Hôm nọ, một người bạn nhà thơ của tôi, người cả đời sống gắn bó với thiên nhiên, viết một bài thơ rồi mang tới một ông biên tập.
Đó là một khúc đồng quê sống động, đầy hơi thở thật của ruộng đồng, tiếng chim hót và tiếng róc rách êm tai của những con suối nhỏ.
Khi nhà thơ quay lại hỏi kết quả, trong lòng hy vọng được một bữa bít-tết, thì người ta trả lại bài thơ cho anh, kèm lời nhận xét:
"Giả tạo quá."
Mấy anh em chúng tôi gặp nhau bên đĩa mì Ý với chai vang đỏ, nuốt cơn phẫn nộ cùng những dĩa mì trơn tuột.
Và ở đó chúng tôi đào một cái hố cho ông biên tập. Trong bọn có Cô-nân, một nhà văn viết tiểu thuyết đã thành danh, một người cả đời chỉ đi trên nhựa đường, và chưa bao giờ nhìn cảnh đồng quê, trừ những lần nhìn qua cửa sổ tàu tốc hành với cảm giác chán ghét.
Cô-nân viết một bài thơ, đặt tên là "Nai cái và dòng suối". Đó là một mẫu mực tuyệt vời của loại thơ người ta có thể chờ đợi ở một nhà thơ chỉ dạo chơi với người đẹp tới tận tủ kính cửa hàng hoa, và cuộc thảo luận duy nhất về chim chóc của anh ta là với một anh bồi bàn. Cô-nân ký tên vào bài thơ, và chúng tôi gửi nó tới đúng ông biên tập kia.
Nhưng chuyện này chẳng dính dáng mấy tới câu chuyện.
Sáng hôm sau, đúng lúc ông biên tập đang đọc dòng đầu tiên của bài thơ, thì có một sinh vật vấp chân bước xuống từ chuyến phà bờ Tây, chậm rãi lững thững đi ngược phố Bốn Mươi Hai.
Kẻ xâm nhập là một chàng trai mắt xanh nhạt, môi trễ xuống, tóc đúng màu tóc cô bé mồ côi trong một vở kịch rẻ tiền, cô bé mà cuối vở người ta phát hiện ra là con gái một bá tước. Quần anh ta bằng vải nhung kẻ, áo khoác tay ngắn, có hàng khuy ở giữa lưng. Một ống ủng thò ra ngoài ống quần nhung. Người ta nhìn chiếc mũ rơm của anh ta, chờ đợi, nhưng vô ích, xem có hai lỗ cho tai thò ra không, vì hình dạng của nó khiến người ta ngờ rằng nó đã bị tước đoạt khỏi một khổ chủ trước là con ngựa. Trong tay anh ta xách một chiếc va-li, mà tả nó thì là nhiệm vụ bất khả thi. Đến một người ở thành phố Bô-xtơn cũng chẳng dùng nó để xách bữa trưa với sách luật tới văn phòng. Và phía trên một bên tai, trên mái tóc, vướng một cọng cỏ khô. Đó là thư tín dụng của dân quê, là huy hiệu của sự ngây thơ, là chút cuối cùng của Vườn Địa Đàng còn bám lại để làm xấu hổ bọn lừa đảo chuyên bán gạch mạ vàng.
Đám đông thành phố đi qua anh ta với vẻ hiểu biết, mỉm cười. Họ thấy anh chàng nhà quê lạ hoắc đứng dưới rãnh nước ngoái cổ nhìn những toà nhà cao. Tới đó thì họ thôi cười, thậm chí thôi nhìn anh ta. Trò này người ta diễn nhiều lần quá rồi. Vài người liếc chiếc va-li cổ lỗ, xem anh ta đang cố quảng cáo trò vui nào ở khu giải trí hay nhãn kẹo cao su nào. Nhưng phần lớn người ta làm ngơ anh ta. Đến mấy cậu bé bán báo cũng có vẻ chán ngán khi anh ta nhảy như anh hề làm xiếc để tránh xe ngựa và tàu điện.
Ở Đại lộ Tám có Ha-ri Lừa Đảo đang đứng, bộ ria nhuộm, đôi mắt bóng loáng, hiền lành. Ha-ri là một nghệ sĩ quá giỏi nên không khỏi đau lòng khi thấy một diễn viên diễn lố vai. Hắn nhích lại gần anh chàng nhà quê đang dừng lại há hốc mồm trước tủ kính một hiệu kim hoàn, rồi lắc đầu.
— Dày quá rồi, anh bạn, — hắn nói, giọng phê bình. — Dày quá vài phân. Tôi chẳng biết anh định giở trò gì, nhưng đạo cụ của anh dày quá. Cái cọng cỏ khô kia kìa, đến mấy rạp tạp kỹ hạng bét bây giờ người ta cũng cấm rồi.
— Tôi chẳng hiểu ông nói gì, — anh chàng quê mùa nói. — Tôi có đi tìm gánh xiếc nào đâu. Tôi vừa ở hạt An-xtơ xuống xem thành phố, vì vụ cắt cỏ xong rồi. Trời đất ơi, nó to thật! Tôi cứ tưởng thị trấn Pô-kíp-xi đã là ghê gớm, mà thành phố này to gấp năm lần.
— À, thôi được, — Ha-ri Lừa Đảo nói, nhướng mày. — Tôi chẳng định xen vào. Anh chẳng phải kể. Tôi chỉ nghĩ anh nên bớt bớt đi một tí, nên mới góp ý cho anh khôn ra. Chúc anh thành công với cái mánh của anh, dù nó là gì. Dù sao thì cũng vào làm một ly đi.
— Một cốc bia thì tôi cũng chẳng ngại, — người kia thừa nhận.
Họ vào một quán cà phê có những gã mặt nhẵn nhụi, mắt láo liên hay lui tới, ngồi uống.
— Gặp ông tôi mừng quá, — anh chàng mà ta tạm gọi là Tóc Cỏ Khô nói. — Ông có muốn chơi một hai ván bài không? Tôi có sẵn bộ bài đây.
Anh ta lôi bộ bài ra khỏi chiếc va-li cổ lỗ như từ thời ông Nô-ê. Một bộ bài hiếm có, không gì bắt chước nổi, bóng nhẫy mỡ thịt xông khói của những bữa tối, lem luốc đất ruộng ngô.
Ha-ri Lừa Đảo cười to một tràng ngắn.
— Tôi thì không đâu, anh bạn, — hắn dứt khoát nói. — Tôi chẳng chơi với cái bộ hoá trang ấy của anh dù chỉ một xu. Nhưng tôi vẫn bảo là anh làm quá tay rồi. Dân quê từ ba chục năm nay đã chẳng ăn mặc như thế nữa. Tôi ngờ là với bộ dạng ấy anh lừa nổi ai ở Brúc-lin, dù chỉ để lấy một cái đồng hồ lên dây cót bằng chìa.
— Ồ, ông đừng tưởng tôi không có tiền, — anh Tóc Cỏ Khô khoe.
Anh ta rút ra một xấp giấy bạc cuộn chặt to bằng cái tách trà, đặt lên bàn.
— Tiền phần của tôi khi chia trang trại của bà nội đấy, — anh ta tuyên bố. — Trong cuộn này có chín trăm năm mươi đô-la. Tôi nghĩ phải lên thành phố tìm xem có nghề gì làm ăn được.
Ha-ri Lừa Đảo cầm cuộn tiền lên, nhìn nó với ánh mắt tươi cười gần như kính nể.
— Tôi từng thấy hàng tệ hơn, — hắn nói, giọng phê bình. — Nhưng mặc bộ đồ ấy thì anh chẳng bao giờ làm ăn được đâu. Muốn tiêu được thứ tiền giả như thế này, anh phải đi giày màu nâu nhạt, mặc com-lê đen, đội mũ rơm có dải băng màu, nói thật nhiều chuyện làm ăn ở các thành phố công nghiệp với chuyện cước phí chuyên chở, rồi uống rượu vang ngọt vào bữa sáng.
— Nghề của nó là gì thế? — Hai ba gã mắt láo liên hỏi Ha-ri Lừa Đảo sau khi anh Tóc Cỏ Khô đã gom lại món tiền bị nghi ngờ và bỏ đi.
— Tiền giả, tôi đoán thế, — Ha-ri nói. — Hoặc nó là người của sở cảnh sát. Hoặc là tay nào đó có mánh mới. Nó nhà quê quá mức. Có khi cái cuộn tiền ấy... Giờ nghĩ lại... ồ không, không thể là tiền thật được.
Anh Tóc Cỏ Khô lang thang tiếp. Chắc cơn khát lại kéo tới, vì anh ta lao vào một quán rượu tối om trong một con phố nhỏ mua bia. Vừa thấy anh ta, mắt người trong quán sáng lên. Nhưng khi cái vẻ quê mùa cố tình, cường điệu của anh ta lộ rõ, vẻ mặt họ chuyển thành nghi ngờ cảnh giác.
Anh Tóc Cỏ Khô quăng chiếc va-li lên quầy.
— Giữ hộ tôi cái này một lát nhé, ông chủ, — anh ta nói, nhai đầu một điếu xì gà màu vàng đất nồng nặc. — Tôi đi lòng vòng một chút rồi quay lại lấy. Mà để ý nó giùm, vì trong ấy có chín trăm năm mươi đô-la, dù nhìn tôi chắc ông chẳng nghĩ thế.
Đâu đó ngoài phố, một chiếc máy hát bắt đầu chơi một bản nhạc kèn, thế là anh Tóc Cỏ Khô chạy theo, mấy cái khuy giữa lưng áo nảy lên nảy xuống.
— Chia nhau đi, Mai-cơ, — mấy gã dựa quầy nói, nháy mắt với nhau ra mặt.
— Thôi đi, — anh pha rượu nói, đá chiếc va-li sang một bên. — Các anh tưởng tôi mắc mưu cái trò ấy à? Ai chả thấy nó chẳng phải thằng nhà quê. Chắc là người của đội cảnh sát chuyên gài bẫy. Nếu nó tự hoá trang thì nó cũng tài đấy. Từ khi có thư phát tận nhà ở nông thôn, chẳng còn vùng quê nào người ta ăn mặc như thế nữa. Nếu trong va-li có chín trăm năm mươi thì đó là cái đồng hồ chín mươi tám xu chết máy ở mười giờ kém mười.
Khi đã nghe chán cái máy hát của ông Ê-đi-xơn, anh Tóc Cỏ Khô quay lại lấy va-li. Rồi anh ta tung tăng xuôi phố Brốt-uê, đôi mắt xanh háo hức nhặt nhạnh những cảnh lạ. Nhưng phố Brốt-uê vẫn mãi khước từ anh ta bằng những cái liếc mắt cộc lốc và những nụ cười mỉa mai. Anh ta là trò đùa cũ rích nhất mà thành phố phải chịu đựng. Anh ta trơ trẽn tới mức không thể có thật, quê mùa vượt quá mức quê mùa, cường điệu vượt quá cả những sản phẩm kỳ quặc nhất của sân nuôi gà, cánh đồng cỏ và sân khấu tạp kỹ, tới mức anh ta chỉ gợi lên sự mệt mỏi và ngờ vực. Còn cọng cỏ khô trên tóc anh ta thì thật quá, tươi quá, thơm mùi đồng cỏ quá, quê mùa ầm ĩ quá, tới mức đến một tay chơi trò úp cốc đoán bi cũng phải cất bi gấp bàn lại khi nhìn thấy nó.
Anh Tóc Cỏ Khô ngồi xuống một bậc thềm đá, lại lôi cuộn giấy bạc ra khỏi va-li. Anh ta bóc tờ ngoài cùng, một tờ hai mươi đô-la, rồi vẫy một cậu bé bán báo.
— Này cháu, — anh ta nói, — chạy đi đâu đổi giùm chú tờ này. Chú sắp hết sạch tiền lẻ rồi. Nhanh lên thì chú cho năm xu.
Một vẻ bị xúc phạm hiện lên qua lớp bụi bẩn trên mặt cậu bé bán báo.
— Ứ, chú tưởng cháu là ai? Đi mà tự đổi lấy tờ tiền buồn cười ấy. Chú mặc đâu phải đồ nhà quê. Đi đi với tiền đạo cụ của chú.
Ở một góc phố có một gã cò mồi cho sòng bạc mắt sắc như dao đang đứng tựa. Hắn thấy anh Tóc Cỏ Khô, vẻ mặt bỗng trở nên lạnh lùng và đạo đức.
— Ông ơi, — anh chàng quê mùa nói, — tôi nghe nói ở thành phố này có những chỗ người ta có thể đánh vài ván bài ra trò, hay chơi lô tô. Trong va-li tôi có chín trăm năm mươi đô-la, tôi từ quê An-xtơ xuống xem cho biết. Ông có biết chỗ nào chơi được chừng chín mười đô-la không? Tôi muốn vui chơi một tí, rồi có khi mua lại một cửa hàng gì đó.
Gã cò mồi có vẻ đau lòng, xem xét một chấm trắng trên móng ngón trỏ tay trái.
— Thôi đi, ông già, — hắn lẩm bẩm, trách móc. — Sở cảnh sát chắc điên rồi mới cho ông ra đường trông như thằng ngố thế này. Với bộ đạo cụ sân khấu ấy, ông chẳng lại gần nổi một chiếu bạc lề đường trong vòng hai dãy phố đâu. Thôi biến đi cho rồi. Không, tôi chẳng biết lâu đài dát vàng nào nơi người ta đặt cược cả một xe tù vào quân át đâu.
Lại một lần nữa bị thành phố lớn, nơi phát hiện sự giả tạo nhanh như chớp, cự tuyệt, anh Tóc Cỏ Khô ngồi xuống lề đường, triệu tập mọi ý nghĩ lại họp bàn.
— Tại quần áo của mình, — anh ta nói, — đúng thế, khỉ thật. Họ tưởng mình là thằng nhà quê, nên chẳng ai thèm dây dưa với mình. Ở hạt An-xtơ chẳng ai chê cười cái mũ này bao giờ. Chắc muốn người ta để ý tới mình ở New York thì phải ăn mặc như họ.
Thế là anh Tóc Cỏ Khô đi mua sắm ở những cửa hàng nơi mấy ông bán hàng nói giọng mũi, xoa tay, rồi ngây ngất đưa thước dây đo chỗ phồng trong túi áo trong của anh ta, nơi có một bắp ngô đỏ nhỏ có số hàng hạt chẵn. Rồi những người đưa hàng mang theo gói to gói nhỏ nối nhau tới khách sạn của anh ta trên phố Brốt-uê, trong khu đèn sáng rực.
Chín giờ tối, từ khách sạn bước xuống vỉa hè một người mà hạt An-xtơ hẳn sẽ không nhận ra. Giày anh màu nâu nhạt bóng loáng. Mũ anh đúng kiểu mới nhất. Chiếc quần màu xám nhạt có nếp là sắc như dao. Một chiếc khăn lụa xanh tươi phấp phới trên túi ngực chiếc áo khoác đi dạo kiểu Anh thanh lịch. Cổ áo anh đáng được bày trong tủ kính tiệm giặt là. Mái tóc vàng hoe cắt ngắn gọn gàng. Cọng cỏ khô đã biến mất.
Anh đứng đó một lát, rực rỡ, với vẻ thong thả của một tay ăn chơi thành thị đang tính trong đầu lộ trình cho những thú vui buổi tối. Rồi anh rẽ xuống con phố tưng bừng rực sáng, với dáng đi ung dung, duyên dáng của một nhà triệu phú.
Nhưng ngay trong giây lát anh dừng lại, những con mắt khôn ngoan nhất, sắc bén nhất thành phố đã bao trọn anh trong tầm nhìn của chúng. Một gã to béo mắt xám chỉ hơi nhướng lông mày đã chọn được hai đứa bạn trong đám người đứng la cà trước khách sạn.
— Con mồi béo bở nhất tao thấy trong sáu tháng nay, — gã mắt xám nói. — Đi thôi.
Mười một giờ rưỡi đêm, một người đàn ông hộc tốc chạy vào đồn cảnh sát phố Bốn Mươi Bảy Tây kể nỗi oan ức của mình.
— Chín trăm năm mươi đô-la, — anh thở hổn hển, — tất cả phần của tôi từ trang trại của bà nội.
Ông trung sĩ trực ban moi ra được từ anh cái tên Gia-bét Bun-tăng, trang trại Thung lũng Keo, hạt An-xtơ, rồi bắt đầu ghi nhận dạng mấy quý ông dùng tay chân.
Khi Cô-nân tới gặp ông biên tập hỏi số phận bài thơ của mình, anh được mời thẳng vào phòng trong, chẳng cần qua cậu bé chạy giấy, căn phòng trang trí bằng những bức tượng nhỏ của các nhà điêu khắc danh tiếng.
— Khi đọc dòng đầu tiên của bài "Nai cái và dòng suối", — ông biên tập nói, — tôi đã biết đó là tác phẩm của một người cả đời sống tâm giao với Thiên nhiên. Ngay cả nghệ thuật trau chuốt của câu thơ cũng không che mắt tôi được. Xin dùng một phép so sánh hơi mộc mạc, nó như thể một đứa con hoang dã, tự do của rừng núi đồng quê khoác bộ áo thời trang mà đi dạo trên phố Brốt-uê. Bên dưới bộ quần áo, con người thật vẫn lộ ra.
— Cảm ơn ông, — Cô-nân nói. — Tôi đoán thứ Năm sẽ có tấm séc như mọi khi.
Bài học đạo đức của câu chuyện này chẳng hiểu sao lại bị lẫn lộn mất rồi. Các vị cứ tuỳ ý chọn: "Hãy ở lại trang trại," hoặc "Đừng làm thơ."
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn