Chương 1: Người khách lạ sau nhà nguyện
Chúng ta biết rằng chúng ta đã từ cõi chết bước sang cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Ai không yêu thương anh em thì vẫn ở trong cõi chết.
Ai có của cải ở đời này, mà thấy anh em mình túng thiếu lại khép lòng lại, thì tình yêu của Thiên Chúa sao ở trong người ấy được?
Hỡi các con! Chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói, bằng đầu môi, mà phải bằng việc làm và bằng sự thật.
Tình yêu đến từ Thiên Chúa, và ai yêu thương thì được Thiên Chúa sinh ra và biết Thiên Chúa.
Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.
Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở trong chúng ta.
Thiên Chúa là tình yêu, ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy.
Ai nói: tôi yêu Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, thì đó là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà mình thấy, thì làm sao yêu được Thiên Chúa mà mình không thấy?
Thư thứ nhất của thánh Gio-an.
Có một bác thợ giày cùng vợ con ở nhờ nhà một bác nông dân. Bác chẳng có nhà riêng, cũng chẳng có ruộng đất, cả nhà sống nhờ nghề khâu giày. Bánh mì thì đắt, công thì rẻ, làm được đồng nào ăn hết đồng ấy. Hai vợ chồng bác chỉ có chung một chiếc áo lông cừu, mà cái áo ấy cũng đã rách bươm. Đã hai năm nay bác định mua da cừu để may áo mới.
Đến mùa thu, bác thợ giày dành dụm được ít tiền: ba rúp giấy để trong hòm của vợ, còn năm rúp hai mươi xu thì mấy bác nông dân trong làng còn nợ.
Một buổi sáng, bác thợ giày sửa soạn lên làng mua da may áo. Bác mặc chiếc áo bông bằng vải của vợ ra ngoài áo sơ mi, bên ngoài khoác thêm chiếc áo choàng dạ, bỏ tờ giấy ba rúp vào túi, bẻ một cây gậy, ăn sáng xong thì lên đường. Bác nghĩ: "Lấy được năm rúp của mấy bác nông dân, thêm ba rúp của mình nữa, là mua được da cừu may áo."
Bác thợ giày đến làng, ghé nhà một bác nông dân, thì người ta đi vắng, bà vợ hứa trong tuần sẽ bảo chồng mang tiền đến, nhưng tiền thì không đưa. Bác ghé nhà một bác khác, bác này thề sống thề chết là không có tiền, chỉ trả hai mươi xu tiền vá giày. Bác thợ giày định mua chịu da cừu, nhưng người bán da không cho chịu.
— Cứ mang tiền đến đây, người ấy nói, rồi muốn chọn tấm nào thì chọn. Chứ chúng tôi lạ gì cái chuyện đi đòi nợ.
Thế là bác thợ giày chẳng làm được việc gì, chỉ lấy được hai mươi xu tiền vá giày, lại nhận của một bác nông dân đôi ủng dạ cũ về khâu da bọc ngoài.
Bác thợ giày buồn rầu, đem cả hai mươi xu ra uống rượu, rồi về nhà mà không có áo. Buổi sáng bác thấy rét, nhưng uống vào rồi thì không có áo cũng thấy ấm. Bác thợ giày đi trên đường, một tay cầm gậy gõ gõ vào những mô đất đóng băng, tay kia vung vẩy đôi ủng dạ, vừa đi vừa nói một mình.
— Mình, bác nói, không có áo cũng ấm. Uống một chén nhỏ, nó chạy rần rật khắp mạch máu. Chẳng cần áo lông. Mình đi, quên hết buồn phiền. Mình là người thế đấy! Mình cần gì? Không có áo mình vẫn sống. Mình cả đời cũng chẳng cần nó. Có điều mụ vợ sẽ buồn. Mà cũng tức thật, mình làm cho người ta, người ta lại bắt mình chạy vạy. Cứ đợi đấy: không mang tiền đến thì tao lột mũ mày, thề có Chúa, tao lột thật. Thế là thế nào? Trả mình có hai hào! Hai hào thì làm được gì? Chỉ uống rượu thôi. Lại kêu túng. Mày túng, thế tao không túng chắc? Mày có nhà, có gia súc, có đủ thứ, còn tao thì có mỗi cái thân này. Mày có lúa của mày, còn tao phải mua mà ăn. Kiếm ở đâu thì kiếm, mỗi tuần riêng tiền bánh mì đã phải ba rúp. Về đến nhà thì bánh mì đã hết, lại phải bỏ ra một rúp rưỡi. Thế thì mày trả tao cái của tao đi chứ.
Bác thợ giày đi đến gần cái nhà nguyện nhỏ ở chỗ ngã rẽ, thì thấy ngay sau nhà nguyện có cái gì trăng trắng. Trời đã chạng vạng. Bác thợ giày nhìn kỹ mà không nhận ra là cái gì. "Ở đây trước kia đâu có hòn đá nào như thế, bác nghĩ. Gia súc à? Chẳng giống gia súc. Đầu thì giống đầu người, nhưng sao trắng thế. Mà người thì ở đây làm gì?"
Bác lại gần hơn, thì trông rõ hẳn. Lạ chưa: đúng là một con người, chẳng biết sống hay chết, ngồi trần truồng, tựa lưng vào nhà nguyện, không hề nhúc nhích. Bác thợ giày thấy sợ, nghĩ bụng: "Chắc có bọn nào giết người, lột hết quần áo rồi vứt ở đây. Mình mà lại gần thì rồi không gỡ ra được."
Thế là bác thợ giày đi qua. Đi vòng ra sau nhà nguyện thì không còn thấy người kia nữa. Qua khỏi nhà nguyện, bác ngoái lại, thấy người ấy đã ngồi nhổm dậy khỏi bức tường, cựa quậy, như đang nhìn theo. Bác thợ giày càng thêm sợ, nghĩ bụng: "Lại gần hay đi qua luôn? Lại gần nhỡ có chuyện chẳng lành: ai biết hắn là người thế nào? Đâu phải vì làm việc tốt mà hắn lâm vào cảnh này. Mình lại gần, hắn nhảy xổ ra bóp cổ mình, chạy cũng không thoát. Mà không bóp cổ thì cũng phải lo cho hắn. Hắn trần truồng thế kia thì làm thế nào? Chẳng lẽ lại cởi áo mình ra, cho nốt cái cuối cùng. Lạy Chúa, cho con qua được chỗ này!"
Bác thợ giày rảo bước. Đã sắp qua khỏi nhà nguyện, thì lương tâm cắn rứt.
Bác dừng lại giữa đường.
— Xê-miôn, mày làm cái gì thế hả? bác tự nói với mình. Người ta đang gặp nạn, sắp chết, còn mày thì sợ, đi qua luôn. Hay mày giàu lắm rồi? Sợ người ta cướp mất của cải của mày à? Này Xê-miôn, thế là không được!
Xê-miôn quay lại, đi về phía người kia.
Xê-miôn lại gần người ấy, nhìn kỹ, và thấy đó là một người trẻ tuổi, khoẻ mạnh, trên người không có vết đánh đập nào, chỉ thấy người ấy rét cóng và sợ hãi. Anh ta ngồi tựa vào tường, không nhìn Xê-miôn, như thể yếu quá, không ngước mắt lên nổi. Xê-miôn lại sát bên, và bỗng người ấy như tỉnh lại, quay đầu, mở mắt, nhìn Xê-miôn. Chỉ một cái nhìn ấy thôi mà Xê-miôn đã thấy quý người ấy. Bác quẳng đôi ủng dạ xuống đất, cởi dây lưng đặt lên đôi ủng, cởi áo choàng ra.
— Thôi, bác nói, nói nhiều làm gì! Mặc vào đi chứ! Nào!
Xê-miôn đỡ khuỷu tay người ấy, nâng dậy. Người ấy đứng lên. Xê-miôn thấy thân hình anh mảnh mai, sạch sẽ, tay chân không sứt mẻ gì, khuôn mặt hiền dịu dễ thương. Xê-miôn khoác chiếc áo choàng lên vai anh, nhưng anh không xỏ được tay vào ống. Xê-miôn luồn tay anh vào, kéo cho ngay, khép vạt áo lại, rồi thắt dây lưng cho.
Xê-miôn đã toan bỏ chiếc mũ rách ra đội cho người trần truồng, nhưng thấy đầu mình lạnh, bèn nghĩ: "Mình thì hói cả đầu, còn anh ta tóc mai xoăn, dài thế kia." Bác lại đội mũ vào. "Thôi, để mình xỏ giày cho anh ta thì hơn."
Bác đặt anh ngồi xuống, xỏ đôi ủng dạ vào chân cho anh.
Mặc quần áo cho anh xong, bác thợ giày nói:
— Thế đấy, anh bạn. Nào, cử động đi cho ấm người. Còn mọi chuyện khác thì không có chúng ta người ta cũng xét xử được. Anh đi được không?
Người ấy đứng đó, nhìn Xê-miôn bằng ánh mắt dịu dàng, nhưng không nói được câu nào.
— Sao anh không nói gì? Đâu thể ở đây qua mùa đông được. Phải về chỗ có nhà có cửa chứ. Này, cầm lấy cái gậy của tôi, yếu thì chống vào. Đi nào!
Và người ấy bước đi. Bước đi nhẹ nhàng, không hề tụt lại.
Hai người đi trên đường, Xê-miôn hỏi:
— Thế anh là người ở đâu?
— Tôi không phải người vùng này.
— Người vùng này thì tôi biết hết. Thế sao anh lại đến chỗ này, ngồi sau nhà nguyện?
— Tôi không được phép nói.
— Chắc có người làm hại anh?
— Không ai làm hại tôi cả. Chúa phạt tôi.
— Dĩ nhiên mọi sự đều do Chúa, nhưng dù sao thì cũng phải tìm chỗ mà nương thân chứ. Anh cần đi đâu?
— Đi đâu với tôi cũng thế.
Xê-miôn lấy làm lạ. Trông anh ta chẳng giống quân lêu lổng, ăn nói lại nhỏ nhẹ, nhưng không chịu kể gì về mình. Xê-miôn nghĩ bụng: "Đời thiếu gì chuyện", rồi bảo người ấy:
— Thôi được, vậy thì về nhà tôi, ít ra anh cũng hồi lại được chút nào.
Xê-miôn đi, người khách lạ không tụt lại, đi ngay bên cạnh. Gió nổi lên, luồn vào trong áo sơ mi Xê-miôn, hơi men bắt đầu tan, bác thấy rét. Bác vừa đi vừa sụt sịt, khép chặt chiếc áo bông của vợ lại, nghĩ bụng: "Áo lông với chả áo lông, đi mua áo lông về mà mất cả áo choàng, lại còn dắt theo một người trần truồng. Mụ Ma-tơ-ri-ô-na chẳng khen đâu!" Cứ nghĩ đến Ma-tơ-ri-ô-na là Xê-miôn lại thấy buồn. Nhưng hễ nhìn người khách lạ, nhớ lại cái nhìn của anh sau nhà nguyện, là lòng bác lại rộn lên.
Vợ Xê-miôn làm xong việc nhà từ sớm. Chị đã bổ củi, gánh nước, cho con ăn, mình cũng ăn qua loa, rồi ngồi nghĩ ngợi. Chị nghĩ không biết nên nướng bánh mì hôm nay hay ngày mai. Còn lại một mẩu bánh to.
"Nếu Xê-miôn ăn trưa ở bên ấy, chị nghĩ, bữa tối không ăn nhiều, thì bánh mì còn đủ cho ngày mai."
Ma-tơ-ri-ô-na xoay đi xoay lại mẩu bánh, nghĩ: "Hôm nay mình không nướng bánh nữa. Bột cũng chỉ còn đủ cho một mẻ. Cố mà cầm cự đến thứ sáu."
Ma-tơ-ri-ô-na cất bánh đi, ngồi vào bàn vá áo sơ mi cho chồng. Chị vừa khâu vừa nghĩ về chồng, không biết anh mua da làm áo ra sao.
"Chỉ sợ người bán da lừa anh ấy. Chồng mình thật thà quá. Anh ấy chẳng lừa ai bao giờ, mà một đứa trẻ con cũng lừa được anh ấy. Tám rúp đâu phải ít. Đủ may một cái áo tốt. Dù không phải da thuộc thì cũng vẫn là áo. Mùa đông năm ngoái không có áo khổ biết bao! Đến ra sông cũng không đi được, đi đâu cũng không được. Giờ anh ấy ra khỏi nhà mặc hết cả lên người, mình chẳng còn gì mà mặc. Đi từ sáng chứ đâu phải muộn. Lẽ ra phải về rồi. Không biết anh chàng của mình có đi chơi bời ở đâu không đây?"
Ma-tơ-ri-ô-na vừa nghĩ thế, thì bậc thềm cót két, có người bước vào. Ma-tơ-ri-ô-na cắm kim vào áo, đi ra hành lang. Chị thấy có hai người bước vào: Xê-miôn, và cùng với anh là một gã nào đó không đội mũ, đi ủng dạ.
Ngay lập tức Ma-tơ-ri-ô-na ngửi thấy hơi rượu ở chồng. "Đấy, chị nghĩ, đúng như mình đoán, đi chơi bời." Rồi khi thấy anh không mặc áo choàng, chỉ mặc mỗi chiếc áo bông, tay chẳng cầm gì, lại im thin thít, co ro, thì tim chị thắt lại. "Uống hết tiền rồi, chị nghĩ, lại chơi bời với một thằng vô lại nào đó, rồi còn dắt cả nó về đây."
Ma-tơ-ri-ô-na để hai người vào nhà, mình cũng đi vào, thấy một người lạ, trẻ, gầy gầy, mặc chiếc áo choàng của nhà mình. Dưới áo choàng không thấy áo sơ mi, cũng không đội mũ. Vào đến nhà là đứng im, không nhúc nhích, cũng không ngước mắt lên. Ma-tơ-ri-ô-na nghĩ: người không tử tế, nên mới sợ.
Ma-tơ-ri-ô-na cau mày, lùi về phía bếp lò, chờ xem họ làm gì.
Xê-miôn bỏ mũ, ngồi xuống ghế băng như người lương thiện.
— Thế nào, bác nói, Ma-tơ-ri-ô-na, dọn bữa tối đi chứ!
Ma-tơ-ri-ô-na lẩm bẩm gì đó trong miệng. Chị đứng ở bếp lò, không nhúc nhích, nhìn người này, rồi nhìn người kia, chỉ lắc đầu. Xê-miôn thấy vợ không vui, nhưng biết làm sao, đành làm như không để ý, cầm tay người khách lạ.
— Ngồi đi, anh bạn, bác nói, ta ăn tối.
Người khách lạ ngồi xuống ghế băng.
— Sao thế, chưa nấu à?
Ma-tơ-ri-ô-na nổi giận.
— Nấu rồi, nhưng không phải cho ông. Tôi thấy ông uống rượu đến mất cả trí khôn rồi. Đi mua áo lông mà về không có cả áo choàng, lại còn dắt về một thằng lang thang trần truồng nào đó. Tôi chẳng có bữa tối nào cho lũ bợm rượu các ông.
— Thôi, Ma-tơ-ri-ô-na, đừng có liến thoắng vô lối thế! Phải hỏi xem người ta là người thế nào đã…
— Ông nói đi, tiền đâu rồi?
Xê-miôn thò tay vào áo choàng, lấy tờ giấy bạc ra, mở ra.
— Tiền đây này, còn lão Tri-phô-nốp không trả, hẹn mai.
Ma-tơ-ri-ô-na càng giận hơn: áo lông chẳng mua, lại đem cái áo choàng cuối cùng mặc cho một thằng trần truồng nào đó rồi dắt về nhà.
Chị giật lấy tờ giấy bạc trên bàn, mang đi cất, miệng vẫn nói:
— Tôi chẳng có bữa tối nào hết. Bợm rượu trần truồng thì nuôi sao xuể.
— Ôi, Ma-tơ-ri-ô-na, giữ mồm giữ miệng một chút. Nghe người ta nói đã…
— Nghe thằng ngốc say rượu nói thì khôn được lắm đấy. Chẳng phải tự dưng ngày ấy tôi không muốn lấy cái đồ bợm rượu như ông. Mẹ tôi cho tôi mấy tấm vải, ông uống hết. Đi mua áo lông, ông cũng uống hết.
Xê-miôn muốn giải thích cho vợ hiểu rằng bác chỉ uống hết hai mươi xu, muốn kể bác gặp người ta ở đâu, nhưng Ma-tơ-ri-ô-na không để bác chen được một lời. Chẳng biết chị lấy đâu ra lắm lời thế, câu nọ chồng câu kia. Cả những chuyện từ mười năm trước chị cũng lôi ra kể.
Ma-tơ-ri-ô-na nói mãi, nói mãi, rồi xông đến bên Xê-miôn, túm lấy tay áo bác.
— Đưa cái áo bông của tôi đây. Tôi chỉ còn mỗi cái ấy, thế mà ông cũng lột của tôi, mặc vào người. Đưa đây, đồ chó rỗ mặt, cho sét đánh ông đi!
Xê-miôn bắt đầu cởi chiếc áo bông, vừa lộn được một bên tay áo, chị vợ đã giật mạnh, chiếc áo kêu toạc ở đường khâu. Ma-tơ-ri-ô-na giật lấy áo, trùm lên đầu, rồi nắm lấy cửa. Chị định bỏ đi, nhưng lại dừng lại. Lòng chị đang sôi lên, chị muốn trút cơn giận, mà chị cũng muốn biết người kia là người thế nào.
Ma-tơ-ri-ô-na dừng lại, nói:
— Nếu là người tử tế thì đã chẳng trần truồng thế kia, đến áo sơ mi cũng không có. Nếu ông đi làm việc gì tử tế, thì ông đã nói xem ông dắt cái anh chàng bảnh bao ấy ở đâu về.
— Thì tôi đang kể với bà đây: tôi đi đường, thấy anh ta ngồi sau nhà nguyện, trần truồng, rét cóng cả người. Có phải mùa hè đâu mà trần truồng. Chúa đưa tôi đến chỗ anh ta, không thì anh ta chết mất. Thế thì làm thế nào? Đời thiếu gì chuyện! Tôi mặc áo cho anh ta rồi dắt về đây. Bà nguôi giận đi. Tội lỗi đấy, Ma-tơ-ri-ô-na ạ. Rồi chúng ta cũng chết cả thôi.
Ma-tơ-ri-ô-na định chửi tiếp, nhưng nhìn người khách lạ, chị lại im. Người khách lạ ngồi đó, không nhúc nhích, vẫn ngồi ở mép ghế như lúc nãy. Hai tay đặt trên đầu gối, đầu cúi gằm xuống ngực, mắt nhắm nghiền, mặt cứ nhăn lại như có cái gì đang bóp nghẹt. Ma-tơ-ri-ô-na im lặng. Xê-miôn bèn nói:
— Ma-tơ-ri-ô-na, chẳng lẽ trong lòng bà không có Chúa?!
Nghe câu ấy, Ma-tơ-ri-ô-na nhìn người khách lạ thêm lần nữa, và bỗng lòng chị dịu xuống. Chị rời khỏi cửa, đến góc bếp lò, lấy bữa tối ra. Chị đặt cái bát lên bàn, rót nước kvát, bày mẩu bánh mì cuối cùng ra. Chị đưa dao và thìa.
— Thì ăn đi, chị nói.
Xê-miôn đẩy người khách lạ lại gần bàn.
— Vào đây, bác nói, chàng trai.
Xê-miôn cắt bánh mì, bẻ vụn ra, rồi hai người bắt đầu ăn. Còn Ma-tơ-ri-ô-na thì ngồi ở góc bàn, tay chống cằm, nhìn người khách lạ.
Và Ma-tơ-ri-ô-na thấy thương người khách lạ, chị thấy quý anh. Bỗng người khách lạ vui hẳn lên, thôi không nhăn mặt nữa, ngước mắt nhìn Ma-tơ-ri-ô-na và mỉm cười.
Ăn tối xong, chị vợ dọn dẹp rồi bắt đầu hỏi người khách lạ:
— Thế anh là người ở đâu?
— Tôi không phải người vùng này.
— Thế sao anh lại ra nông nỗi ở giữa đường?
— Tôi không được phép nói.
— Ai lột hết đồ của anh thế?
— Chúa phạt tôi.
— Thế anh cứ nằm trần truồng như thế à?
— Cứ nằm trần truồng như thế, sắp chết rét. Bác Xê-miôn trông thấy tôi, thương tôi, cởi áo choàng của mình ra mặc cho tôi, rồi bảo tôi về đây. Còn ở đây chị cho tôi ăn, cho tôi uống, thương tôi. Cầu Chúa cứu giúp anh chị!
Ma-tơ-ri-ô-na đứng dậy, lấy trên bậu cửa sổ chiếc áo sơ mi cũ của Xê-miôn, chính chiếc chị vừa vá, đưa cho người khách lạ, lại tìm thêm một chiếc quần, đưa cho anh.
— Đây, tôi thấy anh đến cái áo sơ mi cũng không có. Mặc vào, rồi muốn nằm đâu thì nằm, trên gác xép hay trên bếp lò.
Người khách lạ cởi áo choàng ra, mặc áo sơ mi và quần vào, rồi nằm trên gác xép. Ma-tơ-ri-ô-na tắt đèn, cầm chiếc áo choàng, trèo lên chỗ chồng nằm.
Ma-tơ-ri-ô-na đắp một góc áo choàng, nằm mà không ngủ được, cứ nghĩ mãi về người khách lạ.
Hễ nhớ đến chuyện anh đã ăn hết mẩu bánh cuối cùng mà mai không còn bánh, hễ nhớ đến chuyện đã cho đi cái áo sơ mi với cái quần, là chị lại thấy buồn. Nhưng hễ nhớ đến lúc anh mỉm cười, là lòng chị lại rộn lên.
Ma-tơ-ri-ô-na mãi không ngủ được, và chị nghe Xê-miôn cũng không ngủ, cứ kéo chiếc áo choàng về phía mình.
— Xê-miôn!
— Hả!
— Ăn hết mẩu bánh cuối cùng rồi, mà tôi lại chưa nướng. Mai chẳng biết làm thế nào. Hay là tôi sang xin bà Ma-la-nhi-a.
— Còn sống thì còn no.
Chị vợ nằm im một lúc.
— Người này có vẻ là người tốt, có điều sao anh ta không kể gì về mình.
— Chắc là không được phép.
— Xê-miôn!
— Hả!
— Mình thì cho người ta, sao chẳng ai cho mình?
Xê-miôn không biết nói sao. Bác bảo: "Thôi, nói nhiều làm gì." Rồi quay mình đi ngủ.
Sáng hôm sau Xê-miôn tỉnh dậy. Lũ trẻ còn ngủ, vợ bác đã sang hàng xóm vay bánh mì. Chỉ có người khách lạ hôm qua, mặc chiếc quần và áo sơ mi cũ, ngồi trên ghế băng, nhìn lên trên. Mặt anh sáng sủa hơn hôm qua.
Xê-miôn nói:
— Thế này, anh bạn ạ: bụng thì đòi bánh mì, thân trần thì đòi quần áo. Phải kiếm cái ăn chứ. Anh biết làm gì?
— Tôi chẳng biết làm gì cả.
Xê-miôn lấy làm lạ, nói:
— Miễn là có lòng muốn. Việc gì người ta cũng học được cả.
— Người ta làm việc, tôi cũng sẽ làm việc.
— Anh tên là gì?
— Mi-kha-in.
— Này anh Mi-kha-in, anh không muốn kể về mình thì đó là việc của anh, nhưng phải kiếm cái ăn đã. Tôi bảo gì anh làm nấy thì tôi nuôi anh.
— Cầu Chúa cứu giúp bác, tôi sẽ học. Bác chỉ cho tôi phải làm gì.
Xê-miôn lấy sợi chỉ, quấn vào ngón tay, rồi bắt đầu se đầu chỉ.
— Việc này chẳng khó gì, xem này…
Mi-kha-in nhìn, cũng quấn chỉ vào ngón tay như thế, học được ngay, se được đầu chỉ.
Xê-miôn chỉ cho anh cách vuốt sáp. Mi-kha-in cũng hiểu ngay. Ông chủ chỉ cho anh cách xỏ lông lợn vào đầu chỉ, cách khâu, Mi-kha-in cũng hiểu ngay.
Xê-miôn chỉ cho việc gì, anh cũng hiểu ngay, và đến ngày thứ ba anh đã làm việc như người khâu giày cả đời. Anh làm không ngơi tay, ăn ít. Hễ ngớt việc là anh ngồi im lặng, cứ nhìn lên trên. Anh không ra ngoài phố, không nói thừa một lời, không đùa, không cười.
Người ta chỉ thấy anh mỉm cười có một lần, vào buổi tối đầu tiên, khi chị vợ dọn cơm cho anh ăn.
Ngày nối ngày, tuần nối tuần, thoắt cái đã một năm. Mi-kha-in vẫn ở nhà Xê-miôn như trước, làm việc. Và tiếng tăm về người thợ của Xê-miôn lan đi khắp vùng, rằng không ai khâu giày khéo và chắc bằng Mi-kha-in, người thợ của Xê-miôn. Người ta từ khắp vùng kéo đến nhà Xê-miôn đặt giày, và nhà Xê-miôn bắt đầu khá lên.
Một hôm mùa đông, Xê-miôn đang ngồi làm việc với Mi-kha-in, thì có một cỗ xe tam mã leng keng chuông dừng trước nhà. Hai người nhìn ra cửa sổ: cỗ xe dừng ngay trước nhà, một gã trai trẻ nhảy từ ghế đánh xe xuống, mở cửa xe. Một ông chủ mặc áo lông bước ra khỏi xe. Ông ta xuống xe, đi về phía nhà Xê-miôn, bước lên thềm. Ma-tơ-ri-ô-na chạy ra, mở toang cửa. Ông chủ cúi đầu bước vào nhà, rồi đứng thẳng lên, đầu suýt chạm trần, chiếm trọn cả một góc nhà.
Xê-miôn đứng dậy cúi chào, ngạc nhiên nhìn ông chủ. Bác chưa từng thấy ai như thế bao giờ. Xê-miôn thì gầy đét, Mi-kha-in cũng gầy, còn Ma-tơ-ri-ô-na thì khô đét như que củi, còn người này thì như người ở thế giới khác đến: mặt đỏ gay, căng phồng, cổ như cổ bò mộng, cả người như đúc bằng gang.
Ông chủ thở phì phò, cởi áo lông, ngồi xuống ghế băng mà nói:
— Ai là chủ, ai là thợ giày?
Xê-miôn bước ra, nói:
— Dạ, là con, thưa ngài.
Ông chủ quát gã người hầu:
— Này, Phê-đơ-ca, mang da vào đây.
Gã người hầu chạy vào, mang một gói nhỏ. Ông chủ cầm gói, đặt lên bàn.
— Mở ra, ông nói. Gã người hầu mở ra.
Ông chủ chọc ngón tay vào tấm da làm giày mà bảo Xê-miôn:
— Nghe đây, thợ giày. Thấy tấm da này không?
— Dạ, thấy, thưa ngài.
— Thế anh có biết đây là da gì không?
Xê-miôn sờ tấm da, nói:
— Da tốt ạ.
— Tốt chứ còn gì! Đồ ngu, anh chưa thấy loại da này bao giờ đâu. Da của Đức đấy, hai mươi rúp đấy.
Xê-miôn sợ hãi, nói:
— Chúng con thì làm sao mà thấy được ạ.
— Thế mới phải. Anh có làm được bằng tấm da này một đôi ủng vừa chân ta không?
— Được ạ, thưa ngài.
Ông chủ quát lên với bác:
— "Được ạ" cơ đấy. Anh phải hiểu anh làm cho ai, bằng da gì. Làm cho ta một đôi ủng đi cả năm không méo, không bục chỉ. Làm được thì nhận, cắt da ra; không làm được thì đừng nhận, đừng cắt da. Ta nói trước cho anh biết: chưa được một năm mà ủng bục chỉ, méo mó, thì ta tống anh vào tù. Còn đủ một năm không méo, không bục, thì ta trả công mười rúp.
Xê-miôn sợ hãi, không biết nói gì. Bác ngoái lại nhìn Mi-kha-in. Bác lấy khuỷu tay huých anh, thì thầm:
— Nhận không?
Mi-kha-in gật đầu: "Nhận đi."
Xê-miôn nghe theo Mi-kha-in, nhận làm một đôi ủng đi cả năm không méo, không bục chỉ.
Ông chủ gọi gã người hầu, bảo tháo chiếc ủng bên chân trái ra, rồi duỗi chân ra.
— Đo đi!
Xê-miôn khâu nối một mảnh giấy dài chừng nửa mét, vuốt cho phẳng, quỳ xuống, lau tay thật kỹ vào tạp dề cho khỏi làm bẩn tất của ông chủ, rồi bắt đầu đo. Xê-miôn đo đế, đo mu bàn chân. Đến lúc đo bắp chân thì mảnh giấy không đủ dài. Bắp cái chân to tướng ấy to như khúc gỗ.
— Coi chừng, đừng làm ống chật quá đấy.
Xê-miôn bắt đầu khâu nối thêm giấy. Ông chủ ngồi ngọ nguậy mấy ngón chân trong tất, đưa mắt nhìn khắp mọi người trong nhà. Ông trông thấy Mi-kha-in.
— Đứa nào kia? ông hỏi.
— Dạ, đấy là thợ cả của con, chính anh ấy sẽ khâu.
— Coi chừng đấy, ông chủ bảo Mi-kha-in, nhớ là phải khâu sao cho đi được cả năm.
Xê-miôn cũng ngoái lại nhìn Mi-kha-in, và thấy Mi-kha-in chẳng nhìn ông chủ, mà cứ chăm chăm nhìn vào góc nhà phía sau lưng ông chủ, như đang nhìn kỹ ai đó. Nhìn mãi, nhìn mãi, rồi Mi-kha-in bỗng mỉm cười, cả người sáng bừng lên.
— Mày nhe răng ra cái gì, đồ ngu? Lo mà làm cho kịp hạn thì hơn.
Mi-kha-in nói:
— Sẽ xong đúng lúc cần.
— Thế mới phải.
Ông chủ đi ủng vào, mặc áo lông, khép áo lại, rồi đi ra cửa. Nhưng ông quên cúi đầu, đập đầu vào thanh ngang khung cửa.
Ông chủ chửi bới một hồi, xoa xoa đầu, lên xe đi mất.
Ông chủ đi rồi, Xê-miôn nói:
— Chà, người như đá tảng. Lấy chày vồ cũng không giết nổi. Đập đầu bật cả khung cửa ra mà chẳng hề hấn gì. Còn Ma-tơ-ri-ô-na thì nói:
— Sống sung sướng như thế thì béo tốt là phải. Cái loại người chắc nịch như cái đinh tán ấy, đến thần chết cũng chẳng bắt được.
Xê-miôn bảo Mi-kha-in:
— Nhận việc thì nhận rồi, chỉ sợ rước vạ vào thân. Da thì đắt, ông chủ thì dữ. Chỉ sợ mình làm hỏng. Này, anh mắt tinh hơn, tay cũng khéo hơn tôi rồi, cầm lấy số đo đi. Anh cắt da đi, còn tôi khâu nốt mấy cái mũi giày.
Mi-kha-in vâng lời, cầm tấm da của ông chủ, trải lên bàn, gấp đôi lại, cầm dao bắt đầu cắt.
Ma-tơ-ri-ô-na lại gần, xem Mi-kha-in cắt, và lấy làm lạ không hiểu Mi-kha-in đang làm gì. Ma-tơ-ri-ô-na cũng đã quen nghề khâu giày, chị nhìn và thấy Mi-kha-in cắt da không theo kiểu làm ủng, mà cắt thành những miếng tròn.
Ma-tơ-ri-ô-na định nói, nhưng lại nghĩ: "Chắc mình không hiểu người ta khâu ủng cho ông chủ thế nào. Chắc Mi-kha-in biết hơn, mình không xen vào."
Mi-kha-in cắt xong một đôi, cầm sợi chỉ, bắt đầu khâu, nhưng không khâu như khâu ủng, bằng hai sợi chỉ, mà chỉ bằng một sợi, như người ta khâu đôi hài mềm không đế.
Ma-tơ-ri-ô-na lại lấy làm lạ, nhưng cũng không xen vào. Còn Mi-kha-in cứ khâu mãi. Đến giờ ăn trưa, Xê-miôn đứng dậy nhìn, thì thấy Mi-kha-in đã dùng tấm da của ông chủ khâu thành một đôi hài mềm.
Xê-miôn kêu lên. "Sao thế này, bác nghĩ, Mi-kha-in ở với mình cả năm, chẳng sai sót việc gì, thế mà giờ lại gây ra cái vạ thế này? Ông chủ đặt đôi ủng cao cổ có viền đế, thế mà anh ta lại khâu đôi hài mềm không đế, làm hỏng mất tấm da. Giờ ta biết ăn nói với ông chủ thế nào? Da như thế này đâu có tìm ra được."
Bác bảo Mi-kha-in:
— Anh bạn ơi, bác nói, anh làm cái gì thế này? Anh giết tôi rồi! Ông chủ đặt ủng, còn anh khâu cái gì thế kia?
Bác vừa bắt đầu trách Mi-kha-in, thì có tiếng gõ cộc cộc vào vòng sắt trên cửa, có ai đang gõ cửa. Nhìn ra cửa sổ thì thấy có người cưỡi ngựa đến, đang buộc ngựa. Mở cửa ra thì chính gã người hầu của ông chủ bước vào.
— Chào các bác!
— Chào anh. Anh cần gì?
— Bà chủ sai tôi đến về chuyện đôi ủng.
— Chuyện đôi ủng làm sao?
— Thì chuyện đôi ủng chứ sao! Ông chủ không cần ủng nữa. Ông chủ chết rồi.
— Anh nói sao!
— Từ nhà các bác ra về, chưa về đến nhà, ông đã chết ngay trong xe. Xe về đến cửa, người ta ra đỡ ông xuống, thì ông đổ vật ra như bao tải, người đã cứng đờ, nằm chết rồi, mãi mới lôi được ra khỏi xe. Bà chủ sai tôi đến, bảo: "Anh nói với ông thợ giày rằng ông chủ có đến đặt ủng, có để lại da, thì anh nói: không cần ủng nữa, mà lấy da ấy khâu nhanh cho người chết một đôi hài liệm mềm. Rồi anh chờ khâu xong, mang đôi hài về." Thế nên tôi đến.
Mi-kha-in cầm những mẩu da thừa trên bàn, cuộn tròn lại, cầm cả đôi hài đã khâu xong, đập hai chiếc vào nhau, lau bằng tạp dề, rồi đưa cho gã người hầu. Gã người hầu cầm lấy đôi hài.
— Chào các bác! Chúc các bác may mắn!
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn