Chương 1: Bị bắt trên đường núi
Có một chàng quý tộc làm sĩ quan ở Cáp-ca. Chàng tên là Gi-lin.
Một hôm chàng nhận được thư nhà. Bà mẹ già viết cho chàng: "Mẹ đã già lắm rồi, trước khi chết mẹ muốn được gặp đứa con trai yêu quý. Con về từ biệt mẹ, chôn cất mẹ, rồi sau đó cầu Chúa phù hộ, con lại đi làm việc quan. Mà mẹ đã tìm cho con một cô vợ: vừa thông minh, vừa tốt nết, lại có cả điền trang. Biết đâu con ưng ý, con cưới vợ rồi ở hẳn nhà."
Gi-lin suy nghĩ: "Mà đúng thật, bà cụ đã yếu lắm rồi, có khi chẳng còn được gặp nữa. Thôi thì về. Mà nếu cô dâu tốt thì cưới cũng được."
Chàng lên gặp ông đại tá, xin được giấy phép nghỉ, từ biệt bạn bè, khao lính của mình bốn thùng rượu vodka chia tay, rồi sửa soạn lên đường.
Hồi ấy ở Cáp-ca đang có chiến tranh. Trên các nẻo đường, đêm cũng như ngày, không ai qua lại được. Người Nga nào hễ rời pháo đài một chút, đi ngựa hay đi bộ, là bị người Tác-ta giết, hoặc bắt đem lên núi. Nên người ta có lệ, mỗi tuần hai lần, lính hộ tống đi từ pháo đài này sang pháo đài kia. Lính đi đằng trước và đằng sau, còn dân thường thì đi ở giữa.
Hôm ấy là mùa hè. Mờ sáng, các đoàn xe tập trung ngoài pháo đài, lính hộ tống ra, rồi cả đoàn lên đường. Gi-lin cưỡi ngựa, còn chiếc xe chở đồ đạc của chàng đi trong đoàn xe.
Đường đi dài hai mươi lăm dặm. Đoàn xe đi chậm: khi thì lính dừng lại, khi thì xe ai tuột bánh hay ngựa ai đứng ì, thế là cả đoàn lại dừng chờ.
Mặt trời đã quá trưa mà đoàn xe mới đi được nửa đường. Bụi bặm, nóng nực, mặt trời thiêu đốt, chẳng có chỗ nào mà trú. Thảo nguyên trơ trụi: dọc đường không một gốc cây, không một bụi cỏ.
Gi-lin phóng ngựa lên trước, dừng lại chờ đoàn xe đến. Chàng nghe phía sau có tiếng tù và, lại phải dừng nữa rồi. Gi-lin bèn nghĩ: "Hay là mình đi một mình, chẳng cần lính? Con ngựa của mình tốt, có gặp bọn Tác-ta thì mình phi nước đại mà thoát. Hay là đừng đi?…"
Chàng dừng lại, đắn đo. Thì một sĩ quan khác là Cô-xtư-lin, đeo súng, cưỡi ngựa đến bên chàng mà nói:
— Gi-lin, ta đi riêng đi. Không chịu nổi nữa rồi, đói quá, mà lại nóng. Áo sơ mi tôi vắt ra được nước đây này. Cô-xtư-lin là người to béo, nặng nề, mặt đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng. Gi-lin nghĩ một lúc rồi nói:
— Súng có lắp đạn chưa?
— Lắp rồi.
— Thế thì đi. Nhưng giao hẹn là không được rời nhau.
Thế là hai người phóng ngựa lên trước theo con đường. Họ đi qua thảo nguyên, vừa trò chuyện vừa nhìn ngó hai bên. Xung quanh trông được rất xa.
Hết thảo nguyên, con đường đi vào một hẻm núi kẹp giữa hai ngọn núi. Gi-lin bảo:
— Phải lên núi mà nhìn xem, không thì có khi chúng từ trong núi xông ra mà mình chẳng thấy.
Còn Cô-xtư-lin thì nói:
— Nhìn làm gì? Cứ đi thẳng.
Gi-lin không nghe anh ta.
— Không, chàng nói, anh đợi ở dưới, để tôi lên nhìn một cái thôi.
Rồi chàng cho ngựa rẽ trái, lên núi. Con ngựa của Gi-lin là ngựa săn. Chàng đã mua nó từ khi còn là ngựa non trong một đàn ngựa, trả một trăm rúp, rồi tự tay luyện lấy. Nó đưa chàng lên dốc đứng nhanh như có cánh. Vừa lên tới đỉnh, chàng nhìn thì thấy ngay trước mặt mình, chỉ cách vài chục bước, một toán người Tác-ta cưỡi ngựa. Chừng ba chục người. Chàng thấy chúng, liền quay ngựa lại. Bọn Tác-ta cũng thấy chàng, lao tới, vừa phi ngựa vừa rút súng khỏi bao. Gi-lin cho ngựa phi hết sức xuống dốc, hét to với Cô-xtư-lin:
— Rút súng ra! còn trong bụng thì chàng nói với con ngựa của mình: "Ngựa ơi, cứu tao với, đừng vướng chân, vấp một cái là tao chết. Tới được chỗ khẩu súng là tao chẳng để chúng bắt sống đâu."
Nhưng Cô-xtư-lin, đáng lẽ phải đợi, thì vừa thấy bọn Tác-ta đã ba chân bốn cẳng phóng về pháo đài. Anh ta quất roi vào ngựa hết bên này lại bên kia. Chỉ còn thấy trong đám bụi cái đuôi ngựa ngoe nguẩy.
Gi-lin thấy nguy rồi. Khẩu súng đã chạy mất, chỉ có thanh gươm thì chẳng làm gì được. Chàng cho ngựa quay lại, về phía đoàn lính, định thoát. Chàng thấy sáu tên đang phi ngựa chặn đầu. Ngựa của chàng tốt, nhưng ngựa của chúng còn tốt hơn, lại phi chặn ngang. Chàng định ghìm cương quay lại, nhưng con ngựa đã lao đi, không giữ được nữa, cứ thế bay thẳng về phía chúng. Chàng thấy một tên Tác-ta râu đỏ cưỡi con ngựa xám đang tiến lại gần mình. Hắn rú lên, nhe răng, súng lăm lăm trong tay.
"Hừ, Gi-lin nghĩ, tao biết tỏng chúng mày, lũ quỷ: bắt sống được thì chúng mày sẽ nhốt xuống hố, lấy roi quất. Tao không để chúng mày bắt sống đâu…"
Gi-lin người tuy không cao lớn, nhưng gan dạ lắm. Chàng rút gươm, cho ngựa lao thẳng vào tên Tác-ta râu đỏ, nghĩ bụng: "Hoặc lấy ngựa mà húc ngã nó, hoặc chém nó một nhát."
Chỉ còn cách một thân ngựa nữa thì phía sau có tiếng súng bắn theo chàng, trúng con ngựa. Con ngựa ngã vật xuống đất hết sức mạnh, đè lên chân Gi-lin.
Chàng định đứng dậy, thì hai tên Tác-ta hôi hám đã ngồi đè lên người chàng, bẻ quặt hai tay chàng ra sau. Chàng vùng lên, hất hai tên ra, nhưng lại có thêm ba tên nhảy xuống ngựa xông vào, lấy báng súng nện vào đầu chàng. Mắt chàng hoa lên, người lảo đảo. Bọn Tác-ta tóm lấy chàng, tháo những sợi đai yên dự phòng, trói quặt hai tay chàng ra sau lưng, thắt nút kiểu Tác-ta, rồi lôi chàng đến bên yên ngựa. Chúng hất văng mũ của chàng, lột ủng, lục lọi khắp người, lấy tiền, lấy đồng hồ, xé rách tả tơi quần áo. Gi-lin ngoái nhìn con ngựa của mình. Tội nghiệp con vật, nó ngã nghiêng thế nào thì vẫn nằm nguyên thế, chỉ có bốn chân giãy giụa, không chạm được đất. Trên đầu nó thủng một lỗ, máu đen từ lỗ ấy phụt ra thành tia, thấm ướt cả một sải đất bụi quanh đó. Một tên Tác-ta đến bên con ngựa, định tháo yên, con ngựa vẫn giãy giụa. Hắn rút dao găm, cứa vào cổ họng nó. Từ cổ họng có tiếng rít lên, con ngựa giật nảy một cái, rồi tắt thở.
Bọn Tác-ta tháo yên, tháo dây cương. Tên Tác-ta râu đỏ cưỡi lên ngựa, mấy tên khác nhấc Gi-lin đặt ngồi lên yên sau lưng hắn, rồi để chàng khỏi ngã, chúng lấy dây da buộc chàng vào thắt lưng tên Tác-ta, rồi đưa chàng lên núi.
Gi-lin ngồi sau tên Tác-ta, người lắc lư, mặt cứ đập vào tấm lưng hôi hám của hắn. Chàng chỉ thấy trước mặt tấm lưng Tác-ta to bè, cái cổ nổi gân, và cái gáy cạo trọc xanh xanh dưới vành mũ. Đầu Gi-lin bị vỡ, máu khô đóng cục trên mắt. Mà chàng không sao ngồi cho vững trên ngựa được, cũng chẳng lau được máu. Hai tay bị trói chặt đến nỗi xương đòn đau nhức.
Họ lên núi rất lâu, lội qua một con sông, ra đến một con đường, rồi đi theo một thung lũng.
Gi-lin muốn ghi nhớ đường đi, xem người ta đưa mình đến đâu, nhưng máu dính đầy mắt, mà lại không quay người được.
Trời bắt đầu chạng vạng. Họ lội qua thêm một con suối nữa, rồi leo lên một ngọn núi đá. Có mùi khói, có tiếng chó sủa. Họ đã về tới một bản làng của người miền núi. Bọn Tác-ta xuống ngựa, lũ trẻ con Tác-ta kéo tới, vây quanh Gi-lin, kêu chí chóe, mừng rỡ, rồi ném đá vào chàng.
Tên Tác-ta đuổi lũ trẻ đi, nhấc Gi-lin xuống ngựa, rồi gọi người làm. Một người Nô-gai đi tới, gò má cao, chỉ mặc mỗi chiếc áo sơ mi. Áo rách tả tơi, hở cả ngực. Tên Tác-ta ra lệnh gì đó. Người làm mang đến một cái cùm: hai khúc gỗ sồi xỏ vào những cái vòng sắt, một cái vòng có then và ổ khoá.
Người ta cởi trói tay cho Gi-lin, tra cùm vào chân chàng, rồi dẫn vào một cái kho. Chúng đẩy chàng vào rồi khoá cửa lại. Gi-lin ngã vật xuống đống phân. Chàng nằm một lúc, rồi mò mẫm trong bóng tối tìm chỗ nào êm hơn, và nằm xuống.
Gần suốt đêm ấy Gi-lin không ngủ. Đêm mùa hè ngắn. Chàng thấy qua khe hở có ánh sáng. Gi-lin đứng dậy, khoét cái khe cho rộng thêm, rồi ghé nhìn.
Qua khe hở, chàng thấy một con đường dốc xuống chân núi. Bên phải là một ngôi nhà Tác-ta, bên cạnh có hai cái cây. Một con chó đen nằm trên ngưỡng cửa, một con dê mẹ dắt mấy con dê con đi lại, ngoe nguẩy cái đuôi. Chàng thấy từ dưới chân núi đi lên một cô gái Tác-ta trẻ, mặc áo dài sặc sỡ, không thắt lưng, mặc quần, đi ủng, đầu trùm một tấm áo khoác, trên đầu đội một cái vò lớn bằng sắt tây đựng nước. Cô đi, lưng hơi run run, người uốn cong, tay dắt một đứa bé Tác-ta trọc đầu, chỉ mặc mỗi cái áo. Cô gái mang nước vào nhà, thì tên Tác-ta râu đỏ hôm qua bước ra, mặc áo choàng lụa, thắt lưng đeo dao găm bạc, chân trần xỏ giày. Trên đầu là chiếc mũ da cừu đen cao, hất ra sau gáy. Hắn bước ra, vươn vai, vuốt vuốt chòm râu đỏ. Hắn đứng một lúc, ra lệnh gì đó cho người làm rồi đi đâu mất.
Sau đó có hai thằng bé cưỡi ngựa đi qua, dắt ngựa đi uống nước. Mũi ngựa ướt nhẹp. Rồi lại có mấy thằng bé đầu trọc chạy ra, chỉ mặc áo, không có quần, tụm lại thành một đám, đến bên cái kho, lấy một cành cây chọc vào khe hở. Gi-lin hét một tiếng thật to: lũ trẻ kêu ré lên, cắm đầu chạy mất, chỉ còn thấy những cái đầu gối trần lấp loáng.
Gi-lin khát nước, cổ họng khô khốc. Chàng nghĩ: "Giá có ai đến xem mình thế nào." Chàng nghe có tiếng mở cửa kho. Tên Tác-ta râu đỏ bước vào, đi cùng một người khác thấp hơn, da ngăm ngăm. Đôi mắt đen, sáng, má hồng hào, râu ngắn tỉa gọn. Gương mặt vui vẻ, lúc nào cũng cười. Người da ngăm này ăn mặc còn đẹp hơn: áo choàng lụa xanh viền đăng ten. Thắt lưng đeo một con dao găm lớn bằng bạc. Chân đi đôi giày đỏ bằng da dê thuộc, cũng viền bạc. Mà trên đôi giày mỏng ấy lại xỏ thêm một đôi giày khác, to dày. Mũ cao bằng da cừu non màu trắng.
Tên Tác-ta râu đỏ bước vào, nói gì đó như đang chửi, rồi đứng tựa khuỷu tay vào khung cửa, mân mê con dao găm, cúi đầu liếc nhìn Gi-lin như con sói. Còn người da ngăm thì nhanh nhẹn, linh hoạt, đi lại như có lò xo trong người. Ông ta đến thẳng chỗ Gi-lin, ngồi xổm xuống, nhe răng cười, vỗ vỗ vai chàng, rồi bắt đầu líu lo nói gì đó bằng tiếng của mình, rất nhanh, mắt nháy nháy, lưỡi tặc tặc. Ông ta cứ luôn miệng:
— Tốt, U-rút! Tốt, U-rút!
Gi-lin chẳng hiểu gì, bèn nói:
— Nước, cho tôi nước uống.
Người da ngăm cười.
— Tốt, U-rút, ông ta vẫn líu lo bằng tiếng của mình.
Gi-lin lấy môi và tay ra hiệu xin nước uống.
Người da ngăm hiểu ra, bật cười, ngó ra cửa, gọi ai đó:
— Đi-na!
Một cô bé chạy tới, mảnh khảnh, gầy gò, chừng mười ba tuổi, mặt giống người da ngăm. Rõ là con gái ông ta. Cô bé cũng có đôi mắt đen, sáng, mặt xinh xắn. Cô mặc một chiếc áo dài xanh, tay áo rộng, không thắt lưng. Vạt áo, ngực áo và tay áo đều viền đỏ. Chân đi quần và đôi giày nhỏ, trên giày lại xỏ một đôi khác gót cao. Cổ đeo một chuỗi hạt toàn làm bằng những đồng nửa rúp của Nga. Đầu để trần, tóc tết bím đen nhánh, trong bím tóc có một dải ruy băng, trên dải ruy băng đính những miếng kim loại và một đồng rúp bạc.
Người cha sai cô điều gì. Cô bé chạy đi rồi quay lại ngay, mang một cái bình nhỏ bằng sắt tây. Cô đưa nước cho chàng, rồi tự mình ngồi xổm xuống, người cong gập lại, đôi vai thấp hơn cả đầu gối. Cô ngồi, mắt mở to, nhìn Gi-lin uống nước như nhìn một con thú lạ.
Gi-lin đưa trả cô cái bình. Cô bé nhảy vọt ra xa như một con dê rừng. Đến cả người cha cũng phải bật cười. Ông lại sai cô đi đâu đó. Cô cầm cái bình chạy đi, mang về một ít bánh mì không men đặt trên một tấm ván tròn, rồi lại ngồi xổm, người cong gập, mắt không rời chàng, cứ nhìn mãi.
Bọn Tác-ta đi ra, lại khoá cửa. Một lúc sau, người Nô-gai đến chỗ Gi-lin, nói:
— Ai-đa, chủ, ai-đa!
Anh ta cũng không biết tiếng Nga. Gi-lin chỉ hiểu là anh ta bảo mình đi đâu đó.
Gi-lin lê cái cùm đi, chân khập khiễng, không bước nổi, cứ phải vẹo chân sang một bên. Gi-lin theo người Nô-gai ra ngoài. Chàng thấy một bản làng Tác-ta, chừng mười nóc nhà, có cả nhà thờ của họ, có một cái tháp nhỏ. Trước một ngôi nhà có ba con ngựa thắng yên. Mấy thằng bé cầm cương giữ ngựa. Người Tác-ta da ngăm từ trong nhà chạy ra, vẫy tay bảo Gi-lin đến chỗ mình. Ông ta cười, nói gì đó bằng tiếng của mình, rồi đi vào cửa. Gi-lin vào trong nhà. Gian phòng đẹp, tường trát đất sét nhẵn bóng. Ở bức tường phía trước xếp những tấm nệm lông sặc sỡ, hai bên treo những tấm thảm đắt tiền. Trên thảm treo súng trường, súng ngắn, gươm, tất cả đều nạm bạc. Trong một bức tường có một cái lò nhỏ ngang bằng mặt đất. Sàn bằng đất, sạch sẽ như sân phơi lúa, cả góc phía trước trải đầy những tấm dạ, trên dạ là thảm, trên thảm là gối lông. Và trên thảm, chỉ mang một đôi giày, những người Tác-ta đang ngồi: người da ngăm, người râu đỏ và ba người khách. Sau lưng ai cũng kê gối lông, còn trước mặt họ, trên một tấm ván tròn, là bánh kếp làm bằng bột kê, bơ bò đun chảy trong bát, và một vò bia bu-da của người Tác-ta. Họ ăn bằng tay, tay ai cũng bóng nhẫy bơ.
Người da ngăm nhảy bật dậy, sai đưa Gi-lin ngồi sang một bên, không phải trên thảm mà trên nền đất trơ, rồi lại leo lên thảm, mời khách ăn bánh kếp, uống bia bu-da. Người làm đặt Gi-lin ngồi vào chỗ, rồi tự mình cởi đôi giày ngoài ra, xếp ngay ngắn bên cửa, chỗ những đôi giày khác, rồi ngồi xuống tấm dạ gần chỗ các ông chủ, nhìn họ ăn, nuốt nước bọt.
Bọn Tác-ta ăn xong bánh kếp, thì một người đàn bà Tác-ta đi vào, cũng mặc áo dài và quần như cô bé, đầu trùm khăn. Bà mang bơ và bánh đi, đem đến một cái chậu đẹp và một cái bình vòi hẹp. Bọn Tác-ta rửa tay, rồi chắp tay, quỳ xuống, thổi phù phù về bốn phía và đọc kinh. Chúng nói chuyện với nhau bằng tiếng của mình. Rồi một người khách Tác-ta quay sang Gi-lin, nói bằng tiếng Nga.
— Mày, hắn nói, bị Ca-di Mu-ga-mét bắt, hắn chỉ tay vào người râu đỏ, rồi đem nộp cho Áp-đun Mu-rát, hắn chỉ vào người da ngăm. Bây giờ Áp-đun Mu-rát là chủ của mày.
Gi-lin im lặng. Áp-đun Mu-rát lên tiếng, cứ chỉ tay vào Gi-lin, vừa cười vừa nói:
— Lính, U-rút, tốt lắm, U-rút.
Người thông ngôn nói:
— Ông ấy bảo mày viết thư về nhà, để người ta gửi tiền chuộc mày. Gửi tiền đến là ông ấy thả mày ra.
Gi-lin nghĩ một lúc rồi nói:
— Thế ông ấy muốn chuộc bao nhiêu?
Bọn Tác-ta bàn với nhau, rồi người thông ngôn nói:
— Ba nghìn đồng.
— Không, Gi-lin nói, tôi không trả nổi số tiền ấy.
Áp-đun nhảy dựng lên, khua tay múa chân, nói gì đó với Gi-lin, cứ tưởng là chàng hiểu. Người thông ngôn dịch:
— Thế mày trả được bao nhiêu?
Gi-lin nghĩ một lúc rồi nói:
— Năm trăm rúp.
Bấy giờ bọn Tác-ta nói liến thoắng, cả bọn cùng nói một lúc. Áp-đun bắt đầu quát người râu đỏ, nói líu lo đến nỗi nước bọt bắn ra khỏi miệng.
Còn người râu đỏ thì chỉ nheo mắt, tặc lưỡi.
Bọn chúng im, người thông ngôn nói:
— Năm trăm rúp tiền chuộc thì ông chủ chê ít. Chính ông ấy đã phải trả cho mày hai trăm rúp. Ca-di Mu-ga-mét nợ ông ấy. Ông ấy lấy mày để trừ nợ. Ba nghìn rúp, ít hơn thì không thả. Mà mày không viết thì sẽ bị nhốt xuống hố, bị roi quất.
"Chà, Gi-lin nghĩ, với bọn này mà sợ sệt thì càng tệ."
Chàng đứng bật dậy, nói:
— Anh bảo cái con chó ấy rằng nếu nó muốn doạ tôi, thì tôi chẳng trả một xu, mà cũng chẳng viết thư gì cả. Tôi chưa từng sợ, mà cũng sẽ không sợ lũ chó các người.
Người thông ngôn dịch lại, thế là cả bọn lại cùng nói một lúc.
Chúng líu lo mãi, rồi người da ngăm nhảy dựng lên, đến bên Gi-lin.
— U-rút, ông ta nói, gi-git, gi-git U-rút!
Gi-git theo tiếng của họ nghĩa là "trang hảo hán". Ông ta cười, nói gì đó với người thông ngôn, người thông ngôn nói:
— Đưa một nghìn rúp.
Gi-lin vẫn giữ ý mình:
— Hơn năm trăm rúp tôi không đưa. Còn các người giết tôi thì chẳng lấy được gì.
Bọn Tác-ta bàn với nhau, sai người làm đi đâu đó, rồi cứ nhìn hết Gi-lin lại nhìn ra cửa. Người làm quay lại, theo sau là một người cao, béo, chân đất, quần áo rách bươm, chân cũng mang cùm.
Gi-lin sững sờ: chàng nhận ra Cô-xtư-lin. Anh ta cũng bị bắt. Người ta cho hai người ngồi cạnh nhau. Họ bắt đầu kể chuyện cho nhau nghe, còn bọn Tác-ta im lặng, nhìn.
Gi-lin kể chuyện của mình. Cô-xtư-lin kể rằng con ngựa của anh ta đứng ì, khẩu súng lại tịt ngòi, và chính tên Áp-đun này đã đuổi kịp và bắt anh ta.
Áp-đun nhảy dựng lên, chỉ vào Cô-xtư-lin, nói gì đó. Người thông ngôn dịch rằng giờ cả hai người cùng một chủ, ai đưa tiền trước thì được thả trước.
— Đấy, hắn nói với Gi-lin, mày thì cứ nổi cáu, còn bạn mày thì ngoan ngoãn. Anh ta đã viết thư về nhà, người ta sẽ gửi đến năm nghìn đồng. Thế nên anh ta sẽ được cho ăn ngon, chẳng ai bạc đãi.
Gi-lin nói:
— Bạn tôi thì tuỳ anh ấy, có khi anh ấy giàu, còn tôi thì không giàu. Tôi, chàng nói, đã nói thế nào thì sẽ là thế ấy. Muốn thì cứ giết, các người chẳng được lợi gì, nhưng hơn năm trăm rúp thì tôi không viết.
Cả bọn im lặng. Bỗng Áp-đun nhảy dựng lên, lấy ra một cái hòm nhỏ, lôi ra một cái bút, một mẩu giấy và mực, dúi vào tay Gi-lin, vỗ vai chàng, ra hiệu: "Viết đi." Ông ta đã chịu năm trăm rúp.
— Khoan đã, Gi-lin bảo người thông ngôn, anh nói với ông ấy là phải cho chúng tôi ăn uống tử tế, cho quần áo giày dép đàng hoàng, cho chúng tôi ở chung với nhau, cho vui hơn, và tháo cùm ra.
Nói rồi chàng nhìn ông chủ mà cười. Ông chủ cũng cười. Nghe xong, ông ta nói:
— Quần áo thì tao cho loại đẹp nhất: cả áo chẽn lẫn ủng, mặc đi cưới vợ cũng được. Cho ăn như cho các ông hoàng. Còn muốn ở chung thì cứ ở chung trong kho. Còn cùm thì không tháo được, chúng nó trốn mất. Chỉ ban đêm tao tháo thôi. Ông ta nhảy tới, vỗ vai chàng. Mày tốt, tao tốt!
Gi-lin viết thư, nhưng ghi địa chỉ sai, để thư không tới nơi. Chàng nghĩ bụng: "Mình sẽ trốn."
Người ta dẫn Gi-lin và Cô-xtư-lin về kho, mang đến cho họ rơm ngô, một vò nước, bánh mì, hai chiếc áo chẽn cũ và hai đôi ủng lính rách nát. Rõ là lột của những người lính đã chết. Ban đêm người ta tháo cùm cho họ rồi khoá cửa kho lại.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn