả." Rồi anh ta đi tới bàn, áo giáp trên người, khăn ăn vắt trên tay, chờ gọi món.

"Ơ, Đia-rinh đây mà!" cậu trai sang trọng nói. "Chào ông bạn. Cái quái gì..."

"Xin lỗi ngài," người lính cầm kích ngắt lời, "tôi đang phục vụ bàn."

Ông già nhìn anh ta dữ dằn, như con chó bun. "Thế ra, Đia-rinh," ông nói, "mày vẫn đang làm việc."

"Vâng, thưa ông," ngài hiệp sĩ nói, lặng lẽ và lịch thiệp y như chính tôi, "đã gần ba tháng rồi ạ." "Trong thời gian đó mày chưa bị đuổi việc lần nào chứ?" ông già hỏi. "Chưa lần nào, thưa ông," anh ta nói, "dù tôi đã phải đổi việc mấy lần."

"Bồi bàn," cô gái ra lệnh, cộc lốc và gay gắt, "một cái khăn ăn nữa." Anh ta mang tới cho cô một cái, kính cẩn.

Nếu được phép nói thế, tôi chưa từng thấy con quỷ nào trong một quý cô bị khuấy lên dữ như thế. Trên má cô có hai đốm đỏ rực, mắt cô trông y hệt mắt con mèo rừng tôi từng thấy ở sở thú. Chân cô cứ gõ đều xuống sàn.

"Bồi bàn," cô ra lệnh, "mang cho tôi nước lọc không đá. Mang cho tôi cái ghế kê chân. Dọn cái lọ muối rỗng này đi." Cô bắt anh ta chạy tới chạy lui. Đúng là cô đang cho người lính cầm kích nếm đủ.

Lúc ấy trên lâu đài chỉ có dăm người khách, nên tôi đứng gần cửa để giúp ngài hiệp sĩ phục vụ.

Món ô-liu, cần tây với hàu thì anh ta làm trót lọt. Những món ấy dễ. Rồi món súp trong được đưa lên bằng thang tải đồ, trong một chiếc liễn bạc to. Đáng lẽ phải múc từ bàn phụ, anh ta lại bê cả liễn bằng hai tay đi về phía bàn ăn. Gần tới nơi thì anh ta đánh rơi liễn xuống sàn đánh xoảng, súp thấm ướt cả phần dưới chiếc váy lụa sang trọng của cô gái.

"Đồ ngu, đồ bất tài," cô nói, ném cho anh ta một cái nhìn. "Hình như đứng một góc với cây kích mới là sứ mệnh đời anh."

"Xin cô thứ lỗi," anh ta nói. "Nó nóng hơn lửa một chút. Tôi không đừng được."

Ông già rút ra một cuốn sổ tay, giở tìm. "Ngày hai mươi lăm tháng Tư, Đia-rinh," ông nói. "Tôi biết ạ," ngài hiệp sĩ nói. "Và mười hai giờ kém mười," ông già nói. "Trời đất! Mày vẫn chưa thắng đâu." Rồi ông đấm tay xuống bàn, quát tôi: "Bồi bàn, gọi ngay quản lý tới đây, bảo ông ta tới nhanh hết mức." Tôi đi gọi ông chủ, và lão Brốc-man chạy vội lên lâu đài.

"Tôi muốn thằng này bị đuổi việc ngay lập tức," lão già gầm lên. "Xem nó làm gì đây này. Làm hỏng váy của con gái tôi. Ít ra cũng sáu trăm đô-la. Đuổi ngay thằng vụng về này, không thì tôi kiện ông đòi tiền."

"Thế này thì làm ăn tệ quá," ông chủ nói. "Sáu trăm đô-la là nhiều. Tôi đoán tôi phải..."

"Khoan một phút, ông Brốc-man," ngài hiệp sĩ nói, thản nhiên và tươi cười. Nhưng bên dưới bộ đồ sắt anh ta đang sôi sục, tôi thấy được. Rồi anh ta đọc một bài diễn văn ngắn hay nhất, gọn gàng nhất mà tôi từng được nghe. Dĩ nhiên tôi không kể lại được nguyên văn. Anh ta mỉa mai giễu cợt mấy nhà triệu phú một trận ra trò, tả ô-tô của họ, lô ghế xem hát của họ, kim cương của họ, rồi quay sang nói về giới lao động, thứ đồ ăn họ ăn, giờ làm dài dằng dặc của họ, và đủ thứ như thế, toàn chuyện tào lao, dĩ nhiên. "Những kẻ giàu bồn chồn," anh ta nói, "chẳng bao giờ thoả mãn với xa hoa của mình, lúc nào cũng lượn lờ quanh chốn của người nghèo và người hèn mọn, mua vui bằng những khiếm khuyết và bất hạnh của đồng loại. Và ngay cả ở đây, thưa ông Brốc-man," anh ta nói, "trong toà lâu đài tuyệt đẹp này, một bản tái hiện vĩ đại và khai sáng về lịch sử và kiến trúc Cựu Thế giới, họ cũng tới phá hỏng sự cân đối và vẻ đẹp như tranh của nó, khi ngạo mạn đòi người lính canh lâu đài phải phục vụ bàn của họ! Tôi đã trung thành và tận tâm," anh ta nói, "làm tròn bổn phận một người lính cầm kích. Tôi chẳng biết gì về bổn phận của bồi bàn. Chính ý thích xấc xược của đám quý tộc được nuông chiều, chỉ ghé qua chốc lát này, đã bắt tôi phải hầu họ ăn. Tôi có đáng bị trách không, tôi có đáng bị tước kế sinh nhai không," anh ta nói tiếp, "vì một tai nạn là hậu quả của chính sự hợm hĩnh và kiêu căng của họ? Nhưng điều làm tôi đau lòng hơn hết," ngài hiệp sĩ nói, "là sự báng bổ đã gây ra cho toà lâu đài lộng lẫy này, là việc trưng dụng người lính canh của nó đi hầu hạ hèn mọn bên bàn tiệc."

Đến tôi cũng thấy mớ ấy là chuyện tầm phào, nhưng nó lại đánh trúng ông chủ.

"Lạy Chúa," ông nói, "anh nói đúng. Người lính cầm kích không có quyền múc súp. Tôi sẽ không đuổi anh ta. Các vị muốn thì lấy bồi bàn khác, còn để người lính cầm kích của tôi quay về đứng với cây kích của anh ta. Còn các quý ông," ông nói, chỉ vào ông già, "cứ việc kiện vì cái váy. Kiện tôi sáu trăm hay sáu nghìn đô-la cũng được. Tôi chịu kiện." Rồi ông chủ phì phò đi xuống lầu. Lão Brốc-man là một ông người Đức tử tế.

Đúng lúc ấy đồng hồ điểm mười hai giờ, và lão già cười vang. "Mày thắng rồi, Đia-rinh," lão nói. "Để tôi giải thích với mọi người," lão nói tiếp. "Cách đây ít lâu, cậu Đia-rinh xin tôi một thứ mà tôi không muốn cho." Tôi nhìn cô gái, cô đỏ bừng như củ cải ngâm giấm. "Tôi bảo cậu ta," lão già nói, "nếu cậu ta tự kiếm sống được ba tháng mà không bị đuổi việc vì bất tài, tôi sẽ cho cậu ta thứ cậu ta muốn. Hình như hạn chót là mười hai giờ đêm nay. Nhưng vụ món súp suýt nữa thì tao tóm được mày rồi đấy, Đia-rinh," ông già nói, đứng dậy nắm lấy tay ngài hiệp sĩ.

Người lính cầm kích hét toáng lên, nhảy cao cả mét.

"Coi chừng hai bàn tay," anh ta nói, rồi giơ chúng lên. Ông chưa từng thấy đôi tay nào như thế, trừ tay một người thợ ở mỏ đá vôi.

"Trời ơi, con!" ông già tóc mai bạc nói. "Con đã làm gì với chúng thế này?"

"Ồ," ngài hiệp sĩ nói, "mấy việc lặt vặt như chở than, đào đá cho tới khi chúng phản lại con. Rồi khi con không cầm nổi cuốc hay roi đánh xe nữa, con đi làm lính cầm kích cho chúng nghỉ ngơi. Mấy liễn súp nóng hình như không phải là phương thuốc xoa dịu cho lắm."

Tôi mà đánh cược thì tôi đặt vào cô gái ấy. Theo kinh nghiệm của tôi, cái loại nóng tính ấy bao giờ cũng ngả về phía ngược lại xa y như thế. Cô lao vòng quanh bàn như cơn lốc, nắm lấy cả hai bàn tay anh ta trong tay mình. "Đôi tay tội nghiệp, đôi tay yêu dấu," cô kêu lên, nước mắt nhỏ xuống chúng, rồi ôm chúng áp chặt vào ngực. Chà, thưa ông, với tất cả phông cảnh lâu đài sông Ranh ấy, y như một vở kịch. Rồi người lính cầm kích ngồi xuống bàn bên cạnh cô gái, còn tôi phục vụ nốt bữa tối. Chuyện chỉ có thế, ngoài việc khi họ ra về thì anh ta cởi bỏ cả cửa hàng sắt thép trên người mà đi theo họ.

Tôi không thích bị lái chệch khỏi câu hỏi ban đầu.

— Nhưng anh chưa kể tôi nghe, anh Mười Tám, — tôi nói, — vì sao tủ xì-gà lại vỡ.

— Ồ, chuyện ấy là tối qua, — anh Mười Tám nói. — Ngài hiệp sĩ với cô gái đi chiếc ô-tô màu kem tới, ăn tối trên lâu đài. Lúc đi lên tôi nghe cô bảo: "Bàn cũ nhé, Bin-li." Tôi phục vụ họ. Giờ bọn tôi có một người lính cầm kích mới, một gã chân vòng kiềng, mặt như mặt cừu. Lúc đi xuống, ngài hiệp sĩ dúi cho gã một tờ mười đô-la. Người lính cầm kích mới đánh rơi cây kích, và nó đổ xuống cái tủ xì-gà. Chuyện là thế đấy.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Halberdier of the Little Rheinschloss, O. Henry, in trong tuyển tập Roads of Destiny
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →