Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cái hố và đêm trăng

Người tù binh ở Cáp-ca · Chương 3/3 · của Lev Tolstoy

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 17.163 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Gi-lin chui vào cái lỗ, đào rộng thêm cho…
  2. 2:45Cô-xtư-lin chẳng nói gì, cứ đi, rên hừ hừ.…
  3. 5:13Cô-xtư-lin nhảy bật dậy, đi tiếp. Họ đi thêm…
  4. 7:42Cô-xtư-lin nói:
  5. 9:43Còn ông già thì nói:
  6. 12:45Cô bé lắc đầu, ý bảo "không được". Chàng…
  7. 15:13Cô bé quỳ xuống, bắt đầu nạy. Nhưng đôi…
  8. 19:29Anh em ơi! Anh em ơi! Anh em ơi!

Chương 3: Cái hố và đêm trăng

Gi-lin chui vào cái lỗ, đào rộng thêm cho Cô-xtư-lin cũng chui lọt. Rồi hai người ngồi chờ cho bản làng im ắng.

Bản làng vừa im ắng, Gi-lin chui qua dưới chân tường, ra được bên ngoài. Chàng thì thào với Cô-xtư-lin:

— Chui ra đi.

Cô-xtư-lin cũng chui ra, nhưng chân vướng phải hòn đá, kêu lạch cạch. Ông chủ có một con chó canh nhà lông khoang. Con chó dữ lắm, tên là U-li-a-sin. Gi-lin đã cho nó ăn từ trước cho quen. U-li-a-sin nghe tiếng động, sủa lên rồi lao tới, mấy con chó khác chạy theo sau. Gi-lin khẽ huýt sáo, ném cho nó một mẩu bánh. U-li-a-sin nhận ra chàng, ngoe nguẩy đuôi, thôi sủa.

Ông chủ nghe thấy, từ trong nhà quát vọng ra:

— Xuỵt! Xuỵt, U-li-a-sin!

Còn Gi-lin thì gãi gãi sau tai U-li-a-sin. Con chó im lặng, cọ vào chân chàng, ngoe nguẩy đuôi.

Hai người ngồi nấp sau góc nhà một lúc. Mọi thứ im phăng phắc, chỉ nghe tiếng một con cừu ho khụ khụ trong chuồng, và dưới thấp tiếng nước róc rách qua những hòn đá nhỏ. Trời tối, sao trên trời cao vời vợi. Trên đỉnh núi, vầng trăng non ửng đỏ, đang lặn xuống, hai cái sừng chĩa lên trên. Trong các thung lũng, sương mù trắng như sữa.

Gi-lin đứng dậy, bảo bạn:

— Nào, anh bạn, ai-đa!

Hai người cất bước, vừa đi được một quãng thì nghe thầy mun-la cất tiếng hát trên mái nhà: "A-la, Bít-mi-la! In-ra-man!" Nghĩa là người ta sắp đi đến nhà thờ. Hai người lại ngồi xuống, nấp dưới chân tường.

Họ ngồi rất lâu, chờ cho người ta đi qua hết. Lại im ắng.

— Thôi, cầu Chúa phù hộ! Họ làm dấu thánh rồi đi. Họ đi qua sân, xuống dốc đến bờ suối, lội qua suối, rồi đi theo thung lũng. Sương mù dày đặc, nhưng chỉ là ở dưới thấp, còn trên đầu thì sao trời trông rõ mồn một. Gi-lin nhìn sao mà đoán hướng đi. Trong sương mù mát mẻ, đi nhẹ nhàng, chỉ có đôi ủng là khó chịu, đã mòn vẹt cả. Gi-lin cởi ủng của mình vứt đi, đi chân đất. Chàng nhảy từ hòn đá này sang hòn đá khác, mắt nhìn sao. Cô-xtư-lin bắt đầu tụt lại phía sau.

— Đi chậm thôi, anh ta nói, đôi ủng khốn kiếp làm chân tôi trầy hết rồi.

— Thì cởi ra, đi sẽ nhẹ hơn.

Cô-xtư-lin đi chân đất, còn tệ hơn: đá cứa nát cả chân, anh ta cứ tụt lại sau mãi. Gi-lin bảo anh ta:

— Chân trầy thì rồi sẽ lành, chứ chúng đuổi kịp là chúng giết, còn tệ hơn.

Cô-xtư-lin chẳng nói gì, cứ đi, rên hừ hừ. Họ đi rất lâu dưới thung lũng. Bỗng nghe phía bên phải có tiếng chó sủa. Gi-lin dừng lại, nhìn quanh, leo lên sườn núi, lấy tay sờ soạng.

— Chết, chàng nói, mình đi nhầm rồi, lệch sang phải mất rồi. Đây là bản làng khác, tôi đã thấy nó từ trên núi. Phải quay lại, rẽ trái, lên núi. Ở đấy phải có rừng.

Còn Cô-xtư-lin thì nói:

— Đợi một chút đã, cho tôi thở, chân tôi máu me hết rồi.

— Ôi dào, anh bạn, rồi sẽ lành thôi. Anh nhảy nhẹ nhàng thôi. Thế này này!

Rồi Gi-lin chạy ngược lại, rẽ trái, lên núi, vào rừng.

Cô-xtư-lin cứ tụt lại phía sau, rên rỉ. Gi-lin chốc chốc lại suỵt anh ta, còn mình thì cứ đi.

Họ leo lên núi. Đúng thế thật, có rừng. Vào rừng, gai góc cào rách nốt chỗ quần áo còn lại. Họ gặp một con đường mòn trong rừng. Họ đi.

— Đứng lại! Có tiếng vó ngựa lộp cộp trên đường. Hai người dừng lại, lắng nghe. Tiếng lộp cộp như tiếng ngựa, rồi im bặt. Họ đi tiếp, lại nghe lộp cộp. Họ dừng, nó cũng dừng. Gi-lin bò lên, nhìn ra chỗ sáng trên đường, thấy có cái gì đứng đấy: ngựa chẳng ra ngựa, mà trên ngựa lại có cái gì kỳ quái, chẳng giống người. Chàng nghe nó khịt mũi. "Cái quái gì thế nhỉ!" Gi-lin khẽ huýt sáo, thế là nó vụt lao khỏi đường, phóng vào rừng, rừng cây răng rắc như có cơn bão bay qua, cành cây gãy rào rào.

Cô-xtư-lin sợ quá ngã lăn ra. Còn Gi-lin thì cười mà bảo:

— Con hươu đấy. Anh nghe nó lấy sừng phá rừng kìa. Mình sợ nó, mà nó cũng sợ mình.

Họ đi tiếp. Chòm sao Thất tinh đã bắt đầu xuống thấp, trời gần sáng rồi. Mà có đi đúng đường không thì họ không biết. Gi-lin nghĩ đây chính là con đường người ta đã chở mình đi, và còn chừng mười dặm nữa mới tới chỗ quân mình, nhưng chẳng có dấu hiệu gì chắc chắn, mà ban đêm cũng chẳng nhận ra được. Ra đến một bãi trống nhỏ, Cô-xtư-lin ngồi phịch xuống, nói:

— Anh muốn sao thì muốn, chứ tôi không đi nổi nữa: chân tôi không bước được nữa rồi.

Gi-lin bắt đầu dỗ dành anh ta.

— Không, anh ta nói, tôi không đi nổi, không thể được.

Gi-lin nổi cáu, nhổ toẹt một cái, chửi anh ta.

— Thế thì tôi đi một mình, chào nhé.

Cô-xtư-lin nhảy bật dậy, đi tiếp. Họ đi thêm được chừng bốn dặm. Sương mù trong rừng còn dày đặc hơn, trước mặt không thấy gì, sao trên trời cũng đã mờ mờ.

Bỗng họ nghe đằng trước có tiếng ngựa đi. Nghe rõ tiếng móng sắt va vào đá. Gi-lin nằm sấp xuống, áp tai xuống đất mà nghe.

— Đúng rồi, có người cưỡi ngựa đang đi về phía mình!

Họ chạy khỏi đường, ngồi nấp trong bụi rậm mà chờ. Gi-lin bò ra phía con đường nhìn, thấy một người Tác-ta cưỡi ngựa, đang lùa một con bò. Hắn vừa đi vừa ư ử hát gì đó trong miệng. Người Tác-ta đi qua. Gi-lin quay về chỗ Cô-xtư-lin.

— Thôi, Chúa cứu rồi, dậy đi tiếp nào.

Cô-xtư-lin định đứng dậy thì ngã quỵ.

— Không được, có Chúa chứng giám, không được, tôi hết sức rồi.

Anh ta là người nặng nề, phục phịch, người đẫm mồ hôi, lại bị sương mù lạnh lẽo trong rừng bao lấy, chân thì trầy xước, nên rã rời cả người. Gi-lin cố sức kéo anh ta dậy. Cô-xtư-lin bỗng hét lên:

— Ối, đau quá!

Gi-lin chết điếng.

— Anh hét cái gì? Người Tác-ta còn ở gần, hắn nghe thấy bây giờ. Rồi chàng nghĩ bụng: "Anh ta kiệt sức thật rồi, mình biết làm sao bây giờ? Bỏ bạn lại thì không được."

— Thôi, chàng nói, đứng dậy, trèo lên lưng tôi, tôi cõng, anh đã không đi nổi thì thôi.

Chàng đỡ Cô-xtư-lin lên lưng, hai tay luồn dưới đùi anh ta, ra đến đường rồi cõng đi.

— Có điều, chàng nói, vì Chúa, anh đừng ôm chặt lấy cổ họng tôi. Bám vào vai thôi.

Gi-lin nặng nhọc lắm, chân chàng cũng máu me, người mệt lả. Chàng cúi xuống, xốc lại, hất lên cho Cô-xtư-lin ngồi cao hơn trên lưng mình, rồi cõng anh ta đi trên đường.

Hẳn là tên Tác-ta đã nghe thấy tiếng Cô-xtư-lin hét. Gi-lin nghe có ai cưỡi ngựa đi sau lưng, gọi bằng tiếng của họ. Gi-lin lao vào bụi rậm. Tên Tác-ta rút súng, bắn một phát, không trúng, rú lên bằng tiếng của hắn rồi phi ngựa đi mất theo con đường.

— Thôi, Gi-lin nói, chết rồi, anh bạn ạ! Thằng chó ấy sắp gọi cả bọn Tác-ta đuổi theo mình. Nếu không đi thêm được ba dặm thì chết. Rồi chàng nghĩ về Cô-xtư-lin: "Quỷ thần nào xui mình mang theo cái khúc gỗ này. Đi một mình thì mình đã thoát từ lâu rồi."

Cô-xtư-lin nói:

— Anh đi một mình đi, sao lại vì tôi mà chết.

— Không, tôi không đi đâu: bỏ bạn lại thì không được.

Chàng lại xốc anh ta lên vai, cứ thế mà cõng đi. Chàng đi được chừng một dặm. Rừng cứ trải ra mãi, chẳng thấy lối ra. Mà sương mù đã bắt đầu tan, hình như mây kéo đến. Không còn thấy sao nữa. Gi-lin kiệt sức rồi.

Chàng đến chỗ một mạch nước nhỏ bên đường, có xếp đá quanh. Chàng dừng lại, đặt Cô-xtư-lin xuống.

— Để tôi nghỉ một chút, chàng nói, uống ngụm nước. Ăn ít bánh. Chắc là không còn xa nữa đâu.

Chàng vừa cúi xuống uống thì nghe phía sau có tiếng vó ngựa. Hai người lại lao sang bên phải, vào bụi rậm, dưới chân dốc, rồi nằm im.

Họ nghe tiếng người Tác-ta nói chuyện. Bọn Tác-ta dừng lại đúng chỗ hai người đã rẽ khỏi đường. Chúng nói chuyện với nhau, rồi xuỵt xuỵt như xua chó đi săn. Hai người nghe có cái gì rào rào trong bụi rậm, rồi một con chó lạ của ai đó lao thẳng tới chỗ họ. Nó dừng lại, sủa ầm lên.

Bọn Tác-ta cũng xông vào, cũng là người lạ. Chúng tóm lấy hai người, trói lại, đặt lên ngựa, chở đi.

Đi được chừng ba dặm, thì gặp ông chủ Áp-đun cùng hai người Tác-ta. Ông ta nói gì đó với bọn kia, rồi chuyển hai người sang ngựa của mình, chở về bản.

Áp-đun không cười nữa, cũng chẳng nói với họ một lời.

Rạng sáng thì về đến bản, người ta đặt hai người ngồi giữa đường. Lũ trẻ chạy đến, lấy đá, lấy roi mà đánh, kêu ré lên.

Bọn Tác-ta tụ lại thành một vòng, cả ông già dưới chân núi cũng đến. Họ bắt đầu bàn bạc. Gi-lin nghe ra họ đang xử hai người, xem phải làm gì với họ.

Có người bảo phải đưa họ lên núi xa hơn nữa, còn ông già thì nói:

— Phải giết đi.

Áp-đun cãi lại:

— Tôi đã bỏ tiền ra mua chúng nó. Tôi sẽ lấy tiền chuộc.

Còn ông già thì nói:

— Chúng nó chẳng trả gì đâu, chỉ gây tai hoạ thôi. Mà nuôi người Nga là có tội. Giết đi là xong.

Họ giải tán. Ông chủ đến bên Gi-lin, bắt đầu nói với chàng.

— Nếu, ông ta nói, người ta không gửi tiền chuộc chúng mày đến, thì hai tuần nữa tao sẽ đánh chết chúng mày. Còn nếu mày lại định trốn, tao sẽ giết mày như giết con chó. Viết thư đi, viết cho cẩn thận vào.

Người ta mang giấy đến, hai người viết thư. Người ta đóng cùm cho họ, dẫn ra sau nhà thờ. Ở đó có một cái hố sâu chừng năm sải, và người ta thả hai người xuống cái hố ấy.

Cuộc sống của họ giờ đây thật khốn khổ. Người ta không tháo cùm, cũng chẳng cho ra ngoài ánh sáng. Người ta quăng xuống cho họ bột nhào chưa nướng như quăng cho chó, rồi thả xuống một vò nước. Trong hố hôi thối, ngột ngạt, ẩm ướt. Cô-xtư-lin ốm nặng, người sưng phù, đau nhức khắp mình, lúc nào cũng rên rỉ hoặc ngủ. Gi-lin cũng buồn nản, thấy tình hình tệ quá rồi. Mà chẳng biết làm sao thoát ra.

Chàng đã toan đào ngách, nhưng chẳng có chỗ nào đổ đất, ông chủ trông thấy, doạ giết chàng.

Một hôm chàng ngồi xổm dưới hố, nghĩ đến cuộc sống tự do, lòng buồn bã. Bỗng một cái bánh rơi xuống ngay đầu gối chàng, rồi một cái nữa, rồi những quả anh đào rơi lả tả. Chàng ngước lên, thì thấy Đi-na. Cô bé nhìn chàng, cười, rồi chạy mất. Gi-lin nghĩ: "Hay là Đi-na sẽ giúp mình?"

Chàng dọn một chỗ nhỏ trong hố, moi đất sét, bắt đầu nặn búp bê. Chàng nặn người, nặn ngựa, nặn chó, nghĩ bụng: "Đi-na đến, mình sẽ ném cho cô bé."

Nhưng hôm sau Đi-na không đến. Gi-lin chỉ nghe tiếng ngựa lộp cộp, có những người nào đó đi qua, rồi bọn Tác-ta tụ tập bên nhà thờ, cãi nhau, la hét, và nhắc đến người Nga. Chàng nghe cả giọng ông già. Chàng không nghe rõ, nhưng đoán rằng quân Nga đã đến gần, bọn Tác-ta sợ quân Nga kéo vào bản, và chẳng biết làm gì với tù binh.

Họ bàn bạc một lúc rồi đi. Bỗng chàng nghe trên miệng hố có tiếng sột soạt. Chàng thấy Đi-na ngồi xổm, đầu gối nhô cao hơn đầu, cúi xuống, chuỗi hạt đung đưa lủng lẳng trên miệng hố. Đôi mắt nhỏ của cô bé sáng lấp lánh như hai vì sao. Cô lấy trong tay áo ra hai chiếc bánh pho mát, ném xuống cho chàng. Gi-lin nhặt lấy, nói:

— Sao lâu thế không đến? Tôi đã làm đồ chơi cho Đi-na đây này. Đây này! Chàng bắt đầu ném cho cô từng con một, nhưng cô bé lắc đầu, không nhìn.

— Không cần! cô nói. Cô im lặng, ngồi một lúc rồi nói: I-van, người ta muốn giết anh. Cô lấy tay chỉ vào cổ mình.

— Ai muốn giết?

— Bố em, các ông già bảo bố thế, mà em thì thương anh.

Gi-lin bèn nói:

— Nếu Đi-na thương tôi, thì mang cho tôi một cây sào dài.

Cô bé lắc đầu, ý bảo "không được". Chàng chắp hai tay, van cô.

— Đi-na, xin em đấy. Đi-na ơi, mang đến cho anh đi.

— Không được, cô nói, người ta thấy mất, ai cũng ở nhà cả. Rồi cô bỏ đi.

Tối hôm ấy Gi-lin ngồi nghĩ: "Rồi sẽ ra sao đây?" Chàng cứ ngước lên trên nhìn mãi. Sao đã hiện, còn trăng thì chưa mọc. Thầy mun-la cất tiếng gọi, rồi mọi thứ im bặt. Gi-lin đã bắt đầu thiu thiu ngủ, nghĩ bụng: "Con bé sợ rồi."

Bỗng đất sét rơi lả tả xuống đầu chàng. Chàng ngước lên, thấy một cây sào dài đang chọc chọc vào phía bờ hố bên kia. Nó chọc chọc một lúc, rồi bắt đầu thòng xuống, trườn dần vào hố. Gi-lin mừng rỡ, đưa tay nắm lấy, kéo xuống. Cây sào chắc chắn. Chàng đã từng thấy cây sào này trên mái nhà ông chủ.

Chàng ngước lên: sao sáng lấp lánh trên trời cao, và ngay trên miệng hố, đôi mắt Đi-na sáng lên trong bóng tối như mắt mèo. Cô bé cúi mặt xuống sát miệng hố, thì thào:

— I-van, I-van! Rồi cô cứ khua tay trước mặt, ra hiệu "khẽ thôi".

— Gì thế? Gi-lin hỏi.

— Mọi người đi cả rồi, chỉ còn hai người ở nhà.

Gi-lin bèn nói:

— Nào, Cô-xtư-lin, ta đi, thử lần cuối cùng xem. Để tôi đỡ anh lên.

Cô-xtư-lin chẳng muốn nghe.

— Không, anh ta nói, tôi chắc chẳng ra khỏi đây được nữa đâu. Tôi đi đâu được, khi đến trở mình cũng không còn sức?

— Thôi thì vĩnh biệt, đừng nhớ đến tôi với điều gì không hay nhé. Chàng hôn từ biệt Cô-xtư-lin.

Chàng bám lấy cây sào, bảo Đi-na giữ chặt, rồi leo lên. Hai lần chàng tuột tay rơi xuống, vì cái cùm vướng víu. Cô-xtư-lin đỡ chàng, chàng mới leo lên được tới miệng hố. Đi-na lấy hai bàn tay nhỏ xíu túm áo chàng mà kéo hết sức, vừa kéo vừa cười. Gi-lin cầm lấy cây sào, nói:

— Mang về chỗ cũ đi, Đi-na, không thì người ta phát hiện ra, họ đánh em đấy. Cô bé lôi cây sào đi, còn Gi-lin thì đi xuống chân núi. Chàng trèo xuống dưới dốc, nhặt một hòn đá sắc, bắt đầu nạy cái khoá trên cùm. Nhưng cái khoá chắc lắm, chàng đập mãi không bung, mà lại khó cầm. Chàng nghe có ai chạy từ trên núi xuống, nhảy nhẹ nhàng. Chàng nghĩ: "Chắc lại là Đi-na." Đi-na chạy đến, cầm lấy hòn đá, nói:

— Để em.

Cô bé quỳ xuống, bắt đầu nạy. Nhưng đôi tay bé nhỏ mảnh như cành cây, chẳng có tí sức nào. Cô vứt hòn đá đi, bật khóc. Gi-lin lại xoay xở với cái khoá, còn Đi-na ngồi xổm cạnh chàng, bám lấy vai chàng. Gi-lin ngoái lại, thấy bên trái, sau ngọn núi, một vầng sáng đỏ rực bừng lên. Trăng sắp mọc. "Thôi, chàng nghĩ, phải vượt qua thung lũng trước khi trăng lên, vào được rừng." Chàng đứng dậy, vứt hòn đá đi. Dù mang cùm cũng phải đi thôi.

— Vĩnh biệt, chàng nói, Đi-na bé nhỏ. Suốt đời anh sẽ nhớ đến em.

Đi-na bám lấy chàng, lấy tay sờ soạng khắp người chàng, tìm chỗ nhét mấy cái bánh cho chàng. Chàng cầm lấy mấy cái bánh.

— Cảm ơn em, chàng nói, cô bé ngoan ngoãn. Không có anh, ai sẽ làm búp bê cho em đây? Rồi chàng xoa đầu cô bé.

Đi-na oà khóc, lấy tay che mặt, chạy lên núi, nhảy như một con dê con. Trong bóng tối, chỉ còn nghe tiếng chuỗi hạt trong bím tóc lanh canh trên lưng cô.

Gi-lin làm dấu thánh, một tay giữ cái khoá trên cùm cho khỏi kêu, rồi đi theo con đường, chân lê lết, mắt cứ nhìn về phía vầng sáng nơi trăng sắp mọc. Chàng đã nhận ra đường. Đi thẳng thì chừng tám dặm. Chỉ mong vào được tới rừng trước khi trăng lên hẳn. Chàng lội qua suối: sau ngọn núi trời đã trắng ra. Chàng đi vào thung lũng, vừa đi vừa ngó: vẫn chưa thấy trăng. Vầng sáng đã sáng hơn, một bên thung lũng mỗi lúc một sáng thêm, sáng thêm. Một cái bóng đang bò xuống chân núi, mỗi lúc một tiến lại gần chàng.

Gi-lin đi, cứ bám theo bóng tối. Chàng vội vã, nhưng trăng còn ló ra nhanh hơn. Đỉnh núi bên phải đã sáng lên. Chàng sắp tới bìa rừng thì trăng ló ra khỏi núi, trắng xoá, sáng rực, y như ban ngày. Trên cây thấy rõ từng chiếc lá. Núi non lặng lẽ, sáng trưng, như mọi thứ đã chết hết. Chỉ nghe dưới thấp tiếng suối róc rách.

Chàng tới được bìa rừng mà không gặp ai. Gi-lin chọn một chỗ tối nhất trong rừng, ngồi xuống nghỉ.

Nghỉ xong, chàng ăn một cái bánh. Chàng tìm được một hòn đá, lại bắt đầu đập cái cùm. Hai bàn tay bầm dập cả mà cùm vẫn không bung. Chàng đứng dậy, đi theo con đường. Đi được chừng một dặm thì kiệt sức, chân đau nhức. Bước được mười bước lại phải dừng. "Chẳng biết làm sao, chàng nghĩ, còn sức thì mình còn lê bước. Ngồi xuống thì không đứng dậy nổi nữa. Đến pháo đài thì không đi kịp, trời sáng thì mình nằm trong rừng qua ngày, rồi đêm lại đi tiếp."

Chàng đi suốt đêm. Chỉ gặp hai người Tác-ta cưỡi ngựa, nhưng Gi-lin nghe thấy từ xa, nấp sau một gốc cây.

Trăng đã bắt đầu nhạt đi, sương đã xuống, trời sắp sáng, mà Gi-lin vẫn chưa tới bìa rừng. "Thôi, chàng nghĩ, đi thêm ba mươi bước nữa, rồi rẽ vào rừng ngồi nghỉ." Đi được ba mươi bước, chàng thấy rừng đã hết. Chàng ra đến bìa rừng, trời đã sáng hẳn. Trước mặt chàng, rõ như trong lòng bàn tay, là thảo nguyên và pháo đài, còn bên trái, ngay sát dưới chân núi, những đống lửa đang cháy, đang tàn, khói toả ra, và có người ngồi quanh đống lửa.

Chàng căng mắt nhìn, thấy súng sáng loáng: lính Cô-dắc, lính bộ binh.

Gi-lin mừng rỡ, gom chút sức lực cuối cùng, đi xuống chân núi. Trong bụng chàng nghĩ: "Lạy Chúa, đừng để giữa cánh đồng trống trải này có tên Tác-ta nào cưỡi ngựa trông thấy, dù gần đến đâu cũng không thoát được."

Vừa nghĩ thế, chàng nhìn ra thì thấy bên trái, trên một gò đất, cách chừng vài trăm bước, có ba người Tác-ta đứng đó. Chúng trông thấy chàng, phi ngựa lao về phía chàng. Tim chàng như đứt ra. Chàng khua tay, hét hết sức về phía quân mình:

— Anh em ơi! Cứu tôi với! Anh em ơi!

Quân ta nghe thấy. Những người lính Cô-dắc cưỡi ngựa phóng ra, phi về phía chàng, chặn đầu bọn Tác-ta.

Lính Cô-dắc thì ở xa, còn bọn Tác-ta thì ở gần. Nhưng Gi-lin cũng đã gom chút sức lực cuối cùng, một tay xách cái cùm, chạy về phía lính Cô-dắc, chẳng còn biết mình là ai nữa, vừa làm dấu thánh vừa hét:

— Anh em ơi! Anh em ơi! Anh em ơi!

Lính Cô-dắc có chừng mười lăm người.

Bọn Tác-ta hoảng sợ, chưa tới nơi đã ghìm ngựa lại. Và Gi-lin đã chạy tới được chỗ lính Cô-dắc.

Lính Cô-dắc vây quanh chàng, hỏi chàng là ai, người thế nào, từ đâu đến. Còn Gi-lin thì chẳng còn biết mình là ai, chỉ khóc và cứ nói mãi:

— Anh em ơi! Anh em ơi!

Lính bộ binh chạy ra, xúm quanh Gi-lin, người đưa bánh mì, người đưa cháo, người đưa rượu, người lấy áo choàng khoác cho chàng, người đập vỡ cái cùm.

Các sĩ quan nhận ra chàng, đưa chàng về pháo đài. Lính tráng mừng rỡ, bạn bè kéo đến bên Gi-lin.

Gi-lin kể lại mọi chuyện đã xảy ra với mình, rồi nói:

— Thế đấy, về nhà thăm mẹ với cưới vợ đấy! Thôi, chắc số mình không phải thế.

Và chàng ở lại phục vụ ở Cáp-ca. Còn Cô-xtư-lin thì mãi một tháng sau mới được chuộc về với giá năm nghìn rúp. Người ta đưa anh ta về khi anh ta chỉ còn thoi thóp.

— Hết —

Mục lục Người tù binh ở Cáp-ca

  1. 1Bị bắt trên đường núi20 phút
  2. 2Đi-na15 phút
  3. 3Cái hố và đêm trăng20 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1872
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Кавказский пленник, 1872
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →