Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ba nụ cười

Người ta sống bằng gì · Chương 2/2 · của Lev Tolstoy

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 14.982 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Một năm nữa lại trôi qua, rồi hai năm,…
  2. 1:26Xin mời vào. Bà cần gì ạ?
  3. 2:24Xê-miôn đo xong, nói về bé gái bị tật:
  4. 3:00Thế chúng là con ai?
  5. 5:38Xê-miôn đến bên anh, hỏi: anh làm sao thế,…
  6. 7:09Mi-kha-in nói:
  7. 11:04Tôi bắt đầu sống ở nhà hai bác, và…
  8. 13:29Tôi hiểu rằng Chúa không muốn con người sống…

Chương 2: Ba nụ cười

Một năm nữa lại trôi qua, rồi hai năm, và Mi-kha-in đã ở nhà Xê-miôn sang năm thứ sáu. Anh vẫn sống như trước. Chẳng đi đâu, không nói thừa một lời, và suốt thời gian ấy chỉ mỉm cười có hai lần: một lần khi chị vợ dọn bữa tối cho anh, một lần với ông chủ. Xê-miôn quý người thợ của mình không để đâu cho hết. Bác chẳng còn hỏi anh từ đâu đến nữa, chỉ sợ mỗi một điều là Mi-kha-in bỏ đi.

Một hôm, cả nhà đang ở nhà. Bà chủ đang bắc mấy cái nồi gang vào lò, còn lũ trẻ thì chạy nhảy trên ghế băng, nhìn ra cửa sổ. Xê-miôn đang khâu giày bên một cửa sổ, còn Mi-kha-in thì đóng gót giày bên cửa sổ kia.

Một thằng bé chạy dọc theo ghế băng đến bên Mi-kha-in, tì tay lên vai anh, nhìn ra cửa sổ.

— Chú Mi-kha-in ơi, chú nhìn kìa, có một bà nhà buôn dắt theo hai bé gái, hình như đang đến nhà mình. Mà một bé đi khập khiễng.

Thằng bé vừa nói thế, Mi-kha-in đã bỏ việc, quay ra cửa sổ, nhìn ra đường.

Xê-miôn lấy làm lạ. Xưa nay Mi-kha-in chẳng bao giờ nhìn ra đường, thế mà giờ lại áp mặt vào cửa sổ, nhìn cái gì đó. Xê-miôn cũng nhìn ra cửa sổ, thấy quả thật có một người đàn bà đang đi về phía nhà mình, ăn mặc sạch sẽ, dắt tay hai bé gái mặc áo lông, quàng khăn hoa. Hai bé giống nhau như đúc, chẳng sao phân biệt được. Chỉ có một bé chân trái bị tật, đi khập khiễng.

Người đàn bà bước lên thềm, vào hành lang, sờ tìm cánh cửa, kéo quai cửa, mở ra. Bà để hai bé gái đi trước, rồi bước vào nhà.

— Chào các bác!

— Xin mời vào. Bà cần gì ạ?

Người đàn bà ngồi xuống bên bàn. Hai bé gái nép vào đầu gối bà, ngơ ngác nhìn mọi người.

— Tôi muốn may cho hai cháu mỗi đứa một đôi giày da để đi mùa xuân.

— Được ạ. Chúng tôi chưa may giày nhỏ thế này bao giờ, nhưng làm được cả. Có thể làm loại có viền đế, có thể làm loại lộn mặt lót vải. Anh Mi-kha-in nhà tôi là thợ cả đấy.

Xê-miôn ngoái lại nhìn Mi-kha-in, và thấy Mi-kha-in đã bỏ việc, ngồi đó, mắt không rời hai bé gái.

Xê-miôn lấy làm lạ về Mi-kha-in. Bác nghĩ, đúng là hai bé xinh thật: mắt đen láy, bụ bẫm, má đỏ hồng, áo lông với khăn quàng đều đẹp, nhưng Xê-miôn vẫn không hiểu sao anh lại nhìn chúng chăm chú thế, như thể đã quen biết chúng từ trước.

Xê-miôn lấy làm lạ, rồi bắt đầu nói chuyện với người đàn bà, thoả thuận giá cả. Thoả thuận xong, bác gấp mảnh giấy đo. Người đàn bà nhấc bé gái bị tật lên lòng mà nói:

— Bác đo cho cháu này hai lần nhé. Bên chân tật thì may một chiếc, bên chân lành thì may ba chiếc. Hai đứa chân giống nhau, y hệt nhau. Chúng là chị em sinh đôi.

Xê-miôn đo xong, nói về bé gái bị tật:

— Sao cháu lại thế này? Cháu bé xinh thế cơ mà. Bị từ lúc mới sinh à?

— Không, mẹ nó đè phải.

Ma-tơ-ri-ô-na xen vào, chị muốn biết người đàn bà này là ai, hai đứa trẻ là con ai, bèn nói:

— Thế bà không phải mẹ của chúng à?

— Tôi không phải mẹ chúng, cũng chẳng phải họ hàng gì, bác gái ạ, hoàn toàn người dưng, con nuôi thôi.

— Không phải con đẻ, mà sao bà thương chúng thế!

— Sao tôi lại không thương chúng được, tôi cho cả hai đứa bú bằng sữa của mình mà. Tôi cũng có một đứa con đẻ, nhưng Chúa đã đem nó đi rồi, tôi thương nó cũng không bằng thương hai đứa này.

— Thế chúng là con ai?

Người đàn bà bắt đầu cởi mở, kể chuyện.

— Chuyện xảy ra cách đây sáu năm rồi, bà nói, hai đứa bé mồ côi này mất cả cha lẫn mẹ chỉ trong một tuần: thứ ba chôn cha, thì thứ sáu mẹ chết. Hai đứa bé ra đời sau khi cha mất ba ngày, còn mẹ chúng thì không sống nổi một ngày. Hồi ấy tôi với chồng tôi sống ở làng, làm ruộng. Chúng tôi là hàng xóm, nhà sát vách. Cha chúng là một người nông dân đơn độc, làm việc trong rừng. Một hôm người ta làm đổ cây trúng vào người anh ấy, đè ngang người, nát hết cả ruột gan. Vừa đưa được về đến nhà thì anh ấy đã về với Chúa, mà vợ anh ấy cũng ngay trong tuần ấy sinh đôi, chính là hai bé gái này. Nghèo khổ, đơn độc, chỉ có mỗi mình chị ấy, chẳng có bà già, cũng chẳng có cô gái nào. Chị ấy sinh một mình, rồi chết cũng một mình.

Sáng hôm sau tôi sang thăm chị hàng xóm, vào đến nhà thì chị ấy, tội nghiệp, đã lạnh ngắt rồi. Lúc chết chị ấy ngã đè lên một đứa. Đè phải đứa này, làm vẹo cả chân. Mọi người kéo đến, tắm rửa cho chị ấy, khâm liệm, đóng quan tài, rồi chôn cất. Toàn những người tốt bụng cả. Còn hai đứa bé ở lại một mình. Biết để chúng đâu bây giờ? Mà trong đám đàn bà chỉ có mình tôi đang có con nhỏ. Thằng con đầu lòng của tôi bú được tám tuần rồi. Tôi tạm đem hai đứa về nhà mình. Đàn ông trong làng họp lại, nghĩ mãi, nghĩ mãi, không biết để chúng đâu, rồi bảo tôi: "Chị Ma-ri-a, chị cứ tạm giữ hai đứa bé, rồi để chúng tôi tính xem." Tôi cho đứa lành chân bú một lần, còn đứa bị đè thì tôi chẳng cho bú, vì nghĩ nó chẳng sống được. Nhưng rồi tôi nghĩ, sao lại để cái linh hồn thiên thần bé bỏng ấy héo hon đi? Tôi thương cả nó. Tôi cho nó bú, và thế là một đứa con đẻ của tôi với hai đứa này, cả ba đứa tôi đều nuôi bằng sữa mình! Hồi ấy tôi còn trẻ, còn khoẻ, lại ăn uống tốt. Chúa cho tôi nhiều sữa lắm, có khi sữa tràn cả ra. Tôi cho hai đứa bú, đứa thứ ba ngồi chờ. Một đứa bú xong buông ra, tôi lại bế đứa thứ ba lên. Rồi Chúa xui khiến thế nào, tôi nuôi lớn được hai đứa này, còn con tôi thì sang năm thứ hai tôi phải chôn nó. Rồi Chúa cũng không cho tôi thêm đứa con nào nữa. Mà của cải thì ngày càng khá lên. Bây giờ chúng tôi sống ở đây, ở cối xay của một nhà buôn. Lương cao, cuộc sống sung túc. Có điều không có con. Không có hai đứa bé này thì tôi sống một mình thế nào được! Sao tôi lại không thương chúng cho được! Chúng là ngọn nến duy nhất của đời tôi!

Người đàn bà một tay ôm chặt bé gái khập khiễng vào lòng, tay kia lau nước mắt trên má.

Ma-tơ-ri-ô-na thở dài, nói:

— Thật đúng như tục ngữ nói: không cha không mẹ còn sống được, chứ không có Chúa thì không sống được.

Họ nói chuyện với nhau như thế một lúc, rồi người đàn bà đứng dậy ra về. Hai vợ chồng chủ nhà tiễn bà ra, rồi ngoái lại nhìn Mi-kha-in. Anh đang ngồi, hai tay chắp trên đầu gối, nhìn lên trên, mỉm cười.

Xê-miôn đến bên anh, hỏi: anh làm sao thế, Mi-kha-in! Mi-kha-in đứng dậy khỏi ghế, đặt việc xuống, cởi tạp dề, cúi chào hai vợ chồng chủ nhà mà nói:

— Xin hai bác tha thứ cho tôi. Chúa đã tha thứ cho tôi rồi. Xin hai bác cũng tha thứ cho tôi.

Và hai vợ chồng chủ nhà thấy có ánh sáng toả ra từ Mi-kha-in. Xê-miôn đứng dậy, cúi chào Mi-kha-in mà nói:

— Tôi thấy, Mi-kha-in ạ, anh không phải người thường, tôi không thể giữ anh lại, cũng không thể gặng hỏi anh. Anh chỉ cần nói cho tôi biết một điều: vì sao khi tôi tìm thấy anh và đưa anh về nhà, anh buồn rầu, thế mà khi vợ tôi dọn bữa tối cho anh, anh lại mỉm cười với bà ấy, và từ đó anh sáng sủa hơn? Rồi khi ông chủ đến đặt ủng, anh mỉm cười lần thứ hai, và từ đó anh còn sáng sủa hơn nữa? Và giờ đây, khi người đàn bà dắt hai bé gái đến, anh mỉm cười lần thứ ba, và cả người anh sáng bừng lên. Mi-kha-in, anh hãy nói cho tôi biết, vì sao anh lại toả ra ánh sáng như thế, và vì sao anh mỉm cười ba lần?

Mi-kha-in nói:

— Tôi toả sáng vì tôi đã bị phạt, mà giờ Chúa đã tha thứ cho tôi. Còn tôi mỉm cười ba lần, là vì tôi phải tìm ra ba lời của Chúa. Và tôi đã tìm ra những lời ấy. Lời thứ nhất tôi biết được khi vợ bác thương tôi, và vì thế tôi mỉm cười lần thứ nhất. Lời thứ hai tôi biết được khi người nhà giàu đặt ủng, và tôi mỉm cười lần thứ hai. Còn giờ đây, khi tôi thấy hai bé gái, tôi đã biết được lời cuối cùng, lời thứ ba, và tôi mỉm cười lần thứ ba.

Xê-miôn nói:

— Mi-kha-in, anh hãy nói cho tôi biết, vì sao Chúa phạt anh, và những lời của Chúa ấy là gì, để tôi được biết.

Mi-kha-in nói:

— Chúa phạt tôi vì tôi đã không vâng lời Người. Tôi vốn là một thiên thần trên trời, và tôi đã không vâng lời Chúa.

Tôi là một thiên thần trên trời, và Chúa sai tôi xuống lấy linh hồn một người đàn bà. Tôi bay xuống trần gian, thấy một người đàn bà nằm đó, đau ốm, vừa sinh đôi hai bé gái. Hai đứa bé cựa quậy bên cạnh mẹ, mà người mẹ không bế nổi chúng lên cho bú. Người đàn bà trông thấy tôi, hiểu rằng Chúa sai tôi đến lấy linh hồn mình, liền khóc mà nói: "Hỡi thiên thần của Chúa! Chồng tôi vừa mới chôn, bị cây đè chết trong rừng. Tôi không có chị em, không có cô dì, không có bà nội bà ngoại, chẳng có ai nuôi những đứa con mồ côi của tôi. Xin đừng lấy linh hồn tôi đi, xin để tôi tự tay cho con bú mớm, nuôi chúng khôn lớn! Trẻ con không có cha, không có mẹ thì không sống được!" Thế là tôi nghe lời người mẹ. Tôi đặt một bé gái vào ngực mẹ, trao bé kia vào tay mẹ, rồi bay lên trời về với Chúa. Tôi bay đến trước Chúa mà thưa: "Con không lấy được linh hồn người sản phụ. Người cha bị cây đè chết, người mẹ sinh đôi, cầu xin con đừng lấy linh hồn mình đi, chị ấy nói: Xin để tôi cho con bú mớm, nuôi chúng khôn lớn. Trẻ con không có cha, không có mẹ thì không sống được. Con đã không lấy linh hồn người sản phụ." Chúa phán: "Hãy đi lấy linh hồn người sản phụ, rồi ngươi sẽ biết ba lời: ngươi sẽ biết trong con người có gì, điều gì không được ban cho con người, và con người sống bằng gì. Khi nào ngươi biết được, ngươi sẽ trở về trời." Tôi bay trở xuống trần gian, lấy linh hồn người sản phụ.

Hai đứa bé rời khỏi ngực mẹ. Cái xác vô hồn đổ xuống giường, đè lên một bé gái, làm vẹo chân bé. Tôi bay lên trên làng, định mang linh hồn ấy về với Chúa, thì một cơn gió cuốn lấy tôi, đôi cánh tôi rũ xuống, rời ra, linh hồn ấy một mình đi về với Chúa, còn tôi thì rơi xuống đất bên vệ đường.

Bấy giờ Xê-miôn và Ma-tơ-ri-ô-na mới hiểu ra người mình đã cho mặc, cho ăn, người đã sống với mình là ai, và họ khóc vì sợ hãi và vì vui mừng.

Thiên thần nói:

— Tôi ở lại một mình giữa đồng, trần truồng. Trước kia tôi chưa từng biết nỗi thiếu thốn của con người, không biết rét, cũng không biết đói, thế mà nay tôi đã thành người. Tôi đói, tôi rét cóng, mà không biết phải làm sao. Tôi thấy giữa đồng có một ngôi nhà nguyện dựng lên để thờ Chúa, tôi đến bên nhà nguyện của Chúa, định vào đó trú thân. Nhà nguyện khoá cửa, không vào được. Tôi ngồi sau nhà nguyện để tránh gió. Trời tối, tôi đói lả, rét cóng, đau nhức khắp mình. Bỗng tôi nghe có một người đi trên đường, tay cầm đôi ủng, vừa đi vừa nói một mình. Và lần đầu tiên, từ khi thành người, tôi nhìn thấy khuôn mặt của một con người sẽ chết, và khuôn mặt ấy làm tôi sợ, tôi quay đi. Tôi nghe người ấy nói một mình chuyện làm sao che thân cho khỏi rét qua mùa đông, làm sao nuôi vợ con. Và tôi nghĩ: "Ta sắp chết vì rét vì đói, thế mà người đi kia chỉ nghĩ làm sao có áo lông cho mình với vợ, có bánh mì mà ăn. Người ấy không thể giúp ta được." Người ấy trông thấy tôi, cau mày, trông càng đáng sợ hơn, rồi đi qua. Tôi tuyệt vọng. Bỗng tôi nghe người ấy quay lại. Tôi nhìn lên và không nhận ra người lúc nãy nữa: lúc nãy trên mặt người ấy là cái chết, còn bây giờ bỗng người ấy sống động hẳn lên, và trên khuôn mặt ấy tôi nhận ra Chúa. Người ấy đến bên tôi, mặc áo cho tôi, đưa tôi theo, dẫn về nhà mình. Tôi đến nhà người ấy, một người đàn bà ra đón và bắt đầu nói. Người đàn bà còn đáng sợ hơn người đàn ông, hơi thở chết chóc toát ra từ miệng chị, tôi không thở nổi vì cái mùi của sự chết. Chị muốn đuổi tôi ra ngoài trời rét, và tôi biết rằng nếu đuổi tôi đi, chị sẽ chết. Bỗng người chồng nhắc chị nhớ đến Chúa, và người đàn bà bỗng thay đổi. Và khi chị dọn bữa tối cho chúng tôi, mắt cứ nhìn tôi, tôi nhìn chị, thì trong chị đã không còn cái chết nữa, chị đã sống, và trong chị tôi cũng nhận ra Chúa.

Và tôi nhớ đến lời thứ nhất của Chúa: "Ngươi sẽ biết trong con người có gì." Và tôi biết rằng trong con người có tình thương. Tôi mừng vì Chúa đã bắt đầu tỏ cho tôi điều Người đã hứa, và tôi mỉm cười lần thứ nhất. Nhưng tôi chưa thể biết hết. Tôi chưa hiểu được điều gì không được ban cho con người, và con người sống bằng gì.

Tôi bắt đầu sống ở nhà hai bác, và sống được một năm. Rồi có một người đến đặt làm đôi ủng đi cả năm không bục chỉ, không méo mó. Tôi nhìn người ấy, và bỗng thấy sau vai người ấy là bạn tôi, thiên thần của sự chết. Ngoài tôi ra không ai thấy thiên thần ấy, nhưng tôi biết bạn tôi, và biết rằng mặt trời chưa lặn thì linh hồn người nhà giàu đã bị đem đi. Và tôi nghĩ: "Con người lo xa cho mình cả một năm, mà không biết mình chẳng sống được đến tối." Và tôi nhớ đến lời thứ hai của Chúa: "Ngươi sẽ biết điều gì không được ban cho con người."

Trong con người có gì, thì tôi đã biết. Nay tôi biết điều gì không được ban cho con người. Con người không được ban cho cái biết, là mình cần gì cho thân thể mình. Và tôi mỉm cười lần thứ hai. Tôi mừng vì được gặp thiên thần bạn tôi, và mừng vì Chúa đã tỏ cho tôi lời thứ hai.

Nhưng tôi chưa hiểu được hết. Tôi chưa hiểu được con người sống bằng gì. Và tôi cứ sống, chờ đến khi Chúa tỏ cho tôi lời cuối cùng. Rồi đến năm thứ sáu, hai bé gái sinh đôi đến cùng người đàn bà, và tôi nhận ra hai bé gái, và biết được hai bé ấy đã sống sót ra sao. Tôi biết được, và tôi nghĩ: "Người mẹ đã xin cho các con, và ta đã tin lời người mẹ, ta tưởng trẻ con không có cha mẹ thì không sống được, vậy mà một người đàn bà xa lạ đã cho chúng bú mớm, nuôi chúng khôn lớn." Và khi người đàn bà rưng rưng thương những đứa con không phải con mình mà bật khóc, tôi thấy trong bà là Chúa hằng sống, và tôi hiểu ra con người sống bằng gì. Tôi biết Chúa đã tỏ cho tôi lời cuối cùng và đã tha thứ cho tôi, và tôi mỉm cười lần thứ ba.

Thân thể của thiên thần hiện ra, toàn thân khoác ánh sáng, đến nỗi mắt không thể nhìn vào. Thiên thần nói to hơn, như thể tiếng nói không phải từ người ấy mà từ trên trời vọng xuống. Thiên thần nói:

— Tôi đã biết rằng mỗi con người sống không phải nhờ lo cho bản thân mình, mà nhờ tình thương.

Người mẹ không được ban cho cái biết, là các con mình cần gì để sống. Người nhà giàu không được ban cho cái biết, là chính mình cần gì. Và không một con người nào được ban cho cái biết, là đến tối nay mình cần đôi ủng cho người sống, hay đôi hài liệm cho chính mình khi đã chết.

Khi tôi là người, tôi sống được không phải nhờ tự mình lo liệu cho mình, mà nhờ trong lòng người đi đường kia và vợ người ấy có tình thương, họ đã thương tôi, quý tôi. Hai đứa trẻ mồ côi sống được không phải nhờ có ai lo liệu cho chúng, mà nhờ trong tim một người đàn bà xa lạ có tình thương, bà đã thương chúng, quý chúng. Và mọi người sống được không phải nhờ họ tự lo liệu cho mình, mà nhờ trong con người có tình thương.

Trước kia tôi biết rằng Chúa ban sự sống cho con người và muốn con người được sống. Giờ tôi còn hiểu thêm một điều nữa.

Tôi hiểu rằng Chúa không muốn con người sống tách rời nhau, nên Người không tỏ cho mỗi người biết mình cần gì cho bản thân. Người muốn con người sống cùng nhau, nên Người tỏ cho họ biết điều mà tất cả họ cần, cho mình và cho mọi người.

Giờ tôi đã hiểu rằng con người chỉ tưởng mình sống được là nhờ lo cho bản thân, còn thật ra họ sống được chỉ nhờ tình thương. Ai ở trong tình thương thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy, vì Chúa là tình thương.

Rồi thiên thần cất tiếng hát ngợi ca Chúa, và giọng hát của thiên thần làm rung chuyển cả căn nhà. Trần nhà mở ra, một cột lửa vươn lên từ mặt đất đến tận trời. Xê-miôn cùng vợ con ngã sụp xuống đất. Đôi cánh sau lưng thiên thần xoè ra, và thiên thần bay lên trời.

Khi Xê-miôn tỉnh lại, căn nhà vẫn như cũ, và trong nhà không còn ai khác ngoài những người trong gia đình.

— Hết —

Mục lục Người ta sống bằng gì

  1. 1Người khách lạ sau nhà nguyện22 phút
  2. 2Ba nụ cười14 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1881
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Чем люди живы, 1881
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →