Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một. Tiếng kêu dưới hố băng

Người lính gác · Chương 1/2 · của Nikolai Leskov

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 15.492 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Sự việc mà câu chuyện dưới đây xin trình…
  2. 2:06Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le xưa nay vẫn là người mê…
  3. 3:12Không ai có thể cứu người sắp chết đuối,…
  4. 5:24Ngay đây là cái hố băng Giô-đan… Thế là…
  5. 6:26Vị lão gia tới không đúng lúc này đối…
  6. 7:17Người được cứu lúc ấy vẫn ướt sũng, lạnh…
  7. 9:05Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le lập tức gửi một mẩu thư…
  8. 12:54Trung tá Xvi-nin tuyệt vọng. Ông cho mình cái…

Chương 1: Phần một. Tiếng kêu dưới hố băng

Sự việc mà câu chuyện dưới đây xin trình bày cùng bạn đọc vừa cảm động vừa khủng khiếp, xét theo ý nghĩa của nó đối với nhân vật anh hùng chính của tấn kịch, còn kết cục thì độc đáo tới mức một chuyện tương tự khó lòng xảy ra ở đâu khác ngoài nước Nga.

Đây vừa là một giai thoại cung đình, vừa là một giai thoại lịch sử, phác hoạ khá rõ phong tục và khuynh hướng của một thời kỳ rất đáng tò mò mà lại được ghi chép rất nghèo nàn, là những năm ba mươi của thế kỷ mười chín này.

Trong câu chuyện sắp kể không hề có chút gì bịa đặt.

Mùa đông năm 1839, khoảng lễ Hiển Linh, ở Pê-téc-bua có một đợt tan băng mạnh. Trời ẩm ướt tới mức cứ như mùa xuân đã tới: tuyết tan, ban ngày nước nhỏ giọt từ mái nhà, còn băng trên sông xanh thẫm lại, ngấm nước. Trên sông Nê-va, ngay trước Cung điện Mùa Đông, có những hố băng sâu. Gió thổi ấm, từ phía tây, nhưng rất mạnh: nước từ ngoài biển dồn vào, và đại bác bắn báo động.

Đội canh gác trong cung điện do một đại đội của trung đoàn I-dơ-mai-lốp đảm nhận, chỉ huy là một sĩ quan trẻ học thức xuất sắc, rất có vị thế trong xã hội, Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le, sau này là đại tướng và giám đốc trường học hoàng gia. Ông là người có khuynh hướng gọi là “nhân đạo”, điều mà người ta đã để ý thấy ở ông từ lâu, và nó có hơi làm hại ông trong con mắt cấp trên.

Thật ra Min-le là một sĩ quan chu đáo và đáng tin cậy, mà canh gác cung điện thời ấy cũng chẳng có gì nguy hiểm. Đó là một thời kỳ yên ả, thanh bình nhất. Đội gác cung điện chẳng phải làm gì ngoài đứng gác đúng chỗ. Ấy vậy mà đúng vào phiên gác của đại uý Min-le ở cung điện lại xảy ra một sự việc hết sức bất thường và đáng lo, mà nay chỉ còn ít người trong số những người cùng thời đang sống nốt những ngày cuối đời còn nhớ.

Lúc đầu trong đội gác mọi việc đều tốt: các trạm gác đã phân xong, người đã đứng vào chỗ, mọi thứ hoàn toàn đâu ra đấy. Hoàng đế Ni-cô-lai Páp-lô-vích khoẻ mạnh, buổi tối đi dạo xe, trở về rồi đi nằm. Cung điện cũng ngủ. Một đêm yên tĩnh nhất đã tới. Trong phòng trực, im phăng phắc. Đại uý Min-le lấy kim ghim chiếc khăn tay trắng của mình lên cái lưng ghế bọc da dê cao của chiếc ghế dành cho sĩ quan, cái lưng ghế bao giờ cũng bóng nhẫy mỡ theo truyền thống, rồi ngồi đọc sách cho qua thời gian.

Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le xưa nay vẫn là người mê đọc sách, nên ông không buồn chán, cứ đọc mà không để ý đêm đang trôi. Nhưng bỗng, vào cuối giờ thứ hai sau nửa đêm, một nỗi lo khủng khiếp làm ông giật mình: trước mặt ông hiện ra viên hạ sĩ phụ trách đổi gác, mặt tái nhợt, run sợ, lắp bắp liến thoắng:

— Nguy rồi, thưa quan, nguy rồi!

— Chuyện gì thế?!

— Một tai hoạ khủng khiếp đã xảy ra!

Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le bật dậy trong một nỗi lo khôn tả, mãi mới hỏi ra được đầu đuôi “nguy rồi” và “tai hoạ khủng khiếp” là chuyện gì.

Chuyện như thế này: người lính gác, một binh nhì của trung đoàn I-dơ-mai-lốp tên là Pô-xtơ-ni-cốp, đứng gác bên ngoài ở chỗ ngày nay là cổng Giô-đan, nghe thấy dưới hố băng mà sông Nê-va đã thủng ra trước chỗ ấy có một người đang chìm, đang tuyệt vọng kêu cứu.

Người lính Pô-xtơ-ni-cốp xuất thân là gia nhân nhà chủ, là người rất dễ xúc động và rất nhạy cảm. Anh nghe mãi những tiếng kêu và tiếng rên xa xa của người sắp chết đuối, rồi lặng người đi vì chúng. Anh kinh hoàng nhìn khắp mọi phía của khoảng bờ sông trong tầm mắt, mà như cố ý, cả ở đây lẫn trên sông Nê-va, chẳng thấy một bóng người nào.

Không ai có thể cứu người sắp chết đuối, và nhất định anh ta sẽ chìm…

Thế mà người đang chìm cứ vật lộn rất lâu, rất bền bỉ.

Tưởng như anh ta chỉ còn việc khỏi tốn sức, cứ để mình chìm xuống đáy cho xong, vậy mà không! Những tiếng rên kiệt sức và những tiếng kêu cứu của anh ta lúc thì đứt quãng, lặng đi, lúc lại vang lên, mà mỗi lúc một gần bờ sông trước cung điện hơn. Rõ là người ta còn chưa mất phương hướng, vẫn đang đi đúng đường, thẳng về phía ánh đèn, nhưng tất nhiên rồi anh ta cũng chẳng thoát, vì chính trên con đường ấy, anh ta sẽ rơi vào cái hố băng đục để làm lễ Giô-đan. Ở đó anh ta sẽ chui tọt xuống dưới băng, và hết… Kìa, lại im rồi, rồi một phút sau lại có tiếng nước vỗ, tiếng rên: “Cứu tôi với, cứu tôi với!” Và giờ thì đã gần tới mức nghe được cả tiếng nước bắn lên khi anh ta quẫy đạp…

Người lính Pô-xtơ-ni-cốp bắt đầu nghĩ rằng cứu người ấy dễ vô cùng. Giờ mà chạy xuống mặt băng, thì người đang chìm ở ngay đấy. Ném cho anh ta sợi dây, hay chìa ra cây sào, hay đưa khẩu súng, là anh ta được cứu. Anh ta ở gần tới mức có thể với tay nắm lấy mà lên. Nhưng Pô-xtơ-ni-cốp nhớ cả nhiệm vụ lẫn lời thề. Anh biết mình là lính gác, mà lính gác thì không đời nào, không vì bất cứ lý do gì, được phép rời chòi gác của mình.

Nhưng mặt khác, trái tim của Pô-xtơ-ni-cốp lại rất bướng bỉnh: nó cứ nhức nhối, cứ đập thình thịch, cứ thắt lại… Giá mà moi được nó ra, ném xuống dưới chân mình, vì nó bồn chồn không yên trước những tiếng rên, tiếng gào ấy… Khủng khiếp lắm khi nghe một người khác đang chết mà không giúp người sắp chết ấy, trong khi nói cho đúng ra hoàn toàn có thể giúp, vì cái chòi gác chẳng chạy khỏi chỗ được, mà cũng chẳng có chuyện gì tai hại khác xảy ra. “Hay là chạy xuống, hả?… Chẳng ai thấy đâu… Lạy Chúa, giá mà xong cho rồi! Lại rên nữa kìa…”

Trong nửa giờ đồng hồ chuyện ấy kéo dài, người lính Pô-xtơ-ni-cốp hoàn toàn đau đớn trong lòng, và bắt đầu cảm thấy những “hoài nghi của lý trí”. Mà anh là người lính thông minh và chu đáo, lý trí sáng suốt, hiểu rất rõ rằng bỏ trạm gác là một tội của lính gác mà sau đó sẽ lập tức bị toà án quân sự, rồi bị bắt chạy qua hai hàng lính quất roi, rồi khổ sai, thậm chí có khi “xử bắn”. Nhưng từ phía dòng sông đang dâng nước, tiếng rên lại trôi tới mỗi lúc một gần hơn, và đã nghe tiếng ùng ục, tiếng quẫy đạp tuyệt vọng.

— Chìm… chìm mất!… Cứu tôi, chìm mất rồi!

Ngay đây là cái hố băng Giô-đan… Thế là hết!

Pô-xtơ-ni-cốp lại nhìn quanh khắp mọi phía một hai lần nữa. Không một bóng người, chỉ có những ngọn đèn rung rung trong gió mà le lói, và theo gió, đứt quãng, vọng tới tiếng kêu ấy… có lẽ là tiếng kêu cuối cùng…

Lại một tiếng nước vỗ, lại một tiếng gào đơn điệu, rồi trong nước có tiếng ùng ục.

Người lính gác không chịu nổi nữa, rời bỏ trạm gác của mình.

Pô-xtơ-ni-cốp lao tới bậc lên xuống, tim đập thình thịch chạy xuống mặt băng, rồi xuống làn nước tràn lên của hố băng, và nhanh chóng nhận ra người sắp chết đuối đang quẫy ở đâu, anh chìa cho người ấy báng khẩu súng của mình.

Người sắp chết đuối nắm lấy báng súng, còn Pô-xtơ-ni-cốp kéo đầu lưỡi lê, lôi được người ấy lên bờ.

Người được cứu và người cứu đều ướt sũng, và vì người được cứu đã kiệt sức, run rẩy và cứ ngã quỵ, nên người cứu, tức là người lính Pô-xtơ-ni-cốp, không dám bỏ anh ta lại trên băng, mà dìu lên bờ kè, nhìn quanh xem trao người ấy cho ai. Trong khi mọi chuyện ấy diễn ra, trên bờ kè xuất hiện một chiếc xe trượt, trên xe có một sĩ quan của đội thương binh trong cung thời ấy, sau này đã bị giải tán.

Vị lão gia tới không đúng lúc này đối với Pô-xtơ-ni-cốp, chắc phải là một người tính nết rất nông nổi, lại hơi ngớ ngẩn và khá trơ tráo. Ông ta nhảy xuống xe, bắt đầu hỏi:

— Người nào… những ai thế này?

— Người ta chìm, người ta chết đuối, Pô-xtơ-ni-cốp vừa mở lời.

— Chết đuối là sao? Ai, mày chết đuối à? Sao lại ở chỗ thế này?

Còn người kia chỉ phì phò thở, còn Pô-xtơ-ni-cốp thì đã không còn đó nữa: anh đã khoác súng lên vai, lại về đứng trong chòi gác.

Viên sĩ quan có hiểu ra chuyện gì hay không thì không rõ, nhưng ông ta chẳng tra hỏi gì thêm, mà lập tức kéo người được cứu lên xe trượt của mình, phóng về phố Moóc-xcai-a, tới đồn cảnh sát khu Đô đốc.

Ở đó viên sĩ quan khai với viên cảnh sát trưởng rằng con người ướt sũng mà ông ta đưa tới đã chìm dưới hố băng trước cung điện, và đã được ông ta, quý ngài sĩ quan, cứu sống với sự nguy hiểm cho chính tính mạng mình.

Người được cứu lúc ấy vẫn ướt sũng, lạnh cóng và kiệt sức. Vì sợ hãi và vì những cố gắng khủng khiếp, anh ta đã bất tỉnh, và với anh ta thì ai cứu mình cũng thế cả.

Bên cạnh anh, một y tá cảnh sát còn ngái ngủ đang lo săn sóc, còn ở văn phòng người ta viết biên bản theo lời khai miệng của viên sĩ quan thương binh, và với sự đa nghi vốn có của người làm cảnh sát, họ thắc mắc sao chính ông ta lại từ dưới nước lên mà khô ráo nguyên vẹn như thế. Còn viên sĩ quan, người đang muốn được nhận tấm huy chương theo lệ “vì đã cứu người sắp chết”, giải thích chuyện ấy bằng sự may mắn của hoàn cảnh, nhưng giải thích vụng về và khó tin. Người ta đi đánh thức viên cảnh sát trưởng, sai người đi điều tra.

Trong khi ấy, trong cung điện, quanh chuyện này đã hình thành những dòng chảy khác, nhanh chóng.

Ở phòng gác cung điện, người ta chưa biết gì về tất cả những diễn biến vừa kể sau khi viên sĩ quan nhận người được cứu lên xe của mình. Ở đó viên sĩ quan và lính I-dơ-mai-lốp chỉ biết rằng người lính của họ, Pô-xtơ-ni-cốp, đã bỏ chòi gác lao xuống cứu người, và vì đó là một sự vi phạm lớn bổn phận nhà binh, nên binh nhì Pô-xtơ-ni-cốp giờ đây nhất định sẽ ra toà, chịu đòn gậy, còn tất cả những người chỉ huy, từ đại đội trưởng tới trung đoàn trưởng, sẽ gặp những phiền phức khủng khiếp, không có cách nào cãi lại hay thanh minh được.

Người lính Pô-xtơ-ni-cốp ướt sũng, run rẩy, dĩ nhiên lập tức bị thay khỏi trạm gác, và được đưa tới phòng gác, anh thật thà kể lại với Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le tất cả những gì chúng ta đã biết, với đủ mọi chi tiết, tới tận lúc viên sĩ quan thương binh đặt người chết đuối được cứu lên xe mình, bảo người xà ích phóng về khu Đô đốc.

Mối nguy càng lúc càng lớn, càng không tránh được. Tất nhiên viên sĩ quan thương binh sẽ kể hết với viên cảnh sát trưởng, còn viên cảnh sát trưởng sẽ lập tức trình lên tướng tổng trưởng cảnh sát Cô-cốt-kin, rồi Cô-cốt-kin sẽ tâu lên hoàng đế vào buổi sáng, và “cơn sốt” sẽ nổ ra.

Chẳng có thời gian bàn bạc lâu, phải gọi cấp trên vào cuộc.

Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le lập tức gửi một mẩu thư khẩn cho chỉ huy tiểu đoàn của mình là trung tá Xvi-nin, xin ông tới phòng gác cung điện càng nhanh càng tốt và tìm mọi cách giúp gỡ cái tai hoạ khủng khiếp vừa xảy ra.

Lúc ấy đã gần ba giờ sáng, còn Cô-cốt-kin thì vào tâu lên hoàng đế khá sớm, nên cho mọi suy tính và mọi hành động chỉ còn rất ít thời gian.

Trung tá Xvi-nin không có lòng trắc ẩn và sự mềm mỏng vốn luôn là nét riêng của Ni-cô-lai I-va-nô-vích Min-le. Xvi-nin không phải người vô tâm, nhưng trước hết và trên hết là một “người của công vụ”, một kiểu người mà ngày nay người ta lại tiếc nuối nhắc tới. Xvi-nin nổi tiếng nghiêm khắc, thậm chí thích phô trương sự đòi hỏi về kỷ luật. Ông không có thú vui làm điều ác, không tìm cách gây cho ai đau khổ vô ích. Nhưng nếu một người đã vi phạm bất cứ bổn phận gì của công vụ, thì Xvi-nin không khoan nhượng. Ông cho rằng không nên xét tới những động cơ đã thúc đẩy kẻ có lỗi trong trường hợp ấy, mà giữ nguyên tắc rằng trong công vụ, lỗi nào cũng là lỗi. Vì thế trong đại đội gác ai cũng biết binh nhì Pô-xtơ-ni-cốp phải chịu gì vì đã bỏ trạm, thì anh ta sẽ chịu đủ, và Xvi-nin sẽ chẳng buồn phiền vì thế.

Cấp trên và đồng liêu đều biết viên sĩ quan tham mưu này như thế, trong số đó có những người không ưa Xvi-nin, vì khi ấy “chủ nghĩa nhân đạo” và những lầm lạc tương tự vẫn chưa tuyệt hẳn. Xvi-nin dửng dưng trước chuyện những người “nhân đạo” chê hay khen mình. Van nài Xvi-nin, hay thậm chí thử làm ông mủi lòng, đều hoàn toàn vô ích. Ông đã được tôi luyện chống lại mọi thứ ấy bằng cái cứng rắn của những người chỉ lo tiến thân thời ấy. Nhưng cũng như A-sin trong thần thoại, ông cũng có một gót chân yếu.

Xvi-nin cũng có một con đường hoạn lộ khởi đầu tốt đẹp, mà ông dĩ nhiên giữ gìn cẩn thận, quý trọng sao cho trên đó, như trên bộ lễ phục, không một hạt bụi nào được bám vào. Thế mà hành vi không may của một người trong tiểu đoàn giao cho ông nhất định sẽ hắt một cái bóng xấu lên kỷ luật của cả đơn vị ông. Chỉ huy tiểu đoàn có lỗi hay không có lỗi trong việc một người của ông đã làm, dưới tác động của một lòng trắc ẩn cao quý nhất, thì những người nắm trong tay con đường hoạn lộ đang khởi đầu tốt đẹp và được giữ gìn cẩn thận của Xvi-nin sẽ chẳng thèm xét. Mà nhiều người còn sẵn lòng lăn khúc gỗ vào chân ông, để mở đường cho người thân của họ hay đẩy lên một chàng trai được người có thế lực che chở, phòng khi hoàng đế, tất nhiên, nổi giận và nhất định sẽ nói với trung đoàn trưởng rằng ông ta có “những sĩ quan yếu”, rằng người của họ “vô kỷ luật”. Mà ai gây ra chuyện ấy? Xvi-nin. Thế là người ta sẽ cứ nhắc đi nhắc lại rằng “Xvi-nin yếu”, và có khi lời chê là yếu ấy sẽ mãi là vết nhơ không gột được trên danh tiếng của ông, của Xvi-nin. Khi ấy ông sẽ chẳng thành một người đáng chú ý gì trong số những người cùng thời, và chẳng để lại chân dung của mình trong phòng tranh những nhân vật lịch sử của nhà nước Nga.

Hồi ấy tuy người ta ít nghiên cứu lịch sử, nhưng vẫn tin vào nó, và đặc biệt hăng hái muốn tự mình tham gia viết nên nó.

Vừa nhận được lúc gần ba giờ sáng mẩu thư báo động của đại uý Min-le, Xvi-nin lập tức nhảy khỏi giường, mặc quân phục chỉnh tề, và trong cơn sợ hãi lẫn giận dữ, tới phòng gác Cung điện Mùa Đông. Ở đây ông lập tức thẩm vấn binh nhì Pô-xtơ-ni-cốp và tin chắc rằng sự việc khó tin đã thật sự xảy ra. Binh nhì Pô-xtơ-ni-cốp lại hoàn toàn thật thà xác nhận với chỉ huy tiểu đoàn mình đúng tất cả những gì đã xảy ra trong phiên gác của anh, và những gì anh, Pô-xtơ-ni-cốp, đã khai trước đó với đại đội trưởng Min-le. Người lính nói rằng anh “có tội với Chúa và hoàng thượng, không đáng được thương xót”, rằng anh đang đứng gác, nghe tiếng rên của một người chìm dưới hố băng, anh đã dằn vặt rất lâu, đấu tranh rất lâu giữa bổn phận công vụ và lòng trắc ẩn, và cuối cùng sự cám dỗ đã tấn công anh, anh không chịu nổi cuộc đấu tranh ấy: anh bỏ chòi gác, nhảy xuống băng, kéo người đang chìm lên bờ, và ở đó, như tội lỗi xui khiến, lại gặp đúng viên sĩ quan đội thương binh trong cung đang đi ngang qua.

Trung tá Xvi-nin tuyệt vọng. Ông cho mình cái hả giận duy nhất có thể: trút cơn giận lên Pô-xtơ-ni-cốp, lập tức tống anh từ đây vào xà lim trại lính, rồi nói vài lời châm chích với Min-le, trách ông cái thói “nhân đạo” chẳng dùng được việc gì trong quân ngũ. Nhưng tất cả những điều ấy không đủ để cứu vãn sự việc. Tìm lời biện hộ, hay chí ít là lời bào chữa, cho một hành vi như lính gác bỏ trạm gác, là điều không thể, và chỉ còn một lối thoát: giấu kín cả chuyện này với hoàng đế…

Nhưng liệu có giấu được một sự việc như thế không?

Có vẻ như không thể nào, vì chuyện cứu người sắp chết chẳng những tất cả lính gác đều biết, mà cả cái gã sĩ quan thương binh đáng ghét kia cũng biết, và hẳn tới giờ ông ta đã kịp trình hết lên tướng Cô-cốt-kin.

Giờ phóng đi đâu? Lao tới ai? Tìm ai giúp đỡ, che chở?

Xvi-nin muốn phóng tới đại công tước Mi-kha-in Páp-lô-vích mà kể hết với ông một cách thật thà. Những nước đi như thế hồi ấy vẫn thường dùng. Cứ để đại công tước, vốn tính nóng nảy, nổi giận mà quát tháo. Nhưng tính nết và thói quen của ngài là, lần đầu ngài càng gay gắt, thậm chí xúc phạm nặng nề bao nhiêu, thì sau đó ngài càng nhanh chóng nguôi giận và chính ngài lại đứng ra bênh vực. Những chuyện như thế đã có không ít, và đôi khi người ta còn cố tình tìm tới. “Chửi thì chửi, chẳng treo lên cổ được”, và Xvi-nin rất muốn đưa sự việc về tình thế thuận lợi ấy. Nhưng làm sao lại có thể giữa đêm vào được cung mà quấy rầy đại công tước? Còn chờ tới sáng mới tới gặp Mi-kha-in Páp-lô-vích, sau khi Cô-cốt-kin đã vào tâu hoàng đế, thì đã quá muộn. Và trong lúc Xvi-nin đang bồn chồn giữa những khó khăn ấy, ông mềm đi, và trí óc ông bắt đầu nhìn ra thêm một lối thoát nữa, mà tới giờ vẫn ẩn trong sương mù.

— Hết chương 1 —

Mục lục Người lính gác

  1. 1Phần một. Tiếng kêu dưới hố băng14 phút
  2. 2Phần hai. Một tấm huy chương và hai trăm roiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNikolai Leskov (1831 – 1895)
Năm mất1895
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Человек на часах, 1887; bản Toàn tập 1902–1903
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →