Chương 1: Phần một
Có một thời, khi tiếng xấu của tôi trong mắt một phần bạn đọc đã lên tới tột đỉnh vinh quang, và tên tôi đã thành vầng thái dương ở giữa các tờ báo, để rồi bị cả một vòng xoay chửi bới không ngừng bám theo khắp không gian, tôi thấy cần phải lui về một nơi yên tĩnh nào đó, cố quên đi sự có mặt của chính mình.
Tôi có một ngôi nhà ở quê, cách Calcutta vài dặm, nơi tôi có thể sống mà không ai biết, không ai quấy rầy. Dân làng ở đó tới giờ vẫn chưa đi tới kết luận nào về tôi. Họ biết tôi không phải loại người về quê nghỉ lễ hay đi tìm thú vui, vì tôi chẳng bao giờ phá sự yên tĩnh của những đêm làng bằng tiếng ồn ào náo nhiệt của thành phố. Họ cũng chẳng coi tôi là người tu khổ hạnh, vì chút ít họ biết về tôi đều phảng phất mùi sung túc. Với họ, tôi cũng không phải khách lữ hành, vì tuy bản tính tôi là kẻ lang thang, những cuộc rong chơi qua cánh đồng làng của tôi chẳng nhằm tới đâu cả. Họ thậm chí còn chẳng chắc tôi đã có vợ hay còn độc thân, vì chưa từng thấy tôi đi cùng con cái. Thế nên, chẳng xếp được tôi vào giới động vật hay thực vật nào họ biết, họ đã bỏ cuộc từ lâu, mặc tôi một mình yên ổn.
Nhưng mới đây tôi được biết trong làng có một người hết sức quan tâm tới tôi. Chúng tôi quen nhau vào một buổi chiều oi bức tháng Bảy. Mưa suốt cả buổi sáng, không khí vẫn còn ướt và nặng sương, như đôi mi vừa khóc xong.
Tôi lười nhác ngồi nhìn một con bò lông lang đang gặm cỏ trên bờ sông cao. Nắng chiều đùa trên bộ da bóng mượt của nó. Vẻ đẹp giản dị của tấm áo bằng ánh sáng ấy khiến tôi vẩn vơ ngạc nhiên vì con người cố tình phí tiền mở hiệu may, để tước của làn da mình tấm áo tự nhiên của nó.
Đang ngồi ngắm và lơ mơ nghĩ ngợi như thế, thì một người đàn bà đứng tuổi tới quỳ sụp trước mặt tôi, trán chạm đất. Trong vạt áo bà có mấy bó hoa, bà chắp tay dâng tôi một bó. Vừa dâng, bà vừa nói:
— Đây là lễ vật dâng lên Thần của con.
Rồi bà đi. Câu nói làm tôi sững sờ tới mức chưa kịp nhìn rõ bà thì bà đã đi mất. Sự việc thật hết sức giản dị, nhưng nó in một dấu sâu đậm trong lòng tôi. Khi tôi quay lại nhìn con bò ngoài bãi, cái sức sống trong con vật đang thở sâu nhai cỏ non, vừa nhai vừa quất đuôi đuổi ruồi, bỗng hiện ra trước mắt tôi đầy bí ẩn. Bạn đọc có thể cười tôi khờ dại, nhưng lòng tôi tràn đầy tôn kính. Tôi dâng lời thờ phụng lên niềm vui trong trẻo của sự sống, chính là sự sống của Thượng đế. Rồi tôi bẻ một ngọn xoài non, tự tay cho con bò ăn, và làm thế, tôi mãn nguyện như vừa làm vui lòng Thần của mình.
Năm sau, khi tôi về làng thì đã là tháng Hai. Mùa lạnh vẫn còn nấn ná. Nắng sớm rọi vào phòng, tôi biết ơn hơi ấm của nó. Tôi đang viết thì người đầy tớ vào báo có một bà tín đồ phái thờ thần Vít-xnu muốn gặp tôi. Tôi lơ đãng bảo dẫn bà lên lầu, rồi cứ viết tiếp. Người mộ đạo bước vào, cúi chào, chạm tay vào chân tôi. Tôi nhận ra bà chính là người đàn bà tôi đã gặp thoáng qua một năm trước.
Giờ tôi mới có dịp nhìn bà kỹ hơn. Bà đã qua cái tuổi người ta còn hỏi xem một người đàn bà đẹp hay không đẹp. Bà cao hơn người thường, vóc dáng chắc khoẻ, nhưng người hơi khom vì lúc nào cũng trong tư thế kính cẩn. Dáng điệu bà không có gì rụt rè. Điều nổi bật nhất ở bà là đôi mắt. Đôi mắt như có một sức xuyên thấu có thể kéo những gì xa xôi lại gần.
Bước vào, bà như dùng đôi mắt to ấy mà đẩy tôi một cái.
Bà hỏi:
— Thế này là sao? Sao Thần lại đưa con tới trước ngai của Thần thế này, hỡi Thần của con? Trước con vẫn thấy Thần giữa những hàng cây, thế tốt hơn nhiều. Đó mới đúng là chỗ để gặp Thần.
Hẳn bà đã thấy tôi đi dạo trong vườn mà tôi không thấy bà. Mấy hôm nay tôi bị cảm lạnh, không ra ngoài được. Tôi đành phải ở trong nhà, chiều chiều chỉ lên sân thượng chào bầu trời. Im lặng một lúc, người mộ đạo nói với tôi:
— Hỡi Thần của con, xin ban cho con mấy lời lành.
Tôi chẳng hề chuẩn bị cho lời xin đột ngột ấy, bèn đáp ngay theo cảm hứng:
— Lời lành thì tôi không cho mà cũng không nhận. Tôi chỉ mở mắt ra và im lặng, thế là tôi vừa nghe vừa thấy được ngay, kể cả khi chẳng có âm thanh nào cất lên. Giờ đây, trong lúc nhìn bà, cũng chẳng khác gì đang nghe giọng bà.
Nghe tôi nói, người mộ đạo xúc động hẳn lên, kêu:
— Thần nói với con không chỉ bằng miệng, mà bằng cả tấm thân của Ngài.
Tôi bảo:
— Khi im lặng, tôi có thể lắng nghe bằng cả tấm thân. Tôi từ Calcutta về đây chính là để nghe cái âm thanh ấy.
Người mộ đạo nói:
— Vâng, con biết thế, nên con mới tới đây ngồi bên Thần.
Trước khi từ biệt, bà lại cúi chào, chạm tay vào chân tôi. Tôi thấy bà không vui, vì chân tôi đi tất. Bà muốn chân tôi để trần.
Sáng sớm hôm sau, tôi ra ngồi trên sân thượng. Phía nam, bên kia hàng cây, tôi thấy cánh đồng trống trải, lạnh lẽo và hoang vắng. Tôi ngắm mặt trời mọc trên ruộng mía phía đông, sau khóm cây cạnh làng. Từ bóng tối dày đặc của những hàng cây sẫm màu ấy, con đường làng bỗng hiện ra. Nó trải dài phía trước, uốn lượn về những ngôi làng xa tít nơi chân trời, cho tới khi mất hút trong màu xám của sương mù.
Sáng hôm ấy khó mà nói được mặt trời đã lên hay chưa. Sương trắng vẫn còn bám trên ngọn cây. Tôi thấy người mộ đạo đi qua buổi bình minh nhoè nhạt như một bóng ma sương của lúc rạng đông. Bà vừa đi vừa hát bài kinh ca ngợi Thần, tay gõ chũm choẹ.
Cuối cùng làn sương dày cũng tan. Mặt trời, như ông nội hiền từ của cả làng, an toạ giữa mọi việc đang diễn ra trong nhà ngoài đồng.
Tôi vừa ngồi vào bàn viết để xoa dịu cái bụng đói của ông chủ bút ở Calcutta thì có tiếng chân trên cầu thang. Người mộ đạo vừa ư ử hát một mình vừa bước vào, cúi chào tôi. Tôi ngẩng đầu khỏi đống giấy.
Bà nói:
— Hỡi Thần của con, hôm qua con đã dùng phần cơm thừa của Thần làm lộc thánh.
Tôi giật mình, hỏi sao bà lại làm thế được.
Bà đáp:
— Ồ, chiều qua con đứng chờ ở cửa trong lúc Thần dùng bữa, khi người ta bưng đĩa ra, con lấy ít cơm trên đĩa của Thần.
Tôi hết sức ngạc nhiên, vì cả làng ai cũng biết tôi đã đi châu Âu, đã ăn chung mâm với người châu Âu. Tôi ăn chay, đành vậy, nhưng chẳng ai dám xét kỹ chuyện ông đầu bếp của tôi có thanh sạch hay không, và những người giữ đạo nghiêm ngặt coi đồ ăn của tôi là ô uế.
Thấy tôi ngạc nhiên, người mộ đạo nói:
— Hỡi Thần của con, nếu con không được ăn cơm của Thần, thì con tới với Thần làm gì?
Tôi hỏi người cùng đẳng cấp với bà sẽ nói sao. Bà bảo bà đã loan tin ấy khắp cả làng rồi. Người trong đẳng cấp lắc đầu, nhưng rồi cũng đành để bà đi con đường của bà.
Tôi được biết người mộ đạo vốn con nhà tử tế ở vùng quê. Mẹ bà khá giả, muốn giữ con gái ở nhà. Nhưng bà lại thích làm kẻ khất thực. Tôi hỏi bà sống bằng gì. Bà kể các tín đồ của bà đã cho bà một mảnh đất, còn cơm ăn thì bà đi xin từng nhà. Bà bảo tôi:
— Cơm con xin được là cơm của Thần.
Ngẫm nghĩ lời bà, tôi hiểu ý bà. Khi miếng ăn tới với ta bấp bênh như của bố thí, ta nhớ tới Thần là đấng ban cho. Còn khi ngày ngày ta được ăn ở nhà một cách đều đặn, như lẽ đương nhiên, ta dễ coi đó là phần của ta, ta có quyền được hưởng.
Tôi rất muốn hỏi bà về chồng bà. Nhưng vì bà chưa bao giờ nhắc tới ông, dù chỉ xa xôi, nên tôi không hỏi.
Chẳng bao lâu tôi nhận ra người mộ đạo chẳng hề kính nể khu làng nơi những người đẳng cấp cao sinh sống.
Bà bảo:
— Họ chẳng bao giờ dâng một đồng xu nhỏ nào cho việc thờ Thần, thế mà họ lại chiếm phần lớn nhất ruộng đất của Thần. Còn người nghèo thì thờ Thần mà chịu đói.
Tôi hỏi sao bà không tới sống giữa đám người vô đạo ấy, giúp họ sống tốt hơn. Tôi nói, với giọng có phần trịnh trọng:
— Đó mới là cách thờ Thần cao quý nhất.
Thỉnh thoảng tôi vẫn nghe những bài giảng kiểu ấy, và có dịp là tôi khá thích bắt chước, đem ra giảng lại vì lợi ích của thiên hạ.
Nhưng người mộ đạo chẳng hề xúc động chút nào. Bà mở to đôi mắt tròn, nhìn thẳng vào mắt tôi mà nói:
— Ý Thần là vì Thần ở với những kẻ tội lỗi, nên khi làm việc gì giúp họ là làm cho Thần? Có phải thế không?
Tôi đáp:
— Phải, ý tôi là thế.
Bà đáp gần như sốt ruột:
— Đương nhiên, đương nhiên là Thần ở với họ, nếu không thì họ sống sao nổi? Nhưng điều ấy thì can gì tới con? Thần của con không ở đó. Ở giữa họ con không thờ được Thần của con, vì con không tìm thấy Ngài ở đó. Con tìm Ngài ở nơi con tìm thấy Ngài.
Nói rồi bà cúi lạy tôi. Điều bà muốn nói thật ra là thế này. Một giáo lý suông rằng Thần ở khắp mọi nơi chẳng giúp gì được ta. Thần có mặt khắp nơi, chân lý ấy có thể chỉ là một điều trừu tượng không sờ thấy được, và vì thế không có thật với chính ta. Ở nơi nào tôi thấy được Ngài, nơi ấy Ngài mới có thật trong linh hồn tôi.
Tôi chẳng cần giải thích rằng suốt thời gian bà dâng lòng sùng kính lên tôi, bà không dâng cho tôi như một con người riêng lẻ. Tôi chỉ là cỗ xe chở lòng thờ phụng của bà tới Thần. Nhận hay chối từ là việc không phải của tôi, vì lòng sùng kính ấy không thuộc về tôi, mà thuộc về Thần.
Lần sau người mộ đạo tới, bà lại thấy tôi đang vùi đầu vào sách vở giấy tờ.
Bà nói, ra mặt bực bội:
— Thần đã làm gì mà Thần của con bắt Thần phải làm cái việc cực nhọc thế này? Lần nào con tới cũng thấy Thần đọc với viết.
Tôi đáp:
— Thần bắt những kẻ vô dụng của Ngài phải bận rộn, không thì thế nào họ cũng sinh chuyện. Họ phải làm những việc ít cần thiết nhất trên đời. Thế là họ khỏi gây rắc rối.
Người mộ đạo bảo bà không chịu nổi những thứ vướng víu mỗi ngày một vây quanh tôi. Muốn gặp tôi thì đầy tớ không cho bà đi thẳng lên lầu. Muốn chạm vào chân tôi để thờ lạy thì lúc nào cũng vướng đôi tất. Còn muốn nói chuyện giản dị với tôi thì lại thấy tâm trí tôi lạc giữa một vùng hoang mạc chữ nghĩa.
Lần này, trước khi đi, bà chắp tay nói:
— Hỡi Thần của con! Sáng nay con cảm thấy đôi chân của Thần trong ngực con. Ôi, mát lành làm sao! Mà chân để trần, không đi tất. Con đặt đôi chân ấy lên đầu mà thờ lạy rất lâu. Lòng con đầy ắp. Thế thì sau đó con còn tới tận nơi gặp Thần làm gì nữa? Con tới làm gì? Lạy Chúa của con, xin nói thật cho con biết, có phải đó chỉ là một cơn mê muội không?
Trong bình trên bàn tôi có mấy bông hoa. Lúc bà đang ở đó, người làm vườn mang hoa mới vào thay. Người mộ đạo thấy anh ta thay hoa.
Bà kêu lên:
— Thế thôi ư? Thần dùng xong những bông hoa này rồi sao? Thế thì cho con.
Bà nâng niu những bông hoa trong lòng hai bàn tay khum lại, cúi đầu ngắm nhìn. Im lặng một lúc, bà lại ngẩng lên nói với tôi:
— Thần chẳng bao giờ ngắm những bông hoa này, nên chúng mới thành cũ với Thần. Giá Thần chịu nhìn sâu vào chúng, thì sách vở với giấy bút của Thần sẽ bay theo gió hết.
Bà buộc những bông hoa vào chéo áo, kính cẩn đặt lên đỉnh đầu như khi thờ lạy, rồi thành kính nói:
— Xin cho con mang Thần của con theo.
Trong lúc bà làm thế, tôi chợt thấy những bông hoa trong nhà mình không được tay mình chăm chút yêu thương như chúng đáng được hưởng. Khi ta cắm chúng vào bình, chúng chẳng khác gì một hàng học trò hư bị phạt đứng trên ghế dài.
Chiều hôm ấy người mộ đạo lại tới, ngồi bên chân tôi trên sân thượng.
Bà kể:
— Sáng nay con đi từng nhà hát danh Thần, con đã đem những bông hoa ấy cho người ta hết. Ông Bê-ni, trưởng làng con, cười con mộ đạo, bảo: "Sao bà phí hết lòng sùng kính vào ông ấy làm gì? Bà không biết người ta chửi ông ấy khắp vùng sao?" Có thật thế không, hỡi Thần của con? Có thật là người ta khắc nghiệt với Thần không?
Trong một thoáng tôi co mình lại. Thật là một cú sốc khi thấy vết mực in có thể loang tới tận chốn này.
Người mộ đạo nói tiếp:
— Ông Bê-ni tưởng có thể thổi một hơi là tắt ngọn lửa sùng kính của con! Nhưng đây đâu phải đốm lửa con con, mà là cả một đám cháy. Sao người ta lại chửi Thần, hỡi Thần của con?
Tôi đáp:
— Vì tôi đáng bị chửi. Có lẽ vì lòng tham mà tôi cứ lảng vảng định đánh cắp trái tim người ta một cách lén lút.
Người mộ đạo nói:
— Thế thì giờ Thần tự thấy đấy, trái tim người ta chẳng đáng giá bao nhiêu. Chúng đầy nọc độc, và nọc độc ấy sẽ chữa cho Thần khỏi lòng tham.
Tôi đáp:
— Khi một người có lòng tham trong tim, thì lúc nào hắn cũng sắp bị đòn. Chính lòng tham cung cấp nọc độc cho kẻ thù của hắn.
Bà đáp:
— Thần nhân từ của chúng ta tự tay đánh chúng ta, và đuổi hết nọc độc đi. Ai chịu được đòn của Thần tới cùng thì người ấy được cứu.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn