Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đi-na

Người tù binh ở Cáp-ca · Chương 2/3 · của Lev Tolstoy

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.975 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Gi-lin sống với bạn như thế được trọn một…
  2. 1:39Sáng hôm sau, lúc rạng đông, chàng thấy Đi-na…
  3. 3:22Lũ con gái mang đến cho chàng mấy mảnh…
  4. 4:35Có lần một người Tác-ta bị ốm, người ta…
  5. 7:02Gi-lin hỏi ông chủ: ông già ấy là ai?…
  6. 10:07Chàng nhìn về phía đất Nga: dưới chân là…
  7. 12:39A-la! và tất cả cùng nói theo: "A-la," rồi…
  8. 14:56Tôi biết đường.

Chương 2: Đi-na

Gi-lin sống với bạn như thế được trọn một tháng. Ông chủ lúc nào cũng cười: "Mày, I-van, tốt, tao, Áp-đun, tốt." Nhưng cho ăn thì tồi, chỉ cho bánh mì không men làm bằng bột kê nướng thành bánh dẹt, có khi còn là bột nhào chưa nướng.

Cô-xtư-lin lại viết thư về nhà một lần nữa, cứ ngồi chờ tiền gửi đến, buồn bã chán chường. Suốt ngày anh ta ngồi trong kho đếm từng ngày chờ thư đến, hoặc ngủ. Còn Gi-lin biết thư mình sẽ không tới nơi, nên không viết lá thư nào nữa.

"Mẹ lấy đâu ra ngần ấy tiền mà chuộc mình, chàng nghĩ. Đến nay mẹ sống được phần lớn cũng nhờ tiền mình gửi về. Muốn gom được năm trăm rúp thì mẹ phải bán sạch cơ nghiệp. Chúa giúp thì mình sẽ tự thoát ra được."

Và chàng luôn để ý dò la, xem làm cách nào mà trốn.

Chàng đi khắp bản làng, huýt sáo. Có lúc chàng ngồi làm đồ thủ công, khi thì nặn búp bê bằng đất sét, khi thì đan rổ bằng cành cây. Món thủ công nào Gi-lin cũng khéo tay.

Một lần chàng nặn một con búp bê có mũi, có tay, có chân, mặc áo kiểu Tác-ta, rồi đặt con búp bê lên mái nhà.

Mấy cô gái Tác-ta đi lấy nước. Con gái ông chủ là Đi-na trông thấy con búp bê, liền gọi các cô kia. Họ đặt vò xuống, nhìn, cười. Gi-lin nhấc con búp bê xuống đưa cho họ. Họ cười, nhưng không dám cầm. Chàng để con búp bê lại, đi vào kho, rồi rình xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Đi-na chạy lại, nhìn quanh, chộp lấy con búp bê rồi chạy mất.

Sáng hôm sau, lúc rạng đông, chàng thấy Đi-na bước ra ngưỡng cửa với con búp bê. Cô bé đã lấy những mảnh vải đỏ quấn cho con búp bê, rồi bế nó đung đưa như ru em bé, miệng hát ru bằng tiếng của mình. Một bà già bước ra, mắng cô bé, giằng lấy con búp bê, đập vỡ nó, rồi sai Đi-na đi làm việc gì đó.

Gi-lin làm một con búp bê khác, còn đẹp hơn, đưa cho Đi-na. Có một lần Đi-na mang đến một cái bình nhỏ, đặt xuống, ngồi nhìn chàng, vừa cười vừa chỉ vào cái bình.

"Cô bé vui chuyện gì thế nhỉ?" Gi-lin nghĩ. Chàng cầm cái bình lên uống. Tưởng là nước, hoá ra là sữa. Chàng uống hết chỗ sữa.

— Ngon lắm, chàng nói.

Đi-na mừng rỡ biết bao!

— Ngon lắm, I-van, ngon lắm! cô bé nhảy cẫng lên, vỗ tay, giật lấy cái bình rồi chạy mất.

Và từ hôm ấy, ngày nào cô bé cũng lén mang sữa đến cho chàng. Có khi người Tác-ta làm những bánh pho mát bằng sữa dê, phơi trên mái nhà, thì cô bé lén mang những chiếc bánh ấy đến cho chàng. Có lần ông chủ mổ cừu, cô bé giấu trong tay áo một miếng thịt cừu mang đến cho chàng. Ném cho chàng xong là cô chạy mất.

Có một lần trời giông bão dữ dội, mưa như trút nước suốt một giờ liền. Sông suối đều đục ngầu. Chỗ ngày thường lội qua được, giờ nước dâng cao ba sải, cuồn cuộn lăn cả đá. Khắp nơi suối chảy, núi non vang ầm ầm. Khi cơn giông qua đi, khắp làng chỗ nào cũng có suối chảy. Gi-lin xin ông chủ con dao, gọt một cái trục, mấy tấm ván nhỏ, làm một bánh xe guồng có cánh, rồi gắn hai con búp bê vào hai đầu bánh xe.

Lũ con gái mang đến cho chàng mấy mảnh vải vụn, chàng mặc quần áo cho hai con búp bê: một con là đàn ông, một con là đàn bà. Chàng gắn chặt chúng vào, rồi đặt bánh xe xuống dòng suối. Bánh xe quay, hai con búp bê nhảy nhót.

Cả làng kéo đến xem: con trai, con gái, đàn bà, cả đàn ông Tác-ta cũng đến, tặc lưỡi:

— Ai, U-rút! Ai, I-van!

Áp-đun có một cái đồng hồ của Nga đã hỏng. Ông ta gọi Gi-lin đến, đưa cho xem, tặc lưỡi. Gi-lin nói:

— Đưa đây tôi sửa cho.

Chàng cầm lấy, dùng con dao nhỏ tháo ra, bày từng chi tiết ra, rồi lắp lại, trả cho ông chủ. Đồng hồ chạy.

Ông chủ mừng lắm, mang đến cho chàng chiếc áo choàng cũ của mình, rách tả tơi, tặng chàng. Chẳng biết làm sao, chàng đành nhận: ban đêm cũng dùng để đắp được.

Từ đó, tiếng tăm Gi-lin là người khéo tay lan đi khắp nơi. Người ta từ những bản làng xa xôi kéo đến: người thì mang khoá súng trường hay súng ngắn đến nhờ sửa, người thì mang đồng hồ. Ông chủ mang đến cho chàng đồ nghề: nào kìm nhỏ, nào khoan nhỏ, nào giũa nhỏ.

Có lần một người Tác-ta bị ốm, người ta đến tìm Gi-lin: "Đi chữa bệnh cho người ta đi." Gi-lin chẳng biết chữa bệnh gì cả. Chàng đi đến, nhìn người bệnh, nghĩ: "Biết đâu ông ta tự khỏi." Chàng về kho, lấy nước, lấy cát, trộn lên. Trước mặt bọn Tác-ta, chàng thì thầm khấn vào bát nước, rồi đưa người bệnh uống. May cho chàng, người Tác-ta khỏi bệnh thật. Gi-lin cũng bắt đầu hiểu được đôi chút tiếng của họ. Những người Tác-ta đã quen chàng, khi cần lại gọi: "I-van, I-van", còn những người khác thì vẫn liếc chàng như liếc một con thú.

Tên Tác-ta râu đỏ không ưa Gi-lin. Hễ thấy chàng là hắn cau mày quay đi, hoặc chửi một câu. Ở đó còn có một ông già. Ông không sống trong bản, mà từ dưới chân núi đi lên. Gi-lin chỉ thấy ông khi ông đi qua vào nhà thờ của họ để cầu nguyện. Ông già người thấp bé, trên mũ quấn một chiếc khăn trắng. Râu và ria tỉa ngắn, trắng như bông, còn khuôn mặt thì nhăn nheo, đỏ như gạch. Mũi khoằm như mỏ diều hâu, mắt xám, dữ tợn, răng rụng hết, chỉ còn hai cái răng nanh. Ông đi, đội chiếc khăn quấn đầu, chống gậy, ngó quanh như con sói. Hễ thấy Gi-lin là ông khịt mũi một cái rồi quay đi.

Có lần Gi-lin xuống chân núi xem ông già sống ở đâu. Chàng đi theo con đường mòn xuống, thấy một khu vườn nhỏ, có tường đá bao quanh, sau tường là những cây anh đào, cây mơ, và một căn nhà nhỏ mái bằng. Chàng lại gần hơn, thấy những tổ ong bện bằng rơm, ong bay vo vo. Còn ông già thì đang quỳ, loay hoay làm gì đó bên một tổ ong. Gi-lin leo lên cao hơn để nhìn cho rõ, thì cái cùm kêu loảng xoảng. Ông già ngoái lại, rú lên một tiếng, rút khẩu súng ngắn ở thắt lưng ra, bắn vào Gi-lin. Chàng chỉ vừa kịp nấp sau một tảng đá.

Ông già đến mách với ông chủ. Ông chủ gọi Gi-lin đến, vừa cười vừa hỏi:

— Sao mày lại đến chỗ ông già?

— Tôi, chàng nói, có làm gì hại ông ấy đâu. Tôi chỉ muốn xem ông ấy sống thế nào.

Ông chủ dịch lại. Còn ông già thì nổi giận, rít lên, líu lo nói gì đó, nhe hai cái răng nanh, khua tay về phía Gi-lin.

Gi-lin không hiểu hết, nhưng hiểu rằng ông già bảo ông chủ giết những người Nga đi, chứ đừng giữ họ trong bản. Ông già bỏ đi.

Gi-lin hỏi ông chủ: ông già ấy là ai? Ông chủ bảo:

— Đó là một người lớn! Ông ấy từng là trang hảo hán số một, ông ấy đã giết nhiều người Nga, ông ấy từng giàu có. Ông ấy có ba vợ và tám con trai. Tất cả sống chung một làng. Người Nga đến, phá tan làng, giết bảy người con trai. Chỉ còn một người con, mà người con ấy lại theo hàng người Nga. Ông già đi đến, tự mình cũng ra hàng người Nga. Ông sống với họ ba tháng, tìm thấy con trai mình ở đó, tự tay giết nó, rồi trốn về. Từ đó ông bỏ đánh trận, đi đến thánh địa Méc-ca cầu nguyện, vì thế mà ông quấn khăn. Ai đã đến Méc-ca thì được gọi là ha-gi, và được quấn khăn. Ông ấy không ưa bọn người như mày. Ông ấy bảo tao giết mày, nhưng tao không giết được, tao đã trả tiền mua mày rồi. Mà I-van ạ, tao đã quý mày rồi. Tao chẳng những không giết mày, mà nếu không trót hứa thì tao còn chẳng muốn thả mày đi nữa kia. Ông ta cười, rồi nói bằng tiếng Nga: Mày, I-van, tốt, tao, Áp-đun, tốt!

Gi-lin sống như thế thêm một tháng nữa. Ban ngày chàng đi dạo quanh bản hoặc làm đồ thủ công, còn khi đêm xuống, bản làng im ắng, thì chàng đào đất trong kho. Đào khó lắm vì có đá, nhưng chàng lấy cái giũa mài mòn đá, và chàng đã đào được dưới chân tường một cái lỗ vừa đủ chui lọt. "Giá mà mình biết rõ địa thế, chàng nghĩ, biết nên đi về hướng nào. Mà chẳng người Tác-ta nào chịu nói."

Rồi chàng chọn lúc ông chủ đi vắng. Sau bữa trưa, chàng đi ra ngoài bản, lên núi, định từ trên ấy nhìn địa thế. Mà mỗi lần đi vắng, ông chủ đều dặn thằng con trai đi theo Gi-lin, không được rời mắt khỏi chàng. Thằng bé chạy theo Gi-lin, hét:

— Đừng đi! Bố tôi cấm. Tôi gọi người bây giờ!

Gi-lin bắt đầu dỗ nó.

— Tao, chàng nói, không đi xa đâu, chỉ leo lên ngọn núi kia thôi. Tao cần tìm một thứ cỏ để chữa bệnh cho người làng mày. Đi với tao, tao mang cùm thế này thì chạy đâu được. Mai tao làm cho mày cây cung với mấy mũi tên.

Chàng dỗ được thằng bé, hai người cùng đi. Nhìn thì ngọn núi chẳng xa, nhưng mang cùm thì khó đi lắm. Chàng đi mãi, đi mãi, mới leo lên được. Gi-lin ngồi xuống, bắt đầu ngắm địa thế. Về phía nam, sau cái kho là một thung lũng, có đàn ngựa đang gặm cỏ, và dưới chỗ trũng thấy một bản làng khác. Sau bản ấy là một ngọn núi khác, còn dốc hơn, sau ngọn núi ấy lại một ngọn núi nữa. Giữa các ngọn núi, rừng xanh thẫm, rồi đến những ngọn núi khác nữa, cứ cao dần, cao dần. Cao hơn cả là những ngọn núi phủ tuyết trắng như đường. Và có một ngọn núi tuyết cao hơn cả, đứng sừng sững như cái mũ. Về phía đông và phía tây cũng toàn những ngọn núi như thế, đây đó có những bản làng toả khói trong các hẻm núi. "Chà, chàng nghĩ, tất cả đều là đất của chúng."

Chàng nhìn về phía đất Nga: dưới chân là một con suối, là bản làng nơi chàng ở, vườn tược bao quanh. Bên suối, như những con búp bê bé xíu, mấy người đàn bà đang ngồi giặt giũ. Sau bản là một ngọn núi thấp hơn, qua ngọn núi ấy lại có hai ngọn núi nữa, có rừng phủ. Còn giữa hai ngọn núi là một vùng đất phẳng xanh xanh, và trên vùng đất phẳng ấy, xa thật xa, như có làn khói đang trải ra. Gi-lin cố nhớ lại hồi còn ở pháo đài, mặt trời mọc ở đâu, lặn ở đâu. Chàng thấy rằng đúng là ở đó, trong thung lũng ấy, phải là pháo đài của quân ta. Phải chạy về hướng ấy, lọt qua giữa hai ngọn núi kia.

Mặt trời bắt đầu lặn. Những ngọn núi tuyết từ trắng chuyển sang đỏ thắm. Những ngọn núi đen tối sẫm lại. Hơi nước bốc lên từ các thung lũng, và chính cái thung lũng nơi phải có pháo đài của quân ta rực lên như đang cháy trong ánh hoàng hôn.

Gi-lin căng mắt nhìn: có cái gì lờ mờ trong thung lũng, như khói từ những ống khói. Và chàng cứ đinh ninh rằng đó chính là pháo đài của người Nga.

Trời đã muộn. Có tiếng thầy mun-la gọi cầu nguyện. Người ta lùa đàn gia súc về, bò rống lên. Thằng bé cứ gọi: "Về thôi," nhưng Gi-lin chẳng muốn về chút nào.

Họ trở về. "Thế là, Gi-lin nghĩ, giờ mình đã biết địa thế rồi, phải trốn thôi." Chàng định trốn ngay đêm ấy. Đêm tối trời, đang kỳ trăng khuyết. Không may, chiều hôm ấy bọn Tác-ta trở về. Thường thì chúng về là lùa theo gia súc, và về rất vui vẻ. Nhưng lần này chúng chẳng lùa được gì, mà trên yên ngựa lại chở về xác một người Tác-ta của chúng bị giết, là em trai tên râu đỏ. Chúng trở về giận dữ, rồi tụ tập cả lại để chôn cất. Gi-lin cũng ra xem. Người ta quấn người chết trong tấm vải, không có quan tài, khiêng ra dưới những cây ngô đồng ngoài làng, đặt xuống cỏ. Thầy mun-la đến, các cụ già tụ lại, quấn khăn quanh mũ, cởi giày, ngồi thành hàng trên gót chân trước người chết.

Đằng trước là thầy mun-la, đằng sau là ba ông già quấn khăn ngồi thành hàng, sau họ là những người Tác-ta khác. Họ ngồi xuống, cúi đầu, im lặng. Im lặng rất lâu. Thầy mun-la ngẩng đầu lên nói:

— A-la! Nghĩa là Thượng đế. Thầy chỉ nói mỗi một tiếng ấy, rồi cả bọn lại cúi đầu, im lặng rất lâu. Họ ngồi, không nhúc nhích.

Thầy mun-la lại ngẩng đầu:

— A-la! và tất cả cùng nói theo: "A-la," rồi lại im lặng. Người chết nằm trên cỏ không động đậy, và họ cũng ngồi như người chết. Không một ai nhúc nhích. Chỉ nghe trên cây ngô đồng những chiếc lá nhỏ trở mình trong làn gió nhẹ. Rồi thầy mun-la đọc kinh, mọi người đứng dậy, nhấc người chết lên tay, khiêng đi. Họ khiêng đến bên cái huyệt. Cái huyệt không phải huyệt thường, mà khoét sâu vào lòng đất như một căn hầm. Họ cầm lấy người chết dưới nách và dưới khoeo chân, gập người lại, nhẹ nhàng thả xuống, đặt ngồi trong lòng đất, xếp hai tay lên bụng.

Người Nô-gai kéo đến một bó sậy xanh, lấy sậy lấp kín miệng hầm, nhanh nhẹn đổ đất lên, san phẳng, rồi dựng một hòn đá đứng ở phía đầu người chết. Họ giẫm cho đất chặt, rồi lại ngồi thành hàng trước nấm mồ. Im lặng rất lâu.

— A-la! A-la! A-la! Họ thở dài rồi đứng dậy.

Tên râu đỏ chia tiền cho các cụ già, rồi đứng dậy, cầm roi, tự quất vào trán mình ba cái, rồi đi về nhà.

Sáng hôm sau, Gi-lin thấy tên râu đỏ dắt một con ngựa cái ra ngoài làng, có ba người Tác-ta đi theo. Ra đến ngoài làng, tên râu đỏ cởi áo choàng, xắn tay áo lên, để lộ hai cánh tay to khoẻ, rút dao găm, mài lên hòn đá. Bọn Tác-ta kéo ngửa đầu con ngựa lên, tên râu đỏ bước tới, cứa cổ nó, quật nó ngã xuống, rồi bắt đầu lột da, dùng những nắm đấm to tướng mà tách da ra. Đàn bà, con gái kéo đến, rửa ruột rửa lòng. Rồi họ chặt con ngựa ra, khiêng vào nhà. Và cả làng kéo đến nhà tên râu đỏ để làm lễ tưởng niệm người chết.

Suốt ba ngày họ ăn thịt con ngựa cái, uống bia bu-da, tưởng nhớ người chết. Tất cả người Tác-ta đều ở nhà. Đến ngày thứ tư, Gi-lin thấy giữa trưa họ sửa soạn đi đâu đó. Người ta dắt ngựa ra, chuẩn bị xong xuôi, rồi chừng mười người lên đường, cả tên râu đỏ cũng đi. Chỉ có Áp-đun ở nhà. Trăng mới vừa lên, đêm còn tối trời.

"Thế là, Gi-lin nghĩ, đêm nay phải trốn," và chàng nói với Cô-xtư-lin. Nhưng Cô-xtư-lin đâm ra nhát.

— Trốn thế nào được, mình đâu có biết đường.

— Tôi biết đường.

— Mà một đêm thì đi không tới.

— Không tới thì ta ở lại trong rừng qua ngày. Tôi đã gom được mấy cái bánh đây. Anh định ngồi đây mãi à? Người ta gửi tiền đến thì tốt, chứ có khi lại chẳng gom đủ. Mà bọn Tác-ta bây giờ đang hằn học, vì người Nga đã giết người của chúng. Người ta đồn chúng muốn giết chúng ta.

Cô-xtư-lin nghĩ đi nghĩ lại.

— Thôi được, đi!

— Hết chương 2 —

Mục lục Người tù binh ở Cáp-ca

  1. 1Bị bắt trên đường núi20 phút
  2. 2Đi-na15 phút
  3. 3Cái hố và đêm trăng20 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1872
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Кавказский пленник, 1872
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →