Chương 1: Người chồng chẳng có gì nổi bật
Đám cưới của Ôn-ga I-va-nốp-na có mặt đủ cả bạn bè và người quen thân của cô.
— Các anh nhìn anh ấy mà xem: có phải ở anh ấy có một cái gì đó đặc biệt không? cô nói với bạn bè, hất đầu về phía chồng, như thể muốn giải thích vì sao cô lại lấy một con người giản dị, rất bình thường và chẳng có gì nổi bật.
Chồng cô, Ô-xíp Xtê-pa-nứt Đư-mốp, là bác sĩ và mang phẩm hàm cố vấn cấp chín. Anh làm việc ở hai nhà thương: ở một nơi là bác sĩ nội trú ngoài biên chế, ở nơi kia là bác sĩ giải phẫu tử thi. Hằng ngày từ chín giờ sáng đến trưa, anh khám bệnh và làm việc ở khoa mình, còn sau trưa thì đi xe ngựa kéo trên đường ray sang nhà thương kia, ở đó anh mổ xác những bệnh nhân đã chết. Khách riêng của anh chẳng đáng là bao, mỗi năm chừng năm trăm rúp. Thế thôi. Còn có thể nói gì thêm về anh nữa? Trong khi đó, Ôn-ga I-va-nốp-na và bạn bè, người quen thân của cô lại không phải những người hoàn toàn bình thường. Ai trong số họ cũng nổi bật một điều gì đó và cũng có chút tiếng tăm, đã có tên tuổi và được coi là người nổi tiếng, hoặc tuy chưa nổi tiếng nhưng bù lại đầy hứa hẹn rực rỡ. Một diễn viên nhà hát kịch, một tài năng lớn được công nhận từ lâu, một người thanh lịch, thông minh và khiêm tốn, một người đọc diễn cảm tuyệt vời, đã dạy Ôn-ga I-va-nốp-na đọc diễn cảm; một ca sĩ nhà hát nhạc kịch, một người béo phúc hậu, vẫn thở dài quả quyết với Ôn-ga I-va-nốp-na rằng cô đang tự huỷ hoại mình: giá cô đừng lười và chịu nắm lấy bản thân, thì cô sẽ trở thành một nữ ca sĩ tuyệt vời; rồi mấy hoạ sĩ, đứng đầu là Ri-a-bốp-xki, người vẽ tranh sinh hoạt, vẽ thú vật và vẽ phong cảnh, một chàng trai tóc vàng rất đẹp, chừng hai mươi lăm tuổi, từng thành công ở các cuộc triển lãm và đã bán bức tranh mới nhất của mình được năm trăm rúp; anh ta sửa các bức phác hoạ cho Ôn-ga I-va-nốp-na và bảo rằng biết đâu cô sẽ làm nên chuyện; rồi một nhạc công vi-ô-lông-xen, cây đàn trong tay anh biết khóc, và anh thẳng thắn thừa nhận rằng trong tất cả những người đàn bà anh quen, chỉ mỗi Ôn-ga I-va-nốp-na biết đệm đàn; rồi một nhà văn, trẻ nhưng đã nổi tiếng, viết truyện vừa, kịch và truyện ngắn. Còn ai nữa? À, còn ông Va-xi-li Va-xi-li-ích, một ông chủ, một địa chủ, một người vẽ minh hoạ và vẽ hoạ tiết trang trí nghiệp dư, rất có cảm quan về phong cách Nga cổ, về những khúc tráng ca và anh hùng ca; trên giấy, trên sứ và trên những chiếc đĩa hun khói, ông ta làm ra những điều quả thật kỳ diệu. Giữa đám bạn bè nghệ sĩ, tự do và được số phận nuông chiều ấy, quả là tế nhị và khiêm tốn, nhưng chỉ nhớ đến sự tồn tại của mấy ông bác sĩ nào đó khi ốm đau, và với họ cái tên Đư-mốp nghe cũng chẳng khác gì Xi-đô-rốp hay Ta-ra-xốp, giữa đám ấy, Đư-mốp có vẻ xa lạ, thừa thãi và nhỏ bé, tuy anh vóc dáng cao lớn và vai rộng. Trông như anh đang mặc chiếc áo đuôi tôm đi mượn và để chòm râu kiểu người bán hàng. Tuy vậy, giá anh là nhà văn hay hoạ sĩ, thì người ta lại bảo chòm râu ấy làm anh giống nhà văn Dô-la.
Ông diễn viên nói với Ôn-ga I-va-nốp-na rằng với mái tóc vàng như sợi lanh và bộ váy cưới, cô rất giống một cây anh đào non thanh mảnh khi mùa xuân về, phủ kín những bông hoa trắng mịn màng.
— Không, anh nghe này! Ôn-ga I-va-nốp-na nói với anh ta, nắm lấy tay anh. Làm sao chuyện ấy lại bỗng dưng xảy ra được? Anh nghe đi, nghe đi… Phải nói với anh rằng bố em làm cùng một nhà thương với Đư-mốp. Khi ông bố tội nghiệp của em ngã bệnh, Đư-mốp đã trực bên giường ông suốt ngày suốt đêm. Hy sinh biết bao nhiêu! Nghe này, Ri-a-bốp-xki… Cả anh nữa, nhà văn, nghe đi, chuyện này hay lắm. Lại gần đây. Hy sinh biết bao, quan tâm chân thành biết bao! Em cũng thức trắng đêm ngồi bên bố, và bỗng nhiên, xin chào, nàng đã chinh phục được chàng trai! Đư-mốp của em say mê đến tận mang tai. Thật đấy, số phận đôi khi kỳ quặc thế đấy. Rồi, sau khi bố mất, thỉnh thoảng anh ấy đến chơi nhà em, gặp em ngoài phố, và một buổi tối đẹp trời bỗng dưng, đùng một cái! cầu hôn… như sét đánh ngang tai… Em khóc suốt đêm và chính em cũng yêu đến chết đi được. Và thế đấy, như các anh thấy, em đã thành vợ người ta. Có phải ở anh ấy có cái gì đó mạnh mẽ, hùng tráng, như con gấu không? Bây giờ mặt anh ấy quay về phía mình ba phần tư, thiếu sáng, nhưng khi anh ấy quay lại, các anh nhìn cái trán của anh ấy xem. Ri-a-bốp-xki, anh nghĩ gì về cái trán ấy? Đư-mốp, bọn em đang nói về anh đấy! cô gọi chồng. Lại đây. Chìa bàn tay lương thiện của anh ra cho Ri-a-bốp-xki… Đúng thế. Hai người làm bạn với nhau đi.
Đư-mốp mỉm cười hiền hậu và ngây thơ, chìa tay ra cho Ri-a-bốp-xki và nói:
— Rất hân hạnh. Học cùng khoá với tôi cũng có một người tên là Ri-a-bốp-xki. Có phải họ hàng với anh không?
Ôn-ga I-va-nốp-na hai mươi hai tuổi, Đư-mốp ba mươi mốt. Sau đám cưới họ sống tuyệt vời. Trong phòng khách, Ôn-ga I-va-nốp-na treo kín tất cả các bức tường những bức phác hoạ của mình và của người khác, có khung và không khung, còn quanh cây đàn dương cầm và đồ đạc thì cô bày ra một sự chật chội xinh xắn gồm những chiếc ô Tàu, giá vẽ, những mảnh vải nhiều màu, dao găm, tượng bán thân nhỏ, ảnh chụp… Trong phòng ăn, cô dán lên tường những bức tranh dân gian, treo những đôi giày cói và lưỡi liềm, dựng ở góc một cái hái và một cái cào, thế là thành một phòng ăn theo phong vị Nga. Trong phòng ngủ, để trông giống một cái hang, cô phủ trần và tường bằng dạ sẫm màu, treo trên giường một chiếc đèn lồng Vơ-ni-dơ, còn ở cửa thì dựng một pho tượng cầm ngọn kích. Và ai cũng thấy đôi vợ chồng trẻ có một tổ ấm rất xinh.
Hằng ngày, ngủ dậy vào khoảng mười một giờ, Ôn-ga I-va-nốp-na chơi dương cầm, hoặc nếu có nắng thì vẽ một cái gì đó bằng sơn dầu. Sau đó, vào khoảng hơn mười hai giờ, cô đến nhà người thợ may. Vì cô và Đư-mốp có rất ít tiền, vừa khít đủ tiêu, nên để thường xuyên xuất hiện trong những bộ váy mới và làm mọi người sững sờ vì cách ăn mặc, cô và người thợ may phải bày đủ mọi mẹo. Rất hay xảy ra chuyện từ một chiếc váy cũ đem nhuộm lại, từ những mẩu vải tuyn, đăng-ten, nhung lông, lụa chẳng đáng giá gì, lại làm ra những điều kỳ diệu, một cái gì đó mê hồn, không phải chiếc váy mà là một giấc mơ. Từ chỗ người thợ may, Ôn-ga I-va-nốp-na thường đến chỗ một nữ diễn viên quen biết nào đó để nghe tin tức sân khấu và nhân thể nhờ kiếm vé xem buổi diễn đầu tiên của một vở kịch mới hay xem buổi diễn mừng một nghệ sĩ. Từ chỗ nữ diễn viên lại phải tới xưởng vẽ của một hoạ sĩ hay một cuộc triển lãm tranh, rồi đến chỗ một người nổi tiếng nào đó, để mời đến nhà chơi, hay để đáp lễ, hay đơn giản là để tán chuyện. Và ở đâu người ta cũng đón cô vui vẻ, thân tình, và quả quyết với cô rằng cô tốt, dễ thương, hiếm có… Những người cô gọi là nổi tiếng và vĩ đại đón cô như người nhà, như người ngang hàng, và đồng thanh tiên đoán rằng với tài năng, khiếu thẩm mỹ và trí thông minh của cô, nếu cô không bị phân tán, thì sẽ làm nên chuyện lớn. Cô hát, chơi dương cầm, vẽ tranh, nặn tượng, tham gia các buổi diễn kịch nghiệp dư, mà làm gì cũng không làm qua loa, mà có tài; cô làm những chiếc đèn lồng nhỏ để treo trang trí, hay cô hoá trang, hay cô thắt cà vạt cho ai đó, thì việc gì cô làm cũng nghệ thuật lạ thường, duyên dáng và dễ thương. Nhưng không ở đâu tài năng của cô bộc lộ rõ rệt bằng ở cái tài nhanh chóng làm quen và nhanh chóng thân thiết với những người nổi tiếng. Hễ ai vừa mới nổi danh một chút và khiến người ta bàn tán về mình, là cô đã làm quen với người ấy, ngay hôm đó thành bạn bè và mời đến nhà. Mỗi người quen mới với cô thật là một ngày hội. Cô tôn thờ những người nổi tiếng, tự hào về họ và đêm nào cũng mơ thấy họ. Cô khao khát họ và không sao làm dịu cơn khát ấy. Những người cũ ra đi và bị lãng quên, những người mới đến thay chỗ, nhưng rồi cô cũng chóng quen với họ hay thất vọng về họ, và lại bắt đầu tham lam tìm kiếm những vĩ nhân mới, mới nữa, tìm được rồi lại tìm. Để làm gì?
Khoảng hơn bốn giờ chiều, cô ăn trưa ở nhà với chồng. Sự giản dị, đầu óc lành mạnh và tính hiền hậu của anh khiến cô cảm động và say mê. Chốc chốc cô lại bật dậy, ôm chầm lấy đầu anh và hôn tới tấp.
— Đư-mốp, anh là một con người thông minh, cao thượng, cô nói, nhưng anh có một nhược điểm rất quan trọng. Anh chẳng hề quan tâm đến nghệ thuật. Anh phủ nhận cả âm nhạc lẫn hội hoạ.
— Anh không hiểu chúng, anh nói hiền lành. Suốt đời anh chỉ học khoa học tự nhiên và y học, anh chẳng có thời gian quan tâm đến nghệ thuật.
— Nhưng như thế thật khủng khiếp, Đư-mốp ạ!
— Sao lại thế? Bạn bè của em không biết khoa học tự nhiên và y học, vậy mà em đâu có trách họ. Mỗi người một việc. Anh không hiểu tranh phong cảnh và nhạc kịch, nhưng anh nghĩ thế này: nếu có những người thông minh dành cả đời cho chúng, và những người thông minh khác trả cho chúng những món tiền khổng lồ, thì nghĩa là chúng cần thiết. Anh không hiểu, nhưng không hiểu không có nghĩa là phủ nhận.
— Đưa đây em bắt bàn tay lương thiện của anh nào!
Ăn trưa xong, Ôn-ga I-va-nốp-na đến nhà người quen, rồi đi xem hát hay nghe hoà nhạc, và về nhà sau nửa đêm. Ngày nào cũng thế.
Thứ Tư nào cô cũng tổ chức dạ hội. Ở những buổi dạ hội ấy, chủ và khách không chơi bài, không khiêu vũ, mà tiêu khiển bằng đủ thứ nghệ thuật. Ông diễn viên kịch đọc thơ, ca sĩ hát, các hoạ sĩ vẽ vào những cuốn an-bum mà Ôn-ga I-va-nốp-na có vô số, nhạc công vi-ô-lông-xen chơi đàn, và chính bà chủ cũng vẽ, nặn tượng, hát và đệm đàn. Xen giữa những lúc đọc thơ, chơi nhạc và hát, người ta nói chuyện và tranh luận về văn chương, sân khấu và hội hoạ. Không có phụ nữ, vì Ôn-ga I-va-nốp-na cho rằng tất cả các bà, trừ các nữ diễn viên và người thợ may của cô, đều nhàm chán và tầm thường. Không buổi dạ hội nào mà bà chủ không giật mình mỗi khi chuông reo, và với vẻ mặt đắc thắng nói: «Anh ấy đến đấy!», mà chữ «anh ấy» ở đây là chỉ một người nổi tiếng mới được mời nào đó. Đư-mốp không có mặt trong phòng khách, và chẳng ai nhớ đến sự tồn tại của anh. Nhưng đúng mười một rưỡi, cánh cửa dẫn vào phòng ăn mở ra, Đư-mốp xuất hiện với nụ cười hiền hậu, nhu mì của mình, xoa xoa hai tay và nói:
— Thưa các vị, mời các vị dùng bữa nhẹ.
Mọi người kéo vào phòng ăn, và lần nào cũng thấy trên bàn những món y như nhau: một đĩa hàu, một miếng giăm-bông hay thịt bê, cá xác-đin, pho mát, trứng cá muối, nấm, rượu vốt-ca và hai bình rượu vang.
— Ông quản gia yêu quý của em! Ôn-ga I-va-nốp-na nói, vỗ tay vì sung sướng. Anh thật đáng yêu! Các vị ơi, nhìn cái trán anh ấy mà xem! Đư-mốp, quay nghiêng mặt đi nào. Các vị nhìn xem: mặt con hổ xứ Ben-gan, mà vẻ mặt thì hiền lành, dễ mến như con hươu. Ôi, anh yêu!
Khách khứa ăn uống, và nhìn Đư-mốp, họ nghĩ: «Quả thật, một anh chàng dễ mến», nhưng chẳng mấy chốc quên anh đi và tiếp tục bàn chuyện sân khấu, âm nhạc và hội hoạ.
Đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc, và cuộc sống của họ trôi êm như được tra dầu. Tuy vậy, tuần thứ ba của tuần trăng mật trôi qua không hạnh phúc lắm, thậm chí buồn bã. Đư-mốp bị lây bệnh viêm quầng ở nhà thương, nằm liệt giường sáu ngày và phải cạo trọc mái tóc đen đẹp của mình. Ôn-ga I-va-nốp-na ngồi bên anh khóc nức nở, nhưng khi anh đỡ hơn, cô quấn lên cái đầu trọc của anh một chiếc khăn trắng nhỏ và vẽ anh thành một người Bê-đu-in. Và cả hai đều vui vẻ. Chừng ba ngày sau khi khỏi bệnh và lại đi làm ở các nhà thương, anh lại gặp một chuyện rủi mới.
— Anh xui xẻo quá, mình ơi! một hôm anh nói trong bữa trưa. Hôm nay anh mổ bốn tử thi, mà cứa vào tay một lúc hai ngón. Về đến nhà anh mới thấy.
Ôn-ga I-va-nốp-na hoảng sợ. Anh mỉm cười và bảo đấy là chuyện vặt, rằng trong lúc mổ tử thi anh vẫn hay bị đứt tay.
— Anh mải mê quá, mình ạ, nên thành đãng trí.
Ôn-ga I-va-nốp-na lo âu chờ đợi anh bị nhiễm độc tử thi, và đêm nào cũng cầu Chúa, nhưng rồi mọi sự đều yên ổn. Và cuộc sống êm đềm hạnh phúc lại trôi đi, không buồn phiền, không lo âu. Hiện tại thật tuyệt đẹp, mà thay cho nó, mùa xuân đang tới gần, đã mỉm cười từ xa và hứa hẹn ngàn niềm vui. Hạnh phúc sẽ không bao giờ hết! Tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu là nhà nghỉ mát ở xa ngoài thành phố, những cuộc dạo chơi, những bức phác hoạ, câu cá, chim hoạ mi, rồi sau đó, từ tháng Bảy cho đến tận mùa thu, là chuyến đi của các hoạ sĩ dọc sông Vôn-ga, và trong chuyến đi ấy, với tư cách thành viên không thể thiếu của hội, Ôn-ga I-va-nốp-na cũng sẽ tham gia. Cô đã may cho mình hai bộ đồ đi đường bằng vải gai, mua sắm cho chuyến đi sơn màu, bút vẽ, vải toan và một bảng pha màu mới. Gần như ngày nào Ri-a-bốp-xki cũng đến chỗ cô, để xem cô đã tiến bộ thế nào về hội hoạ. Khi cô đưa tranh cho anh ta xem, anh ta thọc tay thật sâu vào túi, mím chặt môi, khụt khịt mũi và nói:
— Thế ạ… Đám mây này của cô đang gào lên: nó không được chiếu sáng theo kiểu buổi chiều. Tiền cảnh thì như bị nhai nát, và có cái gì đó, cô hiểu không, không ổn… Còn túp lều của cô thì như đang nghẹn cái gì và kêu chí chí thảm thiết… góc này phải lấy tối hơn một chút. Nhưng nhìn chung thì cũng khá đấy… Tôi khen.
Và anh ta nói càng khó hiểu, Ôn-ga I-va-nốp-na lại càng dễ hiểu anh ta.
Ngày thứ hai lễ Chúa Ba Ngôi, sau bữa trưa, Đư-mốp mua đồ nhắm và kẹo rồi đi lên nhà nghỉ mát thăm vợ. Đã hai tuần anh không gặp cô và nhớ cô lắm. Ngồi trên toa tàu, rồi sau đó đi tìm nhà nghỉ của mình trong một khu rừng lớn, anh lúc nào cũng thấy đói và mệt, và mơ đến cảnh thảnh thơi ăn tối cùng vợ rồi lăn ra ngủ. Và anh vui khi nhìn gói đồ của mình, trong đó có gói trứng cá muối, pho mát và cá hồi trắng.
Khi anh tìm ra và nhận ra nhà nghỉ của mình, mặt trời đã lặn. Bà hầu gái già bảo rằng bà chủ không có nhà, và có lẽ bà ấy sắp về. Ngôi nhà nghỉ trông rất xấu xí, trần thấp dán giấy viết, sàn nhà gồ ghề đầy khe nứt, chỉ có ba phòng. Một phòng kê một chiếc giường, phòng thứ hai thì vải toan, bút vẽ, giấy dầu mỡ, áo khoác và mũ đàn ông vứt ngổn ngang trên ghế và bậu cửa sổ, còn ở phòng thứ ba, Đư-mốp gặp ba người đàn ông lạ mặt nào đó. Hai người tóc đen để râu, còn người thứ ba thì cạo nhẵn và béo, có vẻ là một diễn viên. Trên bàn, ấm xa-mô-va đang sôi.
— Ông cần gì? người diễn viên hỏi bằng giọng trầm, nhìn Đư-mốp từ đầu đến chân vẻ khó gần. Ông cần gặp Ôn-ga I-va-nốp-na à? Chờ chút, cô ấy sắp về.
Đư-mốp ngồi xuống chờ. Một trong hai người tóc đen, uể oải ngái ngủ liếc nhìn anh, tự rót trà cho mình và hỏi:
— Có lẽ ông muốn dùng trà?
Đư-mốp vừa khát vừa đói, nhưng để khỏi mất ngon miệng, anh từ chối uống trà. Chẳng mấy chốc nghe có tiếng bước chân và tiếng cười quen thuộc; cánh cửa đóng sầm, và Ôn-ga I-va-nốp-na chạy vào phòng, đội chiếc mũ rộng vành, tay cầm một cái hộp, còn theo sau cô là Ri-a-bốp-xki vui vẻ, má đỏ hây hây, mang một chiếc ô lớn và một chiếc ghế xếp.
— Đư-mốp! Ôn-ga I-va-nốp-na kêu lên và đỏ bừng mặt vì vui sướng. Đư-mốp! cô nhắc lại, ngả đầu và cả hai tay lên ngực anh. Anh đấy à! Sao lâu thế anh không lên? Sao thế? Sao thế?
— Thì lúc nào anh lên được, mình? Anh lúc nào cũng bận, mà khi rảnh thì chẳng hiểu sao giờ tàu lại không hợp.
— Nhưng em mừng được gặp anh quá! Suốt đêm, suốt cả đêm em mơ thấy anh, em cứ sợ anh ốm. Ôi, giá anh biết anh dễ thương thế nào, anh đến đúng lúc thế nào! Anh sẽ là vị cứu tinh của em. Chỉ có anh mới cứu được em! Ngày mai ở đây sẽ có một đám cưới cực kỳ độc đáo, cô nói tiếp, vừa cười vừa thắt cà vạt cho chồng. Một anh nhân viên điện báo trẻ ở nhà ga lấy vợ, một anh tên là Chi-ken-đê-ép. Một chàng trai đẹp, ừ, cũng không ngốc, và trên mặt có, anh biết đấy, một cái gì đó mạnh mẽ, như con gấu… Có thể vẽ anh ta thành một tráng sĩ phương Bắc thời cổ. Tất cả bọn em, những người đi nghỉ mát, đều quan tâm đến anh ta và đã hứa danh dự sẽ đến dự đám cưới… Một con người không giàu có, cô độc, rụt rè, và dĩ nhiên từ chối quan tâm đến anh ta thì thật là tội lỗi. Anh tưởng tượng xem, sau lễ mi-xa là lễ cưới, rồi từ nhà thờ mọi người đi bộ tới nhà cô dâu… anh hiểu không, khu rừng, tiếng chim hót, những đốm nắng trên cỏ, và tất cả bọn em là những đốm màu sắc trên nền xanh tươi rực rỡ, cực kỳ độc đáo, theo đúng phong cách các hoạ sĩ trường phái biểu hiện Pháp. Nhưng Đư-mốp ơi, em mặc gì mà đi nhà thờ đây? Ôn-ga I-va-nốp-na nói và làm vẻ mặt như sắp khóc. Ở đây em chẳng có gì cả, thật sự chẳng có gì! Không váy, không hoa, không găng tay… Anh phải cứu em. Anh đã lên đây, nghĩa là chính số phận bắt anh phải cứu em. Anh yêu, cầm lấy chìa khoá, về nhà, lấy trong tủ áo chiếc váy hồng của em. Anh nhớ chứ, nó treo ở ngoài cùng… Rồi trong kho, ở bên phải dưới sàn, anh sẽ thấy hai cái hộp các-tông. Mở cái hộp trên ra, trong đó toàn vải tuyn, vải tuyn, vải tuyn và đủ thứ mảnh vụn, còn dưới đó là hoa. Hoa thì anh lấy ra hết cho cẩn thận, anh yêu cố đừng làm nát, rồi sau em sẽ chọn… Rồi mua cả găng tay nữa nhé.
— Được, Đư-mốp nói. Mai anh về rồi gửi lên.
— Mai thì lúc nào? Ôn-ga I-va-nốp-na hỏi và ngạc nhiên nhìn anh. Mai thì anh làm sao kịp? Chuyến tàu đầu tiên ngày mai chạy lúc chín giờ, mà lễ cưới lúc mười một giờ. Không, anh yêu, phải hôm nay, nhất định hôm nay! Nếu mai anh không lên được thì gửi người đưa thư mang lên. Thôi, đi đi… Tàu khách sắp tới rồi. Đừng lỡ tàu, anh yêu.
— Được.
— Ôi, em tiếc phải để anh đi quá, Ôn-ga I-va-nốp-na nói, và nước mắt rưng rưng trong mắt cô. Sao em ngốc thế, lại đi hứa với anh nhân viên điện báo?
Đư-mốp vội vàng uống một cốc trà, cầm một chiếc bánh vòng, rồi mỉm cười hiền lành, đi ra ga. Còn trứng cá muối, pho mát và cá hồi trắng thì hai người tóc đen và ông diễn viên béo đã chén sạch.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn