Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chương một. Con bọ chét thép của người Anh

Người thợ thuận tay trái · Chương 1/3 · của Nikolai Leskov

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 17.983 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Khi hoàng đế A-lếch-xan-đrơ Páp-lô-vích dự xong hội nghị…
  2. 3:15Nhà vua nói:
  3. 4:54Sao khanh lại làm họ bẽ mặt quá thế,…
  4. 6:42Nhà vua giật tay áo ông, khẽ bảo:
  5. 7:50Thưa, họ đáp, đây không phải hạt bụi, mà…
  6. 9:44Sao lại có cái trò lừa đảo ấy! Đã…
  7. 12:42Hoàng đế Ni-cô-lai Páp-lô-vích lúc đầu cũng chẳng để…
  8. 15:08Lão già can đảm, lão nói hay lắm, ta…

Chương 1: Chương một. Con bọ chét thép của người Anh

Khi hoàng đế A-lếch-xan-đrơ Páp-lô-vích dự xong hội nghị Viên, ngài muốn đi một vòng châu Âu, xem những điều kỳ lạ ở các nước. Ngài đi khắp các xứ, và nhờ tính hiền hoà, ở đâu ngài cũng trò chuyện thân mật với đủ hạng người, ai cũng tìm cách làm ngài kinh ngạc vì cái gì đó, muốn kéo ngài về phía mình. Nhưng đi theo ngài có ông Pla-tốp, người Cô-dắc vùng sông Đông, không ưa cái trò lôi kéo ấy, lại nhớ nhà, nên cứ giục nhà vua về. Hễ Pla-tốp thấy nhà vua thích thú một món gì của nước ngoài, thì trong khi cả đoàn tuỳ tùng im thin thít, Pla-tốp lập tức nói: thế này thế nọ, ở nhà ta cũng có thứ của ta chẳng kém, rồi bằng cách gì đó lái đi.

Người Anh biết thế, nên trước khi nhà vua tới, họ nghĩ ra đủ mưu mẹo để lấy cái lạ của nước ngoài mà bắt giữ ngài, kéo ngài khỏi người Nga, và nhiều lần họ đạt được ý muốn, nhất là trong những buổi họp đông người, nơi Pla-tốp không nói tiếng Pháp được trọn vẹn. Nhưng ông cũng chẳng mấy bận tâm, vì ông là người có vợ, và coi mọi câu chuyện tiếng Pháp là chuyện vặt, chẳng đáng để tưởng tượng. Còn khi người Anh bắt đầu mời nhà vua tới đủ các kho quân nhu, xưởng súng, xưởng xà phòng xưởng cưa của họ, để khoe cái hơn ta về mọi mặt mà lấy làm vẻ vang, thì Pla-tốp tự nhủ:

— Thôi, thế là đủ rồi. Tới giờ ta còn nhịn được, chứ tới đây thì không. Nói được hay không nói được, ta cũng không để người của ta bị bán rẻ.

Ông vừa tự nhủ câu ấy, thì nhà vua bảo ông:

— Thế này nhé, mai ta với khanh đi xem cái phòng trưng bày vũ khí kỳ lạ của họ. Người ta bảo, ở đó có những sự hoàn hảo của tạo hoá đến mức xem xong thì sẽ thôi cãi rằng người Nga chúng ta, với chút giá trị của mình, chẳng làm nên trò trống gì.

Pla-tốp chẳng đáp nhà vua, chỉ dụi cái mũi sần sùi vào tấm áo choàng lông xù, rồi về chỗ trọ, sai lính hầu lấy trong cái rương nhỏ ra một bình rượu Kít-li-a vùng Cáp-ca, nốc một cốc ra trò, cầu nguyện trước bộ tranh thánh gấp mang đi đường, rồi trùm áo choàng ngáy to tới mức cả nhà không người Anh nào ngủ được.

Ông nghĩ: để mai sáng rồi tính, sáng ra bao giờ cũng khôn hơn đêm.

Hôm sau, nhà vua với Pla-tốp đi xem phòng trưng bày. Nhà vua chẳng đem theo người Nga nào khác, vì xe người ta đưa tới chỉ có hai chỗ.

Họ tới một toà nhà không lớn, cổng vào đẹp không tả xiết, hành lang dài vô tận, phòng nọ nối phòng kia, và cuối cùng, trong gian chính, có đủ những tượng bán thân khổng lồ, còn ở giữa, dưới một cái lọng, là bức tượng thần A-bô-lông Ben-vê-đe.

Nhà vua ngoái nhìn Pla-tốp xem ông có ngạc nhiên lắm không, đang nhìn cái gì, thì ông cứ đi, mắt nhìn xuống đất như chẳng thấy gì, chỉ xoắn ria thành vòng.

Người Anh lập tức bắt đầu cho xem đủ thứ kỳ lạ, giải thích cái gì của họ được làm cho hợp với chuyện chiến trận: nào bão kế đo gió biển, nào áo choàng da lạc đà cho bộ binh, nào áo đi mưa tẩm nhựa thông không thấm nước cho kỵ binh. Nhà vua thấy cái gì cũng vui, cái gì cũng có vẻ rất hay, còn Pla-tốp thì giữ cái vẻ đợi chờ của mình, coi mọi thứ chẳng đáng gì.

Nhà vua nói:

— Sao lại thế được, sao khanh lại vô cảm thế? Chẳng lẽ ở đây không có gì làm khanh ngạc nhiên sao?

Pla-tốp đáp:

— Thần chỉ ngạc nhiên mỗi một điều ở đây: các chàng trai sông Đông của thần chẳng có những thứ ấy mà vẫn đánh đuổi được mười hai thứ tiếng quân giặc.

Nhà vua nói:

— Thế là thiếu suy xét.

Pla-tốp đáp:

— Thần chẳng biết nên coi là gì, nhưng thần không dám cãi, đành im lặng.

Còn người Anh, thấy giữa nhà vua với ông có chuyện qua lại như thế, liền dẫn ngài tới ngay bức tượng A-bô-lông Ben-vê-đe, lấy từ một tay tượng khẩu súng trường của Moóc-ti-mơ, từ tay kia khẩu súng ngắn.

— Đây, họ nói, năng lực sản xuất của chúng tôi là thế đấy.

Rồi họ đưa khẩu súng trường. Nhà vua nhìn khẩu súng của Moóc-ti-mơ bình thản, vì ở Xa-xcôi-ê Xê-lô ngài có những khẩu như thế. Rồi họ đưa ngài khẩu súng ngắn và nói:

— Đây là khẩu súng ngắn của một tay thợ không ai biết tên, tay nghề không ai bắt chước được. Đô đốc của chúng tôi đã giật nó từ thắt lưng một tên tướng cướp ở xứ Can-đê-la-bri-a.

Nhà vua nhìn khẩu súng ngắn mà ngắm mãi không chán.

Ngài trầm trồ ghê lắm.

— Ồ, ồ, ồ! Ngài nói. Sao lại thế được… sao lại có thể làm tinh xảo tới mức này! Rồi ngài quay sang Pla-tốp nói bằng tiếng Nga: Giá mà ở nước Nga ta có được dù chỉ một người thợ như thế, ta sẽ sung sướng lắm, tự hào lắm, và ta sẽ lập tức phong cho người thợ ấy làm quý tộc.

Nghe những lời ấy, Pla-tốp lập tức thọc tay phải vào chiếc quần ống rộng của mình, lôi ra một cái tua vít súng. Người Anh bảo: cái này không mở được đâu, còn ông chẳng để ý, cứ thế cạy cái bộ khoá nòng. Xoay một vòng, xoay hai vòng, cái khoá tuột ra. Pla-tốp chỉ cho nhà vua thấy cái cò, và ở đó, ngay chỗ uốn cong, có khắc một dòng chữ Nga: “I-van Mát-xcơ-vin ở thành Tu-la”.

Người Anh ngạc nhiên, huých nhau:

— Ôi, chúng ta hớ rồi!

Còn nhà vua buồn bã bảo Pla-tốp:

— Sao khanh lại làm họ bẽ mặt quá thế, giờ ta thấy thương họ lắm. Ta về thôi.

Họ lại ngồi lên cỗ xe hai chỗ mà về. Hôm ấy nhà vua dự dạ hội, còn Pla-tốp vắt cạn một cốc rượu Kít-li-a còn to hơn, rồi ngủ giấc ngủ say của người Cô-dắc.

Ông vừa vui vì đã làm người Anh bẽ mặt, đưa được người thợ Tu-la lên đúng chỗ đáng được nhìn thấy, lại vừa bực: sao nhà vua lại thương người Anh trong một dịp như thế!

“Sao nhà vua lại buồn lòng nhỉ?” Pla-tốp nghĩ. “Mình hoàn toàn chẳng hiểu.” Và trong khi suy nghĩ như thế, ông hai lần trở dậy, làm dấu thánh rồi uống rượu, cho tới khi gắng gượng lắm mới tự bắt mình ngủ say được.

Còn người Anh thì chính lúc ấy cũng không ngủ, vì họ cũng bị cái gì đó xoay mòng mòng trong đầu. Trong lúc nhà vua vui chơi ở dạ hội, họ đã dựng sẵn cho ngài một điều kỳ lạ mới tới mức làm Pla-tốp hết cả trí tưởng tượng.

Hôm sau, khi Pla-tốp tới chào buổi sáng nhà vua, ngài bảo:

— Cho thắng ngay cỗ xe hai chỗ, ta đi xem những phòng trưng bày mới.

Pla-tốp còn dám tâu: xem đồ của ngoại bang thế là đủ chưa ạ, có phải sửa soạn về nước Nga mình thì hơn không? Nhưng nhà vua nói:

— Không, ta còn muốn xem những điều mới khác: người ta khen họ làm đường loại nhất lắm.

Họ đi.

Người Anh cho nhà vua xem đủ thứ: họ có đủ loại hạng nhất thế nào, còn Pla-tốp xem mãi, xem mãi, rồi bỗng nói:

— Thế cho chúng tôi xem đường thỏi “môn-vô” của các xưởng của các ông đi?

Người Anh thì chẳng biết “môn-vô” là cái gì. Họ thì thầm với nhau, nháy mắt với nhau, cứ nhắc đi nhắc lại “môn-vô, môn-vô”, mà không sao hiểu ra đó là thứ đường ở xứ ta, và đành phải thú nhận rằng họ có đủ mọi loại đường, mà “môn-vô” thì không có.

Pla-tốp nói:

— Thế thì có gì mà khoe. Các ông cứ sang chỗ chúng tôi, chúng tôi sẽ mời các ông uống trà với đường “môn-vô” thật của xưởng Bô-brin-xki.

Nhà vua giật tay áo ông, khẽ bảo:

— Ta xin khanh, đừng làm hỏng chính sách của ta.

Bấy giờ người Anh mời nhà vua tới phòng trưng bày cuối cùng, nơi họ tập hợp từ khắp thế giới những hòn đá khoáng vật và những con “tiên trùng”, từ cái kim tự tháp Ai Cập khổng lồ nhất cho tới con bọ chét chui dưới da, mắt không thể nhìn thấy, chỉ có vết nó cắn giữa da với thịt.

Nhà vua đi.

Họ xem những kim tự tháp với đủ các con thú nhồi bông rồi đi ra, còn Pla-tốp nghĩ bụng:

“Thế là, lạy Chúa, mọi chuyện đều ổn cả, nhà vua chẳng ngạc nhiên vì cái gì.”

Nhưng vừa tới căn phòng cuối cùng, thì ở đó có mấy người thợ của họ mặc áo gi-lê, đeo tạp dề, bưng một cái khay chẳng có gì trên đó.

Nhà vua bỗng ngạc nhiên vì người ta dâng mình một cái khay không.

— Thế này nghĩa là sao? Ngài hỏi. Mấy người thợ Anh đáp: đây là lễ vật kính dâng của chúng tôi lên bệ hạ.

— Thế là cái gì?

— Thưa, họ nói, bệ hạ có thấy hạt bụi nhỏ này không ạ?

Nhà vua nhìn, thấy đúng là trên cái khay bạc có một hạt bụi bé xíu.

Mấy người thợ nói:

— Xin bệ hạ thấm nước bọt vào ngón tay rồi lấy nó đặt lên lòng bàn tay.

— Ta cần hạt bụi ấy làm gì?

— Thưa, họ đáp, đây không phải hạt bụi, mà là con tiên trùng ạ.

— Nó sống à?

— Không ạ, họ đáp, nó không sống, mà là do chúng tôi rèn từ thép Anh nguyên chất thành hình con bọ chét, bên trong có dây cót và lò xo. Xin bệ hạ lấy chìa khoá vặn, nó sẽ lập tức nhảy điệu đăng-xê.

Nhà vua tò mò, hỏi:

— Thế chìa khoá đâu?

Người Anh nói:

— Chìa khoá ở ngay trước mắt bệ hạ đây ạ.

— Thế sao, nhà vua nói, ta không thấy nó?

— Bởi vì, họ đáp, phải soi bằng kính hiển tí ạ.

Người ta đưa tới cái kính hiển tí, và nhà vua thấy quả đúng là trên cái khay, cạnh con bọ chét, có một cái chìa khoá nhỏ.

— Xin bệ hạ, họ nói, cầm nó lên lòng bàn tay. Ở cái bụng nhỏ của nó có lỗ lên dây cót, còn chìa khoá thì vặn bảy vòng, rồi nó sẽ nhảy đăng-xê…

Nhà vua khó nhọc lắm mới cầm được cái chìa khoá, khó nhọc lắm mới giữ nổi nó trong hai đầu ngón tay, còn tay kia cầm con bọ chét, và vừa tra chìa khoá vào, ngài đã cảm thấy nó bắt đầu ngọ nguậy râu, rồi bắt đầu cử động chân, và cuối cùng bỗng nhảy lên, giữa không trung làm một điệu đăng-xê thẳng tắp với hai vòng biến tấu sang một bên, rồi sang bên kia, và cứ thế ba vòng biến tấu là nhảy trọn cả một điệu ca-đơ-rin.

Nhà vua lập tức ra lệnh trả cho người Anh một triệu, họ muốn tiền gì cũng được: muốn bằng đồng bạc năm cô-pếch, muốn bằng tiền giấy lẻ.

Người Anh xin trả bằng bạc, vì tiền giấy họ chẳng biết dùng thế nào. Rồi ngay lập tức họ giở thêm một mẹo nữa: con bọ chét thì họ dâng làm quà, mà cái hộp đựng thì không mang tới. Mà không có hộp thì chẳng giữ được cả nó lẫn cái chìa khoá, vì sẽ lạc mất, lẫn vào rác mà bị vứt đi. Còn cái hộp đựng nó thì họ làm bằng nguyên một hạt kim cương hình hạt dẻ, ở giữa khoét sẵn một chỗ cho nó nằm. Cái ấy họ không dâng, vì họ bảo cái hộp như là của công, mà họ thì nghiêm lắm về của công, dù là cho nhà vua cũng không được biếu.

Pla-tốp đã nổi giận ghê lắm, ông bảo:

— Sao lại có cái trò lừa đảo ấy! Đã tặng quà, đã nhận một triệu cho món quà ấy, mà vẫn còn chưa đủ! Cái hộp, ông nói, bao giờ cũng đi theo món đồ.

Nhưng nhà vua nói:

— Thôi, ta xin khanh, việc này không phải việc của khanh, đừng làm hỏng chính sách của ta. Họ có lệ của họ.

Rồi ngài hỏi:

— Hạt kim cương đựng con bọ chét giá bao nhiêu?

Người Anh đòi thêm năm nghìn cho cái ấy.

Hoàng đế A-lếch-xan-đrơ Páp-lô-vích phán: “Trả đi”, rồi tự tay thả con bọ chét vào hạt dẻ kim cương, cả cái chìa khoá theo nó, và để khỏi mất chính hạt dẻ, ngài thả nó vào cái hộp thuốc lá hít bằng vàng của mình, rồi sai đặt hộp thuốc lá vào cái tráp đi đường của ngài, lót toàn xà cừ với xương cá. Còn những người thợ Anh thì nhà vua cho về một cách trọng thị và bảo họ: các ông là những người thợ số một trên khắp thế gian, người của ta chẳng làm được gì sánh với các ông.

Họ rất hài lòng về điều ấy, còn Pla-tốp chẳng nói được gì trái với lời nhà vua. Ông chỉ cầm lấy cái kính hiển tí, chẳng nói chẳng rằng nhét vào túi mình, vì ông bảo nó cũng đi theo món đồ, mà tiền thì các ông đã lấy của chúng tôi khối rồi.

Nhà vua không biết chuyện ấy cho tới khi về tới Nga. Mà họ về sớm, vì việc binh làm nhà vua sinh u sầu, ngài muốn được xưng tội với cha Phê-đốt ở Ta-gan-rốc. Dọc đường ngài với Pla-tốp ít có chuyện vui, vì hai người đã có ý nghĩ hoàn toàn khác nhau: nhà vua cho rằng về tay nghề thì người Anh chẳng ai bì kịp, còn Pla-tốp thì cãi rằng người của ta nhìn vào cái gì cũng làm được hết, có điều họ không được học hành có ích. Và ông trình bày với nhà vua rằng những người thợ Anh có những quy tắc sống, học hành và ăn uống khác hẳn, ai cũng có trước mặt mình mọi điều kiện tuyệt đối, vì thế mà đầu óc họ khác hẳn.

Nhà vua không muốn nghe lâu những lời ấy, còn Pla-tốp thì đến trạm nào cũng xuống, bực mình nốc một cốc rượu to bằng cốc nước bánh mì chua, nhắm một cái bánh vòng mặn, châm cái tẩu gỗ rễ cây mà mỗi lần nhồi được cả một cân thuốc lá Giu-cốp, rồi ngồi im lặng cạnh nhà vua trong xe. Nhà vua nhìn ra một bên, còn Pla-tốp thò cán tẩu ra cửa sổ bên kia mà phả khói vào gió. Cứ thế họ về tới Pê-téc-bua, và tới chỗ cha Phê-đốt thì nhà vua chẳng đem Pla-tốp theo nữa.

— Khanh, ngài nói, không biết kiêng khem trong chuyện bàn đạo, lại hút thuốc nhiều quá, khói của khanh làm đầu ta toàn bồ hóng.

Pla-tốp bị tủi, về nhà nằm lên cái trường kỷ hờn dỗi, rồi cứ thế nằm mãi mà hút thuốc lá Giu-cốp không ngớt.

Con bọ chét kỳ lạ bằng thép Anh nhuộm xanh vẫn nằm trong tráp dưới lớp xương cá của A-lếch-xan-đrơ Páp-lô-vích cho tới khi ngài băng hà ở Ta-gan-rốc. Ngài giao nó cho cha Phê-đốt, để sau này trao lại cho hoàng hậu khi bà đã nguôi lòng. Hoàng hậu Ê-li-da-vê-ta A-lếch-xê-ép-na xem những vòng biến tấu của con bọ chét, mỉm cười, nhưng chẳng để tâm tới nó.

— Giờ phận ta là goá bụa, bà nói, chẳng trò vui nào quyến rũ được ta nữa.

Về tới Pê-téc-bua, bà trao món đồ kỳ lạ ấy cùng mọi thứ của quý khác làm gia tài cho nhà vua mới.

Hoàng đế Ni-cô-lai Páp-lô-vích lúc đầu cũng chẳng để ý gì tới con bọ chét, vì khi ngài lên ngôi đang có rối loạn. Nhưng rồi có một lần ngài lục xem cái tráp của người anh để lại, lấy trong đó ra cái hộp thuốc lá, lấy trong hộp ra hạt dẻ kim cương, và trong hạt dẻ thấy con bọ chét thép, đã lâu không được lên dây nên không chạy, cứ nằm im như cứng đờ.

Nhà vua nhìn mà ngạc nhiên.

— Cái thứ vớ vẩn gì thế này, mà sao anh trai ta lại cất giữ cẩn thận thế!

Bọn quan hầu định vứt đi, nhưng nhà vua nói:

— Không, cái này hẳn có ý nghĩa gì đó.

Người ta gọi từ hiệu thuốc ở cầu A-nít-scốp tới một nhà hoá học vẫn cân thuốc độc trên những chiếc cân nhỏ nhất, đưa cho ông ta xem. Ông ta lập tức cầm con bọ chét đặt lên lưỡi rồi nói: “Tôi thấy lạnh, như lạnh của kim loại cứng.” Rồi ông ta lấy răng khẽ bóp nó, rồi tuyên bố:

— Tuỳ các ngài, nhưng đây không phải con bọ chét thật, mà là con tiên trùng, nó được làm bằng kim loại, mà đây không phải tay nghề của ta, không phải của người Nga.

Nhà vua ra lệnh tìm hiểu ngay: nó từ đâu tới, có nghĩa là gì?

Người ta lao vào lục hồ sơ, sổ sách, nhưng trong hồ sơ chẳng ghi gì. Hỏi người này người kia, chẳng ai biết gì. Nhưng may sao Pla-tốp, người Cô-dắc sông Đông, vẫn còn sống, thậm chí vẫn đang nằm trên cái trường kỷ hờn dỗi mà hút tẩu. Nghe trong cung đang lo lắng như thế, ông lập tức rời trường kỷ, vứt tẩu, đeo đủ các thứ huân chương tới gặp nhà vua. Nhà vua nói:

— Lão già can đảm, lão cần gì ở ta?

Pla-tốp đáp:

— Thưa bệ hạ, thần chẳng cần gì cho mình cả, vì thần muốn ăn gì uống gì cũng có, mọi sự đều mãn nguyện. Thần tới, ông nói, để tâu về con tiên trùng vừa tìm thấy: chuyện thế này thế này, xảy ra thế này trước mắt thần ở nước Anh. Ở đây có cái chìa khoá của nó, còn thần có cái kính hiển tí của chính họ để nhìn thấy nó, và dùng chìa khoá này qua cái bụng nhỏ mà lên dây cho con tiên trùng thì nó sẽ nhảy trong bất cứ khoảng nào, và làm những vòng biến tấu sang hai bên.

Người ta lên dây, nó nhảy ngay, còn Pla-tốp nói:

— Thưa bệ hạ, công việc này quả là tinh xảo và thú vị, nhưng ta không nên chỉ ngạc nhiên mà ngây ngất, mà phải đem nó tới cho thợ Nga xem lại ở Tu-la hay ở Xét-téc-béc, hồi ấy Xét-xtơ-rô-rét-xcơ còn gọi là Xét-téc-béc, xem thợ ta có vượt được cái này không, để người Anh khỏi lên mặt với người Nga.

Hoàng đế Ni-cô-lai Páp-lô-vích rất tin vào người Nga của mình, không thích nhường bất cứ người nước ngoài nào, liền đáp Pla-tốp:

— Lão già can đảm, lão nói hay lắm, ta giao việc này cho lão. Cái hộp nhỏ này bây giờ với bao nhiêu bận rộn của ta thì ta cũng chẳng cần. Lão hãy cầm theo, và đừng nằm trên cái trường kỷ hờn dỗi nữa, mà đi về miền sông Đông êm ả, chuyện trò với những người Cô-dắc sông Đông của ta về đời sống của họ, lòng trung thành của họ, họ thích gì. Còn khi đi qua Tu-la, hãy cho những người thợ Tu-la của ta xem con tiên trùng này, để họ suy nghĩ về nó. Nói với họ từ ta rằng anh trai ta đã ngạc nhiên về món này, và khen những người nước ngoài đã làm ra nó hơn ai hết, còn ta thì tin người của ta chẳng kém ai. Họ sẽ không để lời ta rơi xuống đất, sẽ làm được cái gì đó.

Pla-tốp cầm con bọ chét thép, và khi đi qua Tu-la về sông Đông, ông cho những người thợ súng Tu-la xem, truyền lại lời nhà vua, rồi hỏi:

— Giờ ta làm thế nào đây, hỡi những người có đạo?

Những người thợ súng đáp:

— Thưa cụ, chúng con cảm nhận được lời nhân từ của nhà vua và chẳng bao giờ quên được, vì ngài tin vào người của mình. Còn trong việc này chúng con làm thế nào, thì chúng con không nói ngay được trong một phút, vì giống người Anh cũng chẳng ngốc, mà còn khá ranh, tay nghề của họ có nhiều ý tứ lắm. Chống lại họ, họ nói, phải suy nghĩ kỹ rồi mới làm, và nhờ phúc lành của Chúa. Còn cụ, nếu cụ cũng như nhà vua mà tin chúng con, thì cụ cứ về miền sông Đông êm ả, để con bọ chét này lại cho chúng con, cứ để nguyên như thế, trong hộp và trong cái hộp thuốc lá vàng của nhà vua. Cụ cứ đi chơi dọc sông Đông, chữa lành những vết thương đã mang vì tổ quốc, còn khi nào cụ quay về qua Tu-la thì dừng lại, cho người gọi chúng con: tới lúc ấy, Chúa cho, chúng con sẽ nghĩ ra được cái gì đó.

Pla-tốp không hoàn toàn bằng lòng chuyện người Tu-la đòi nhiều thời gian như thế, lại chẳng nói rõ họ định làm cái gì. Ông hỏi họ thế này, hỏi thế kia, giở đủ trò ranh mãnh kiểu sông Đông mà gạn, nhưng người Tu-la chẳng chịu kém ông chút nào về ranh mãnh. Vì ngay từ đầu họ đã có một ý định mà họ chẳng mong cả Pla-tốp tin nổi, nên họ muốn cứ thế thực hiện cái tưởng tượng táo bạo của mình, làm xong rồi mới trao.

Họ nói:

— Chính chúng con cũng chưa biết sẽ làm gì, chỉ trông vào Chúa, và may ra lời nhà vua vì chúng con mà không phải hổ thẹn.

Thế là Pla-tốp vòng vo, người Tu-la cũng vòng vo.

Pla-tốp vòng vo mãi, rồi thấy chẳng vòng vo hơn được người Tu-la, ông đưa cho họ cái hộp thuốc lá có con tiên trùng, nói:

— Thôi, đành vậy, cứ theo ý các anh. Tôi biết các anh là hạng người thế nào, nhưng đành vậy, tôi tin các anh. Có điều coi chừng, đừng có đánh tráo hạt kim cương, đừng làm hỏng tay nghề tinh xảo của người Anh, mà cũng đừng loay hoay lâu, vì tôi đi nhanh lắm: chưa tới hai tuần là tôi đã từ sông Đông quay về Pê-téc-bua. Lúc ấy nhất định phải có cái gì cho tôi trình nhà vua.

Những người thợ súng làm ông hoàn toàn yên lòng:

— Tay nghề tinh xảo, họ nói, chúng con không làm hỏng, kim cương chúng con không đánh tráo, còn hai tuần thì đủ thời gian cho chúng con. Tới lúc cụ trở về, sẽ có cái gì đó xứng đáng với sự huy hoàng của nhà vua để cụ trình.

Nhưng cái gì đó là cái gì, thì rốt cuộc họ vẫn không nói.

— Hết chương 1 —

Mục lục Người thợ thuận tay trái

  1. 1Chương một. Con bọ chét thép của người Anh18 phút
  2. 2Chương hai. Những người thợ thành Tu-laĐang thu âm
  3. 3Chương ba. Người thợ Tu-la ở nước AnhĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNikolai Leskov (1831 – 1895)
Năm mất1895
Xuất bản lần đầu1881
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Левша. Сказ о тульском косом Левше и о стальной блохе, 1881; bản Toàn tập 1902–1903
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →