Chương 1: Ba giấc mơ trước ngày đăng quang
Đó là đêm trước ngày lễ đăng quang, và nhà vua trẻ đang ngồi một mình trong căn phòng lộng lẫy của mình. Triều thần đã cáo lui cả, cúi rạp đầu sát đất theo đúng nghi lễ thời bấy giờ, rồi lui về đại sảnh trong cung để nghe ông giáo sư lễ nghi giảng thêm mấy bài cuối cùng. Vì trong bọn họ vẫn còn vài người cư xử tự nhiên quá, mà với một vị quan trong triều, khỏi phải nói, đó là một lỗi rất nặng.
Chàng trai, vì chàng chỉ là một chàng trai, mới mười sáu tuổi đầu, chẳng tiếc gì khi họ đi khỏi. Chàng thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, ngả người xuống những chiếc gối êm trên chiếc trường kỷ thêu thùa, nằm đó, mắt mở to hoang dại, miệng hé ra, như một vị thần đồng nội da nâu trong rừng, hay như một con thú non vừa sa vào lưới của thợ săn.
Mà quả thật, chính những người thợ săn đã tìm thấy chàng. Họ gặp chàng gần như tình cờ, khi chàng chân trần, tay cầm ống sáo, đang đi theo đàn dê của người chăn dê nghèo đã nuôi chàng khôn lớn, người mà chàng vẫn đinh ninh là cha mình. Chàng là con của cô con gái duy nhất của nhà vua già, do một cuộc hôn nhân bí mật với một người thấp kém hơn nàng rất nhiều. Có người bảo đó là một khách lạ, nhờ tiếng đàn luýt huyền diệu mà khiến nàng công chúa trẻ đem lòng yêu. Có người lại nói tới một nghệ sĩ từ thành Ri-mi-ni, người được công chúa hết sức, có lẽ là quá sức, ưu ái, rồi bỗng biến mất khỏi kinh thành, bỏ dở công trình trong nhà thờ lớn. Khi mới được một tuần tuổi, đứa bé bị bế trộm khỏi bên mẹ lúc nàng đang ngủ, rồi được giao cho một bác nông dân nghèo và vợ bác nuôi. Hai vợ chồng không có con, sống ở một góc rừng hẻo lánh, cách kinh thành hơn một ngày ngựa. Vì đau buồn, hay vì bệnh dịch như lời ngự y, hay như có kẻ thì thầm, vì một thứ thuốc độc Ý giết người tức khắc pha trong chén rượu ủ hương, mà người thiếu nữ trắng trẻo đã sinh ra chàng chết chỉ trong vòng một giờ sau khi tỉnh dậy. Và khi người đưa tin đáng tin cậy, ôm đứa bé trước yên ngựa, cúi xuống từ con ngựa mệt nhoài để gõ cửa túp lều thô sơ của người chăn dê, thì thi hài công chúa đang được hạ xuống một nấm huyệt đào sẵn trong một nghĩa địa hoang vắng ngoài cổng thành. Người ta đồn rằng trong huyệt ấy còn có một thi hài khác, của một chàng trai đẹp kỳ lạ, mang dáng dấp người xứ khác, hai tay bị trói quặt sau lưng bằng một sợi dây thắt nút, ngực đầy những vết dao đỏ thẫm.
Ít ra đó là câu chuyện người ta thì thầm với nhau. Điều chắc chắn là nhà vua già, lúc hấp hối trên giường bệnh, không rõ vì ân hận về tội lỗi lớn của mình, hay chỉ vì không muốn ngai vàng lọt khỏi dòng họ, đã cho đi tìm chàng trai về, và trước mặt Hội đồng, nhận chàng làm người nối ngôi.
Hình như ngay từ giây phút được thừa nhận, chàng đã tỏ ra có một niềm say mê kỳ lạ với cái đẹp, niềm say mê sẽ chi phối cả cuộc đời chàng. Những người theo hầu chàng tới dãy phòng dành riêng cho chàng vẫn thường kể lại tiếng reo sung sướng bật ra khỏi môi chàng khi thấy những bộ y phục tinh xảo, những món châu báu quý giá đã sửa soạn sẵn, và niềm vui gần như dữ dội khi chàng quăng phắt chiếc áo da thô ráp và tấm áo choàng da cừu xù xì. Thỉnh thoảng chàng cũng nhớ cuộc sống tự do phóng khoáng trong rừng, và hay bực bội vì những nghi lễ triều đình tẻ nhạt chiếm gần hết mỗi ngày. Nhưng toà cung điện tuyệt diệu mà người ta gọi là cung Hoan Lạc, nơi giờ đây chàng là chủ, đối với chàng như một thế giới mới vừa được tạo ra cho riêng chàng thưởng ngoạn. Hễ thoát được khỏi bàn hội đồng hay phòng thiết triều là chàng chạy xuống cầu thang lớn có những con sư tử đồng mạ vàng và những bậc đá đỏ bóng loáng, đi lang thang từ phòng này sang phòng khác, từ hành lang này sang hành lang khác, như người tìm trong cái đẹp một liều thuốc giảm đau, một thứ để hồi phục sau cơn bệnh.
Trong những chuyến đi khám phá ấy, như chàng vẫn gọi, mà với chàng thì đó là những chuyến du hành thật sự qua một xứ sở kỳ diệu, đôi khi có mấy cậu thị đồng mảnh mai tóc vàng đi cùng, áo choàng bay phấp phới, dải lụa rực rỡ phất phơ. Nhưng phần nhiều chàng đi một mình. Bằng một bản năng nhạy bén gần như linh cảm, chàng biết rằng những bí mật của nghệ thuật học tốt nhất khi học một mình, và rằng cái Đẹp, cũng như sự Khôn ngoan, yêu người tôn thờ nó trong cô độc.
Hồi ấy người ta kể nhiều chuyện lạ về chàng. Người ta bảo có một ông Thị trưởng béo tốt, đến đọc một bài diễn văn hoa mỹ thay mặt dân thành phố, đã bắt gặp chàng quỳ trước một bức tranh lớn mới mang từ Vơ-ni-dơ về, quỳ với lòng thành kính thật sự, như thể bức tranh báo trước sự tôn thờ những vị thần mới nào đó. Một lần khác, người ta lạc mất chàng mấy tiếng đồng hồ, tìm mãi mới thấy chàng trong một gian phòng nhỏ trên ngọn tháp phía bắc cung điện, đang ngây người như kẻ mộng du ngắm một viên ngọc Hy Lạp chạm hình chàng A-đô-ni. Người ta còn kể đã thấy chàng áp đôi môi ấm lên vầng trán đá cẩm thạch của một pho tượng cổ, pho tượng vớt được dưới lòng sông hồi xây cầu đá. Chàng đã thức trọn một đêm để ngắm ánh trăng rọi lên một pho tượng bạc hình chàng chăn cừu En-đi-mi-ôn.
Mọi thứ vật liệu quý hiếm đều có sức hút lớn với chàng. Muốn có chúng, chàng phái đi rất nhiều lái buôn. Người thì đi buôn hổ phách với dân chài thô mộc ở các vùng biển phương bắc. Người thì sang Ai Cập tìm thứ ngọc lam xanh kỳ lạ chỉ có trong lăng mộ các vua, nghe nói có phép màu. Người thì sang Ba Tư mua thảm lụa và đồ gốm vẽ. Người khác lại sang Ấn Độ mua the mỏng và ngà nhuộm màu, đá mặt trăng và vòng ngọc thạch, gỗ đàn hương, men xanh và khăn choàng len mịn.
Nhưng điều chàng bận tâm nhất là chiếc áo bào chàng sẽ mặc trong lễ đăng quang, chiếc áo dệt bằng chỉ vàng, rồi chiếc vương miện nạm hồng ngọc, và cây vương trượng có những hàng, những vòng ngọc trai. Quả thật, đêm nay chàng đang nghĩ đến chính những thứ ấy, khi ngả người trên chiếc trường kỷ sang trọng, nhìn khúc củi thông lớn đang cháy dần trong lò sưởi. Những mẫu vẽ, do tay những nghệ nhân lừng danh nhất thời ấy làm ra, đã được trình lên chàng từ nhiều tháng trước. Chàng đã ra lệnh cho thợ thủ công phải làm ngày làm đêm cho xong, và phải lùng khắp thế gian tìm những viên ngọc xứng với tay nghề của họ. Chàng mơ màng thấy mình đứng trước bàn thờ chính trong nhà thờ lớn, trong bộ y phục lộng lẫy của một vị vua. Một nụ cười nở ra, đọng mãi trên đôi môi trẻ thơ của chàng, làm đôi mắt sẫm màu rừng của chàng sáng rực lên.
Một lúc sau, chàng đứng dậy, tựa vào mái lò sưởi chạm trổ, nhìn quanh căn phòng mờ tối. Tường treo những tấm thảm quý dệt cảnh Cái Đẹp khải hoàn. Một chiếc tủ lớn khảm mã não và ngọc lưu ly chiếm một góc. Đối diện cửa sổ là một chiếc tủ nhỏ chạm khắc tinh xảo, những tấm ván sơn mài rắc bụi vàng và khảm vàng, trên đặt mấy chiếc cốc thuỷ tinh Vơ-ni-dơ mỏng manh và một chiếc chén mã não vân sẫm. Trên tấm khăn phủ giường bằng lụa thêu những bông anh túc nhợt nhạt, như thể rơi ra từ đôi bàn tay mỏi mệt của giấc ngủ. Những cây sậy cao bằng ngà có khía đỡ lấy chiếc màn nhung, từ đó những chùm lông đà điểu lớn vươn lên như bọt trắng, chạm tới trần nhà chạm trổ màu bạc nhạt. Một pho tượng đồng xanh hình chàng Nác-xít đang cười, giơ một tấm gương sáng bóng trên đầu. Trên bàn đặt một chiếc bát dẹt bằng thạch anh tím.
Bên ngoài, chàng thấy mái vòm đồ sộ của nhà thờ lớn nhô lên như một bong bóng trên những mái nhà chìm trong bóng tối, và những người lính gác mỏi mệt đi đi lại lại trên sân thượng mờ sương bên bờ sông. Xa xa trong một vườn cây, một con chim họa mi đang hót. Mùi hoa nhài thoang thoảng bay vào qua cửa sổ mở. Chàng vuốt những lọn tóc nâu xoăn khỏi trán, cầm cây đàn luýt lên, để những ngón tay lướt trên dây. Đôi mi nặng trĩu khép xuống, một cơn uể oải lạ lùng xâm chiếm lấy chàng. Chưa bao giờ chàng cảm thấy sâu sắc đến thế, với một niềm vui tinh tế đến thế, cái huyền diệu và cái bí ẩn của những vật đẹp đẽ.
Khi đồng hồ trên tháp điểm nửa đêm, chàng rung chuông. Các thị đồng bước vào, trịnh trọng cởi áo cho chàng, dội nước hoa hồng lên tay chàng, rải hoa lên gối chàng. Họ rời phòng được một lát thì chàng ngủ thiếp đi.
Và trong giấc ngủ chàng thấy một giấc mơ. Đây là giấc mơ của chàng.
Chàng thấy mình đứng trong một gian gác mái dài và thấp, giữa tiếng rì rì lạch cạch của bao nhiêu khung cửi. Ánh ngày nhợt nhạt lọt vào qua những ô cửa sổ có chấn song, soi rõ những dáng người thợ dệt gầy gò đang cúi rạp trên khung cửi. Những đứa trẻ xanh xao, ốm yếu ngồi co ro trên những thanh xà ngang to tướng. Mỗi khi con thoi vụt qua hàng sợi dọc, chúng nhấc thanh go nặng nề lên, và khi con thoi dừng lại, chúng thả thanh go xuống, nén chặt các sợi chỉ lại với nhau. Mặt chúng hốc hác vì đói, đôi bàn tay gầy run lẩy bẩy. Mấy người đàn bà tiều tuỵ ngồi khâu bên một chiếc bàn. Một mùi hôi khủng khiếp bao trùm khắp nơi. Không khí ngột ngạt, nặng nề, tường ẩm ướt nhỏ nước ròng ròng.
Nhà vua trẻ đi đến bên một người thợ dệt, đứng cạnh anh ta mà nhìn.
Người thợ dệt nhìn chàng giận dữ, nói: "Sao anh nhìn tôi? Anh là gián điệp chủ chúng tôi cài vào đây à?"
Nhà vua trẻ hỏi: "Chủ anh là ai?"
Người thợ dệt cay đắng kêu lên: "Chủ chúng tôi à! Hắn cũng là người như tôi thôi. Thật ra giữa hắn với tôi chỉ có mỗi một điều khác, là hắn mặc đồ đẹp còn tôi mặc giẻ rách, và trong khi tôi đói lả thì hắn khổ sở không ít vì ăn quá no."
Nhà vua trẻ nói: "Đất nước này tự do, anh đâu phải nô lệ của ai."
Người thợ dệt đáp: "Thời chiến, kẻ mạnh bắt kẻ yếu làm nô lệ. Thời bình, kẻ giàu bắt kẻ nghèo làm nô lệ. Chúng tôi phải làm để sống, mà họ trả công rẻ mạt đến nỗi chúng tôi chết dần. Chúng tôi làm lụng cho họ suốt ngày, họ chất vàng đầy rương, còn con cái chúng tôi héo hon trước tuổi, gương mặt những người thân yêu của chúng tôi thành chai sạn và độc ác. Chúng tôi đạp nho, kẻ khác uống rượu. Chúng tôi gieo lúa, bàn ăn nhà mình trống trơn. Chúng tôi mang xiềng xích, dù chẳng ai nhìn thấy, và chúng tôi là nô lệ, dù người ta gọi chúng tôi là người tự do."
Chàng hỏi: "Ai cũng như thế cả sao?"
Người thợ dệt đáp: "Ai cũng như thế cả. Người trẻ cũng như người già, đàn bà cũng như đàn ông, trẻ nhỏ cũng như những người đã lụ khụ tuổi tác. Bọn lái buôn bóp nghẹt chúng tôi, và chúng tôi buộc phải làm theo ý họ. Ông cha cưỡi ngựa đi qua, tay lần tràng hạt, chẳng ai đoái hoài đến chúng tôi. Qua những con hẻm không bao giờ có nắng của chúng tôi, Nghèo Đói rón rén bò qua với đôi mắt thèm khát, và Tội Lỗi với bộ mặt sũng rượu bám sát sau lưng. Khốn Khổ đánh thức chúng tôi mỗi sáng, và Nhục Nhã ngồi cùng chúng tôi mỗi tối. Nhưng những chuyện ấy thì can hệ gì đến anh? Anh đâu phải người như chúng tôi. Mặt anh hạnh phúc quá." Rồi anh ta cau có quay đi, ném con thoi qua khung cửi, và nhà vua trẻ thấy con thoi luồn một sợi chỉ vàng.
Một nỗi kinh hoàng lớn xâm chiếm lấy chàng. Chàng hỏi người thợ dệt: "Anh đang dệt áo gì thế?"
Anh ta đáp: "Áo cho lễ đăng quang của nhà vua trẻ. Thì can hệ gì đến anh?"
Nhà vua trẻ kêu lên một tiếng thật to rồi tỉnh dậy. Kìa, chàng đang ở trong phòng mình, qua khung cửa sổ, chàng thấy vầng trăng lớn màu mật ong treo lơ lửng giữa bầu trời sẫm tối.
Rồi chàng lại ngủ thiếp đi và mơ. Đây là giấc mơ của chàng.
Chàng thấy mình nằm trên boong một chiếc thuyền chiến khổng lồ do một trăm người nô lệ chèo. Ngồi trên tấm thảm bên cạnh chàng là chủ thuyền. Hắn đen như gỗ mun, đầu quấn khăn lụa đỏ thẫm. Đôi khuyên tai lớn bằng bạc kéo trễ dái tai dày của hắn, trong tay hắn cầm một chiếc cân bằng ngà.
Những người nô lệ trần truồng, chỉ quấn một mảnh khố rách, người nào cũng bị xích vào người bên cạnh. Nắng nóng như thiêu đổ xuống người họ, bọn cai nô chạy ngược chạy xuôi trên lối đi giữa thuyền, quất họ bằng roi da. Họ vươn những cánh tay gầy guộc, kéo những mái chèo nặng nề rẽ nước. Bụi nước mặn tung toé từ mái chèo.
Cuối cùng họ tới một vịnh nhỏ và bắt đầu dò độ sâu. Một làn gió nhẹ từ bờ thổi ra, phủ lên boong thuyền và cánh buồm tam giác lớn một lớp bụi đỏ mịn. Ba người Ả Rập cưỡi lừa hoang phi ra, phóng lao vào họ. Chủ thuyền cầm cây cung sơn vẽ, bắn trúng cổ họng một người. Người ấy ngã vật xuống làn sóng vỗ bờ, hai người kia quất lừa bỏ chạy. Một người đàn bà trùm khăn voan vàng chậm rãi theo sau trên lưng lạc đà, chốc chốc lại ngoái nhìn cái xác.
Thả neo, hạ buồm xong, bọn cai nô xuống khoang mang lên một chiếc thang dây dài buộc chì nặng. Chủ thuyền thả thang qua mạn, buộc chặt hai đầu vào hai cọc sắt. Rồi bọn cai nô túm lấy người nô lệ trẻ nhất, đập bỏ xiềng xích cho anh, nhét sáp đầy mũi và tai anh, buộc một hòn đá to quanh thắt lưng. Anh mệt mỏi bò xuống thang rồi mất hút dưới biển. Vài bong bóng nổi lên chỗ anh chìm. Mấy người nô lệ khác tò mò ngó qua mạn thuyền. Ở mũi thuyền, một người làm phép trừ cá mập ngồi gõ trống đều đều.
Một lúc sau, người thợ lặn trồi lên khỏi mặt nước, thở hổn hển bám lấy thang, tay phải cầm một viên ngọc trai. Bọn cai nô giật lấy viên ngọc, đẩy anh xuống lại. Những người nô lệ ngủ gục trên mái chèo.
Anh trồi lên lần này rồi lần khác, lần nào cũng mang theo một viên ngọc trai đẹp. Chủ thuyền cân từng viên, rồi bỏ vào một chiếc túi nhỏ bằng da xanh.
Nhà vua trẻ cố cất tiếng, nhưng lưỡi chàng như dính chặt vào vòm miệng, đôi môi không chịu nhúc nhích. Bọn cai nô ríu rít với nhau, rồi bắt đầu giành giật một chuỗi hạt sáng lóng lánh. Hai con sếu bay vòng quanh con thuyền.
Rồi người thợ lặn trồi lên lần cuối, và viên ngọc anh mang lên đẹp hơn mọi viên ngọc của xứ Hoóc-mút, vì nó tròn như trăng rằm, trắng hơn sao mai. Nhưng mặt anh tái nhợt lạ lùng. Anh ngã vật xuống boong, máu phọt ra từ tai và mũi. Anh run lên một lúc, rồi nằm im. Bọn cai nô nhún vai, quăng cái xác xuống biển.
Chủ thuyền phá lên cười, với tay lấy viên ngọc. Nhìn thấy nó, hắn áp lên trán và cúi đầu. Hắn nói: "Viên này sẽ dành cho vương trượng của nhà vua trẻ." Rồi hắn ra hiệu cho bọn cai nô nhổ neo.
Nhà vua trẻ nghe thấy thế liền kêu lên một tiếng thật to rồi tỉnh dậy. Qua cửa sổ, chàng thấy những ngón tay dài xám nhạt của bình minh đang níu lấy những vì sao đang mờ dần.
Rồi chàng lại ngủ thiếp đi và mơ. Đây là giấc mơ của chàng.
Chàng thấy mình lang thang trong một khu rừng âm u, trĩu những trái lạ và những đoá hoa đẹp mà độc. Lũ rắn lục rít lên khi chàng đi qua, những con vẹt sặc sỡ kêu choe chóe bay từ cành này sang cành khác. Những con rùa khổng lồ nằm ngủ trên bùn nóng. Cây cối đầy khỉ và công.
Chàng đi mãi, đi mãi, tới bìa rừng, và ở đó chàng thấy một đám người đông vô kể đang làm lụng dưới lòng một con sông cạn. Họ bò lúc nhúc lên vách đá như kiến. Họ đào những hố sâu dưới đất rồi chui xuống. Người thì bổ đá bằng những chiếc rìu lớn, người thì bới cát.
Họ nhổ bật rễ những cây xương rồng, giẫm nát những bông hoa đỏ thắm. Họ hối hả chạy tới chạy lui, gọi nhau í ới, chẳng ai ngồi không.
Từ bóng tối của một hang đá, Thần Chết và mụ Tham Lam đứng nhìn họ. Thần Chết nói: "Ta mệt rồi. Cho ta một phần ba bọn chúng rồi để ta đi." Nhưng mụ Tham Lam lắc đầu. Mụ đáp: "Chúng là đầy tớ của ta."
Thần Chết hỏi mụ: "Trong tay mụ cầm gì thế?"
Mụ đáp: "Ta cầm ba hạt lúa. Thì can hệ gì đến ngươi?"
Thần Chết kêu lên: "Cho ta một hạt thôi, để ta trồng trong vườn của ta. Chỉ một hạt thôi, rồi ta sẽ đi."
Mụ Tham Lam nói: "Ta chẳng cho ngươi thứ gì cả." Rồi mụ giấu tay vào nếp áo.
Thần Chết bật cười, cầm một chiếc chén nhúng vào một vũng nước, và từ trong chén bước ra mụ Sốt Rét. Mụ đi qua đám đông, một phần ba trong số họ nằm xuống chết. Một làn sương lạnh theo sau mụ, những con rắn nước bò bên cạnh mụ.
Thấy một phần ba đám đông đã chết, mụ Tham Lam đấm ngực khóc lóc. Mụ đấm vào bộ ngực cằn cỗi, kêu gào: "Ngươi đã giết một phần ba đầy tớ của ta rồi. Cút đi! Trên núi xứ Tác-ta-ri đang có chiến tranh, vua hai bên đều đang gọi ngươi. Người Áp-ga-ni-xtan đã giết con bò đen làm lễ, đang hành quân ra trận. Họ đã lấy giáo gõ vào khiên, đã đội mũ sắt. Thung lũng của ta có nghĩa lý gì với ngươi mà ngươi cứ nấn ná mãi ở đây? Cút đi, đừng bao giờ quay lại nữa."
Thần Chết đáp: "Không. Chừng nào mụ chưa cho ta một hạt lúa, ta chưa đi."
Nhưng mụ Tham Lam nắm chặt tay, nghiến răng. Mụ lẩm bẩm: "Ta chẳng cho ngươi thứ gì cả."
Thần Chết bật cười, nhặt một hòn đá đen ném vào rừng, và từ một bụi độc cần dại bước ra mụ Thương Hàn trong tấm áo lửa. Mụ đi qua đám đông, chạm vào họ, và ai bị mụ chạm vào đều chết. Cỏ héo rũ dưới bước chân mụ đi.
Mụ Tham Lam rùng mình, rắc tro lên đầu. Mụ kêu lên: "Ngươi độc ác lắm, ngươi độc ác lắm. Các thành trì có tường bao ở Ấn Độ đang bị nạn đói, các bể nước ở Xa-mác-canh đã cạn khô. Các thành trì có tường bao ở Ai Cập đang bị nạn đói, châu chấu từ sa mạc đã kéo về. Sông Nin không tràn bờ, các thầy tu đã nguyền rủa thần I-xít và thần Ô-xi-rít. Hãy đến với những nơi cần ngươi, để lại đầy tớ cho ta."
Thần Chết đáp: "Không. Chừng nào mụ chưa cho ta một hạt lúa, ta chưa đi."
Mụ Tham Lam nói: "Ta chẳng cho ngươi thứ gì cả."
Thần Chết lại bật cười, đưa ngón tay lên miệng huýt sáo, và một người đàn bà bay vụt qua không trung. Trên trán mụ ghi chữ Dịch Hạch, một bầy kền kền gầy guộc lượn vòng quanh mụ. Mụ dang cánh phủ kín thung lũng, và chẳng còn ai sống sót.
Mụ Tham Lam rú lên bỏ chạy qua rừng, còn Thần Chết nhảy lên con ngựa đỏ, phi đi, nhanh hơn cả gió.
Rồi từ lớp bùn nhầy dưới đáy thung lũng, những con rồng và những quái vật kinh tởm có vảy bò ra, lũ chó rừng lon ton chạy dọc bãi cát, hếch mũi đánh hơi.
Nhà vua trẻ khóc, và hỏi: "Những người ấy là ai, và họ đi tìm cái gì?"
Một người đứng sau lưng chàng đáp: "Họ tìm hồng ngọc cho vương miện của một ông vua."
Nhà vua trẻ giật mình quay lại, thấy một người ăn mặc như khách hành hương, tay cầm một tấm gương bạc.
Chàng tái mặt, hỏi: "Vua nào?"
Người hành hương đáp: "Hãy nhìn vào tấm gương này, ngươi sẽ thấy hắn."
Chàng nhìn vào gương, thấy chính gương mặt mình. Chàng kêu lên một tiếng thật to rồi tỉnh dậy. Nắng sáng chan hoà tràn vào phòng, chim chóc đang hót trên những tán cây trong vườn ngự.
— Hết chương 1 —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích