Truyện Đỉnh

😄 Truyện cười dân gian

Nhật ký của A-đam

của Mark Twain

⏱ 26 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 21.957 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Lời người dịch bản thảo: Cách đây mấy năm…
  2. 3:24Đời tôi không còn hạnh phúc như trước.
  3. 4:59Cô ấy bảo công viên này mà có khách…
  4. 7:52Cô ấy bảo tôi rằng cô ấy được làm…
  5. 10:47Tôi biết thế nghĩa là gì: Ê-va đã ăn…
  6. 15:14Tôi vẫn nghĩ nó là cá, nhưng cô ấy…
  7. 20:05Con chuột túi vẫn tiếp tục lớn, thật lạ…
  8. 24:28Tôi đã so sánh con mới với con cũ,…

Lời người dịch bản thảo: Cách đây mấy năm tôi đã dịch một phần cuốn nhật ký này, và một người bạn đã in vài bản chưa đầy đủ, nhưng công chúng chưa bao giờ được đọc. Từ đó tới nay tôi đã giải mã thêm được một ít chữ tượng hình của A-đam, và nghĩ rằng giờ đây ông đã đủ quan trọng trong vai một nhân vật của công chúng để xứng đáng được công bố. Mác Tuên.

Thứ hai.

Cái sinh vật mới tóc dài này vướng víu quá. Nó cứ lảng vảng quanh tôi, đi theo tôi khắp nơi. Tôi không thích thế. Tôi không quen có bầu có bạn. Tôi ước nó ở với các con vật khác.

Hôm nay trời nhiều mây, gió đông. Chắc sắp mưa. Mà tôi học được chữ “chắc” ấy ở đâu nhỉ? À, giờ thì tôi nhớ ra rồi, cái sinh vật mới hay dùng chữ ấy.

Thứ ba.

Đi xem xét cái thác nước lớn. Tôi nghĩ đó là thứ đẹp nhất trong cả điền trang. Cái sinh vật mới gọi nó là thác Ni-a-ga-ra. Vì sao thì tôi chịu, chẳng biết. Nó bảo trông nó giống thác Ni-a-ga-ra. Thế mà cũng gọi là lý do à. Chẳng qua là đỏng đảnh và ngớ ngẩn. Tôi chẳng có dịp tự đặt tên cho thứ gì cả. Cái sinh vật mới đặt tên cho mọi thứ nó gặp, trước khi tôi kịp phản đối. Mà lần nào cũng đưa ra đúng cái cớ ấy: trông nó giống thế. Chẳng hạn như con chim đô-đô. Nó bảo người ta vừa nhìn con chim là thấy ngay nó “trông giống con đô-đô”. Hẳn là con chim sẽ phải mang cái tên ấy thôi. Tôi bực mình chuyện ấy mãi cũng mệt, mà dù sao cũng chẳng được ích gì. Đô-đô! Nó trông giống con đô-đô cũng chẳng hơn gì tôi.

Thứ tư.

Dựng cho mình một chỗ trú mưa, nhưng không được ở yên một mình. Cái sinh vật mới xâm nhập vào. Tôi định đuổi nó ra thì nó cho nước chảy ra từ hai cái lỗ nó dùng để nhìn, lấy mu bàn chân trước lau đi, rồi phát ra một thứ tiếng giống tiếng mấy con vật khác kêu lên khi gặp nạn.

Tôi ước gì nó đừng nói. Lúc nào nó cũng nói. Nghe thế có vẻ như tôi đang chê bai rẻ rúng con vật tội nghiệp, nhưng tôi không có ý ấy. Trước đây tôi chưa bao giờ nghe tiếng người. Bất cứ âm thanh mới mẻ, lạ lùng nào len vào sự tĩnh lặng trang nghiêm của chốn cô tịch mơ màng này đều làm tai tôi khó chịu, nghe như một nốt nhạc sai. Mà âm thanh mới này lại ở sát bên tôi quá, ngay bên vai, ngay bên tai, lúc bên này lúc bên kia, trong khi tôi chỉ quen với những âm thanh ít nhiều ở xa mình.

Thứ sáu.

Việc đặt tên vẫn cứ tiếp tục một cách liều lĩnh, tôi làm gì cũng không ngăn được. Tôi đã có một cái tên rất hay cho điền trang, nghe êm tai, đẹp đẽ: Vườn Địa Đàng. Riêng tôi vẫn tiếp tục gọi nó như thế, nhưng không gọi trước mặt người khác nữa. Cái sinh vật mới bảo chỗ này toàn rừng với đá với cảnh, vì thế chẳng giống vườn chút nào. Nó bảo trông nó giống một công viên, chẳng giống cái gì khác ngoài công viên. Thế là, chẳng hỏi ý tôi, nó được đặt tên mới: Công viên Thác Ni-a-ga-ra. Tôi thấy như thế là quá độc đoán. Mà đã có cả một tấm biển dựng lên rồi:

Không được giẫm lên cỏ.

Đời tôi không còn hạnh phúc như trước.

Thứ bảy.

Cái sinh vật mới ăn nhiều trái cây quá. Có lẽ chúng ta sắp thiếu ăn mất. Lại “chúng ta” rồi, đó là chữ của nó. Giờ cũng thành chữ của tôi, vì nghe nhiều quá. Sáng nay sương mù dày. Tôi thì không ra ngoài lúc có sương mù. Cái sinh vật mới thì có. Trời nào nó cũng ra ngoài, rồi cứ thế lộp cộp đi vào với đôi chân lấm bùn. Và nói. Chỗ này trước đây dễ chịu, yên tĩnh biết bao.

Chủ nhật.

Cũng qua được. Ngày này ngày càng khó chịu. Nó được chọn và dành riêng ra từ tháng mười một năm ngoái làm ngày nghỉ. Trước đó tôi đã có sáu ngày nghỉ mỗi tuần rồi. Sáng nay bắt gặp cái sinh vật mới đang cố ném đất cho táo rụng khỏi cái cây bị cấm ấy.

Thứ hai.

Cái sinh vật mới bảo tên nó là Ê-va. Thế cũng được, tôi chẳng phản đối gì. Nó bảo đó là để gọi nó khi tôi muốn nó tới. Tôi bảo thế thì thừa. Chữ ấy rõ ràng làm tôi được nó kính nể hơn. Mà quả thật đó là một chữ to, hay, đáng được dùng lại nhiều lần. Nó bảo nó không phải là “nó”, mà là “cô ấy”. Điều này có lẽ đáng ngờ. Nhưng với tôi thì cũng thế cả. Cô ấy là gì thì cũng chẳng can hệ gì tới tôi, miễn là cô ấy chịu đi chỗ khác một mình và đừng nói.

Thứ ba.

Cô ấy rải khắp điền trang những cái tên kinh khủng và những tấm biển chướng mắt:

Lối này tới xoáy nước.

Lối này tới đảo Dê.

Hang Gió ở lối này.

Cô ấy bảo công viên này mà có khách thì sẽ thành một khu nghỉ mát mùa hè xinh xắn. Khu nghỉ mát mùa hè, lại một phát minh nữa của cô ấy, toàn chữ là chữ, chẳng có nghĩa gì. Khu nghỉ mát mùa hè là cái gì? Nhưng tốt nhất là đừng hỏi cô ấy, cô ấy mê giải thích lắm.

Thứ sáu.

Cô ấy bắt đầu năn nỉ tôi đừng nhảy qua thác nữa. Thế thì có hại gì? Cô ấy bảo cô ấy rùng mình. Tôi chẳng hiểu sao lại thế. Xưa nay tôi vẫn làm thế, vẫn thích cú lao xuống, cái cảm giác rộn ràng, cái mát lạnh. Tôi cứ tưởng thác nước sinh ra là để làm thế. Tôi chẳng thấy nó có công dụng gì khác, mà hẳn nó phải được làm ra để làm gì chứ. Cô ấy bảo nó được làm ra chỉ để làm cảnh, giống như con tê giác với con voi ma-mút.

Tôi chui vào thùng tô-nô mà lao qua thác. Cô ấy không hài lòng. Tôi chui vào chậu giặt mà lao qua. Vẫn không hài lòng. Tôi mặc bộ đồ lá vả bơi qua xoáy nước và ghềnh thác. Bộ đồ hỏng nặng. Thế là tôi lại phải nghe những lời phàn nàn dai dẳng về tính hoang phí của mình. Ở đây tôi bị gò bó quá. Tôi cần thay đổi không khí.

Thứ bảy.

Tối thứ ba vừa rồi tôi trốn đi, đi hai ngày đường, dựng cho mình một chỗ trú khác ở một nơi hẻo lánh, và xoá dấu vết hết mức có thể. Nhưng cô ấy vẫn lùng ra được tôi, nhờ một con vật cô ấy đã thuần hoá và gọi là con sói. Cô ấy tới, lại phát ra cái thứ tiếng thảm thương ấy, lại cho nước chảy ra từ những chỗ cô ấy dùng để nhìn. Tôi buộc phải về với cô ấy, nhưng hễ có dịp là tôi sẽ lại di cư.

Cô ấy bận rộn với lắm chuyện ngớ ngẩn. Chẳng hạn, cô ấy cứ nghiên cứu mãi xem vì sao những con vật gọi là sư tử và hổ lại sống bằng cỏ và hoa, trong khi theo lời cô ấy, cái loại răng chúng mang cho thấy chúng được tạo ra để ăn thịt lẫn nhau. Thật ngớ ngẩn, vì làm thế thì chúng sẽ giết nhau, và như thế sẽ đem vào cái mà theo tôi hiểu người ta gọi là “cái chết”. Mà tôi được biết cái chết chưa hề vào tới Công viên. Xét về vài mặt thì cũng đáng tiếc.

Chủ nhật.

Cũng qua được.

Thứ hai.

Tôi nghĩ tôi đã hiểu cả tuần lễ sinh ra để làm gì: để có thời gian nghỉ ngơi cho lại sức sau nỗi mệt mỏi của ngày Chủ nhật. Có vẻ là một ý hay. Cô ấy lại trèo lên cái cây ấy. Tôi ném đất cho cô ấy tụt xuống. Cô ấy bảo chẳng có ai nhìn. Có vẻ cô ấy cho thế là đủ để biện minh cho việc liều lĩnh làm bất cứ điều gì nguy hiểm. Tôi bảo cô ấy như vậy. Chữ “biện minh” khiến cô ấy thán phục, mà tôi nghĩ có cả ghen tị nữa. Đó là một chữ hay.

Thứ năm.

Cô ấy bảo tôi rằng cô ấy được làm ra từ một cái xương sườn lấy trong người tôi. Điều này ít ra cũng đáng ngờ, nếu không nói là hơn thế nữa. Tôi có thấy mất cái xương sườn nào đâu.

Cô ấy đang rất lo cho con kền kền. Cô ấy bảo ăn cỏ không hợp với nó, sợ không nuôi nổi nó, cô ấy nghĩ nó được tạo ra để sống bằng thịt thối. Con kền kền phải cố mà sống bằng những gì người ta cung cấp. Chúng ta không thể đảo lộn cả cái kế hoạch lớn chỉ để chiều con kền kền.

Thứ bảy.

Hôm qua cô ấy ngã xuống ao, khi đang soi mình dưới nước, việc cô ấy làm suốt ngày. Cô ấy suýt chết ngạt, và bảo khó chịu lắm. Điều đó làm cô ấy thương những sinh vật sống dưới ấy, mà cô ấy gọi là cá. Vì cô ấy vẫn cứ gắn tên cho những thứ chẳng cần tên, mà gọi tên thì chúng cũng chẳng tới, nhưng với cô ấy thì chuyện ấy chẳng quan trọng gì, cô ấy vốn đầu óc bã đậu mà. Thế là cô ấy vớt cả mớ cá lên, tối qua mang vào nhà, bỏ vào giường tôi cho chúng được ấm. Cả ngày nay thỉnh thoảng tôi lại để ý chúng, nhưng tôi chẳng thấy chúng ở đấy sung sướng hơn trước chút nào, chỉ có điều là im lặng hơn. Tối nay tôi sẽ ném chúng ra ngoài. Tôi sẽ không ngủ với chúng nữa, vì tôi thấy chúng nhớp nháp, nằm giữa chúng chẳng dễ chịu gì khi người ta không mặc gì trên người.

Chủ nhật.

Cũng qua được.

Thứ ba.

Giờ cô ấy lại đi kết thân với một con rắn. Các con vật khác mừng lắm, vì cô ấy cứ mang chúng ra thí nghiệm, quấy rầy chúng mãi. Tôi cũng mừng, vì con rắn biết nói, nhờ vậy tôi được nghỉ ngơi.

Thứ sáu.

Cô ấy bảo con rắn khuyên cô ấy thử ăn quả của cái cây ấy, bảo rằng kết quả sẽ là một nền học vấn lớn lao, tốt đẹp, cao quý. Tôi bảo cô ấy rằng sẽ còn một kết quả khác nữa: nó sẽ đem cái chết vào thế gian. Nói thế là sai lầm. Lẽ ra tôi nên giữ câu ấy cho riêng mình. Nó chỉ gợi cho cô ấy một ý tưởng: cô ấy có thể cứu con kền kền đang ốm, và cung cấp thịt tươi cho lũ sư tử, hổ đang buồn rầu. Tôi khuyên cô ấy tránh xa cái cây ấy ra. Cô ấy bảo không. Tôi thấy trước rắc rối rồi. Sẽ di cư.

Thứ tư.

Tôi vừa trải qua một thời gian lắm biến cố. Đêm ấy tôi trốn đi, cưỡi ngựa phi suốt đêm nhanh hết sức con ngựa có thể chạy, mong ra khỏi hẳn Công viên và trốn sang một xứ khác trước khi rắc rối bắt đầu. Nhưng không được. Chừng một giờ sau khi mặt trời mọc, khi tôi đang phi qua một cánh đồng đầy hoa, nơi hàng nghìn con vật đang gặm cỏ, ngủ, hay đùa giỡn với nhau như thường lệ, bỗng nhiên chúng bùng lên một cơn bão tiếng kêu kinh khủng. Chỉ trong khoảnh khắc, cả cánh đồng náo loạn điên cuồng, con thú nào cũng đang giết con bên cạnh.

Tôi biết thế nghĩa là gì: Ê-va đã ăn trái cây ấy, và cái chết đã vào thế gian. Lũ hổ ăn mất con ngựa của tôi, chẳng thèm để ý khi tôi ra lệnh cho chúng thôi đi. Mà nếu tôi ở lại thì chúng còn ăn cả tôi. Nhưng tôi không ở lại, tôi đi rất vội.

Tôi tìm thấy chỗ này, ngoài Công viên, và được khá dễ chịu mấy ngày, nhưng cô ấy đã tìm ra tôi. Tìm ra tôi, rồi đặt tên chỗ này là Tô-na-oan-đa, bảo trông nó giống thế. Thật ra tôi cũng chẳng tiếc vì cô ấy tới, vì ở đây chẳng có mấy thứ để ăn, mà cô ấy lại mang theo mấy quả táo ấy. Tôi buộc phải ăn, tôi đói quá. Như thế là trái với nguyên tắc của tôi, nhưng tôi thấy nguyên tắc chẳng có sức mạnh thật sự nào, trừ khi người ta được ăn no.

Cô ấy tới, người che bằng cành cây và từng chùm lá. Khi tôi hỏi cô ấy làm cái trò vớ vẩn ấy là có ý gì, rồi giật chúng ra ném xuống đất, thì cô ấy cười khúc khích và đỏ mặt. Trước đây tôi chưa từng thấy ai cười khúc khích và đỏ mặt, và với tôi thì trông nó chẳng ra sao, ngớ ngẩn lắm. Cô ấy bảo chẳng bao lâu nữa tôi sẽ tự biết thế nào. Điều đó đúng thật. Đói tới đâu, tôi cũng đặt quả táo đang ăn dở xuống, mà chắc chắn đó là quả ngon nhất tôi từng thấy, xét mùa đã muộn thế này, rồi khoác lên người mớ cành lá vừa vứt đi. Rồi tôi nói với cô ấy, giọng khá nghiêm khắc, ra lệnh cho cô ấy đi lấy thêm, đừng có làm trò cười như thế.

Cô ấy làm theo. Sau đó chúng tôi lần xuống chỗ lũ thú hoang vừa đánh nhau, nhặt ít bộ da, và tôi bảo cô ấy khâu vá thành vài bộ quần áo mặc cho tươm tất ở những dịp gặp gỡ đông người. Chúng khó chịu thật, nhưng hợp thời trang, mà đó là điều chính yếu ở quần áo.

Tôi thấy cô ấy là một người bầu bạn khá tốt. Tôi thấy giờ đây, khi đã mất tài sản rồi, không có cô ấy hẳn tôi sẽ cô đơn, buồn chán lắm. Một điều nữa, cô ấy bảo đã có lệnh rằng từ nay chúng tôi phải làm lụng mà kiếm sống. Cô ấy sẽ có ích đấy. Tôi sẽ giám sát.

Mười ngày sau.

Cô ấy buộc tội tôi là nguyên nhân gây ra tai hoạ của chúng tôi! Cô ấy nói, với vẻ thành thật, đúng đắn, rằng con Rắn đã cam đoan với cô ấy rằng trái cấm không phải là táo, mà là hạt dẻ. Tôi bảo thế thì tôi vô tội, vì tôi có ăn hạt dẻ nào đâu. Cô ấy bảo con Rắn cho biết “hạt dẻ” là một từ theo nghĩa bóng, chỉ một câu đùa cũ rích, mốc meo.

Nghe tới đó tôi tái mặt, vì tôi đã pha nhiều câu đùa cho qua thời gian buồn tẻ, và có vài câu có thể thuộc loại ấy, dù lúc nghĩ ra tôi thật thà tưởng chúng mới. Cô ấy hỏi tôi có pha câu nào đúng vào lúc tai hoạ xảy ra không. Tôi buộc phải thừa nhận là có pha một câu cho riêng mình nghe, không nói thành tiếng.

Câu ấy thế này. Tôi đang nghĩ về thác nước, và tự nhủ: “Nhìn khối nước mênh mông ấy đổ xuống kia thì kỳ diệu biết bao!” Rồi trong nháy mắt, một ý nghĩ sáng chói loé lên trong đầu, và tôi buông ra luôn: “Nhìn nó đổ ngược lên trên kia thì còn kỳ diệu hơn nhiều!” Tôi đang sắp cười tới chết vì câu ấy thì cả thiên nhiên bùng lên chiến tranh và chết chóc, và tôi phải chạy trốn để giữ mạng.

Cô ấy nói, đầy đắc thắng: “Đấy, chính là nó. Con Rắn đã nhắc đúng câu đùa ấy, gọi nó là Hạt Dẻ Đầu Tiên, và bảo nó cùng tuổi với cuộc sáng thế.” Than ôi, đúng là lỗi tại tôi. Giá mà tôi đừng có óc hài hước. Ôi, giá mà tôi chưa bao giờ có cái ý nghĩ sáng chói ấy!

Năm sau.

Chúng tôi đặt tên cho nó là Ca-in. Cô ấy bắt được nó trong lúc tôi đi đặt bẫy thú ở mạn trên, bờ bắc hồ Ê-ri. Cô ấy bắt được nó trong rừng, cách cái hầm đất chúng tôi ở vài dặm, mà có khi là bốn dặm, cô ấy cũng không chắc. Về vài mặt nó giống chúng tôi, có khi là họ hàng. Cô ấy nghĩ thế, nhưng theo tôi thì đó là một sai lầm. Khác biệt về kích thước đủ để kết luận rằng nó là một loài vật khác, mới. Có lẽ là cá. Nhưng khi tôi thả nó xuống nước để xem, nó chìm, và cô ấy lao xuống vớt nó lên trước khi thí nghiệm kịp xác định vấn đề.

Tôi vẫn nghĩ nó là cá, nhưng cô ấy chẳng quan tâm nó là gì, và không chịu đưa nó cho tôi thử. Tôi không hiểu nổi chuyện này. Sự xuất hiện của sinh vật ấy dường như đã làm thay đổi cả bản chất cô ấy, làm cô ấy trở nên vô lý về chuyện thí nghiệm. Cô ấy quý nó hơn mọi con vật khác, nhưng không giải thích được vì sao. Đầu óc cô ấy rối loạn rồi, mọi thứ đều cho thấy thế.

Có những lúc con cá kêu ca, đòi xuống nước, cô ấy bế nó suốt nửa đêm. Những lúc ấy nước chảy ra từ những chỗ trên mặt cô ấy dùng để nhìn ra ngoài. Cô ấy vỗ vỗ lưng con cá, dùng miệng phát ra những tiếng êm êm để dỗ nó, và bày tỏ nỗi buồn, sự lo lắng bằng cả trăm cách. Tôi chưa từng thấy cô ấy làm thế với con cá nào khác, và điều ấy làm tôi lo lắng lắm. Trước khi chúng tôi mất tài sản, cô ấy vẫn hay bế hổ con đi khắp nơi như thế, chơi đùa với chúng. Nhưng đó chỉ là chơi thôi. Cô ấy chưa bao giờ cuống quýt về chúng như thế này những lúc bữa ăn không hợp bụng chúng.

Chủ nhật.

Cô ấy không làm việc ngày Chủ nhật, mà nằm ườn ra, mệt rã rời, thích để con cá bò lăn lộn trên người. Cô ấy làm những tiếng ngớ ngẩn để mua vui cho nó, giả vờ cắn chân nó, thế là nó cười. Tôi chưa từng thấy con cá nào biết cười. Chuyện này làm tôi ngờ ngợ.

Chính tôi cũng đã bắt đầu thích ngày Chủ nhật. Giám sát cả tuần mệt người lắm. Phải có thêm ngày Chủ nhật nữa. Ngày xưa ngày Chủ nhật khó chịu, nhưng bây giờ thì thật tiện.

Thứ tư.

Nó không phải là cá. Tôi không xác định được nó là gì. Khi không hài lòng, nó phát ra những tiếng kỳ quặc, quỷ quái, còn khi hài lòng thì nó nói “gù gù”. Nó không phải giống chúng tôi, vì nó không đi. Nó không phải chim, vì nó không bay. Nó không phải ếch, vì nó không nhảy. Nó không phải rắn, vì nó không bò. Tôi tin chắc nó không phải cá, dù tôi chẳng có dịp nào tìm hiểu xem nó có biết bơi không. Nó chỉ nằm ườn ra, phần lớn là nằm ngửa, chân giơ lên trời. Tôi chưa thấy con vật nào khác làm thế. Tôi bảo tôi tin nó là một điều bí ẩn, nhưng cô ấy chỉ thán phục cái chữ ấy mà chẳng hiểu gì. Theo tôi, nó hoặc là một điều bí ẩn, hoặc là một loại sâu bọ nào đó. Nếu nó chết, tôi sẽ mổ nó ra xem bên trong được sắp đặt thế nào. Chưa bao giờ có thứ gì làm tôi bối rối đến thế.

Ba tháng sau.

Nỗi bối rối tăng lên chứ chẳng giảm đi. Tôi ngủ rất ít. Nó không còn nằm ườn ra nữa, mà giờ đã đi lại bằng bốn chân. Thế nhưng nó khác những con vật bốn chân khác ở chỗ hai chân trước ngắn lạ thường, thành ra phần chính của thân mình nó chổng lên cao một cách khó coi, trông chẳng đẹp đẽ gì. Cấu tạo của nó cũng gần giống chúng tôi, nhưng cách nó di chuyển cho thấy nó không thuộc giống chúng tôi. Chân trước ngắn, chân sau dài cho thấy nó thuộc họ chuột túi, nhưng là một biến thể rõ rệt của loài ấy, vì chuột túi thật thì nhảy, còn con này thì chẳng bao giờ nhảy. Dù sao nó cũng là một biến thể lạ, thú vị, chưa từng được ghi vào danh mục. Vì tôi là người phát hiện ra nó, tôi thấy mình có quyền giữ công phát hiện bằng cách gắn tên mình vào, thế nên tôi gọi nó là Chuột túi A-đam.

Hẳn lúc mới tới nó còn non, vì từ đó tới giờ nó lớn lên rất nhiều. Giờ nó phải to gấp năm lần hồi ấy. Và khi không vừa ý, nó có thể làm ồn gấp hai mươi hai tới ba mươi tám lần so với lúc đầu. Ép buộc không làm nó bớt đi, mà còn có tác dụng ngược lại. Vì thế tôi đã bỏ phương pháp ấy. Cô ấy làm nó nguôi đi bằng cách dỗ dành, và bằng cách đưa cho nó những thứ trước đó cô ấy đã bảo là không cho.

Như đã nói, lúc nó mới tới tôi không có nhà, và cô ấy bảo cô ấy tìm thấy nó trong rừng. Thật lạ là nó lại là con duy nhất, nhưng hẳn là thế thật, vì suốt bao nhiêu tuần nay tôi đã đi tìm tới kiệt sức để kiếm thêm một con cho bộ sưu tập của mình, và cho con này có bạn chơi. Vì chắc chắn có bạn thì nó sẽ im hơn, và chúng tôi sẽ thuần hoá nó dễ hơn. Nhưng tôi không tìm thấy con nào, cũng chẳng thấy dấu vết gì. Lạ nhất là không có dấu chân. Nó phải sống trên mặt đất, nó chẳng làm khác được. Thế thì làm sao nó đi lại được mà không để lại dấu chân? Tôi đã đặt cả tá bẫy, nhưng chẳng ăn thua gì. Tôi bắt được mọi con vật nhỏ trừ con ấy. Những con vật chui vào bẫy chắc chỉ vì tò mò, muốn xem chỗ sữa kia để làm gì. Chúng chẳng bao giờ uống.

Ba tháng sau.

Con chuột túi vẫn tiếp tục lớn, thật lạ lùng, khó hiểu. Tôi chưa từng biết con chuột túi nào lâu lớn như thế. Giờ trên đầu nó đã có lông, không phải như lông chuột túi, mà giống hệt tóc chúng tôi, chỉ có điều mảnh hơn, mềm hơn nhiều, và màu đỏ chứ không phải màu đen. Tôi sắp phát điên vì những bước phát triển thất thường, quấy nhiễu của cái quái vật động vật học không thể phân loại này.

Giá mà tôi bắt được một con nữa. Nhưng vô vọng rồi. Nó là một biến thể mới, và là mẫu vật duy nhất, rõ ràng như thế. Nhưng tôi đã bắt được một con chuột túi thật mang về, nghĩ rằng con này cô đơn, hẳn sẽ thích có con kia làm bạn hơn là không có họ hàng nào, không có con vật nào để nó cảm thấy gần gũi hay được cảm thông trong cảnh ngộ bơ vơ giữa những kẻ xa lạ không biết lề thói, tập quán của nó, không biết làm gì cho nó thấy mình đang ở giữa bạn bè. Nhưng tôi đã nhầm. Nó lên cơn kinh khủng khi nhìn thấy con chuột túi, khiến tôi tin chắc trước đó nó chưa bao giờ thấy chuột túi.

Tôi thương con vật nhỏ ồn ào tội nghiệp, nhưng tôi chẳng làm được gì để nó vui. Giá mà tôi thuần hoá được nó. Nhưng không thể được. Tôi càng cố, dường như tôi càng làm nó tệ hơn. Nhìn nó trong những cơn bão buồn rầu và giận dữ nho nhỏ, tôi đau lòng tận tim. Tôi đã muốn thả nó đi, nhưng cô ấy không chịu nghe. Có vẻ thế là tàn nhẫn, không giống cô ấy. Thế nhưng có lẽ cô ấy đúng. Nó có thể còn cô đơn hơn bao giờ hết. Vì tôi đã không tìm được con nào khác, thì nó làm sao tìm được?

Năm tháng sau.

Nó không phải chuột túi. Không, vì nó bám vào ngón tay cô ấy để đứng, rồi đi được vài bước bằng hai chân sau, rồi ngã. Có lẽ nó là một loại gấu nào đó. Nhưng nó lại không có đuôi, ít ra là chưa có, và không có lông, trừ trên đầu. Nó vẫn tiếp tục lớn. Đó là một điều lạ, vì gấu lớn sớm hơn thế. Gấu thì nguy hiểm, từ khi xảy ra tai hoạ của chúng tôi. Tôi sẽ không yên lòng để con này lảng vảng quanh nhà lâu hơn nữa mà không đeo rọ mõm. Tôi đã đề nghị bắt cho cô ấy một con chuột túi nếu cô ấy chịu thả con này đi, nhưng chẳng ăn thua gì. Tôi nghĩ cô ấy quyết đẩy chúng tôi vào đủ mọi thứ rủi ro ngớ ngẩn. Trước khi mất trí, cô ấy đâu có thế.

Hai tuần sau.

Tôi đã khám miệng nó. Chưa có gì nguy hiểm. Nó mới có một cái răng. Nó vẫn chưa có đuôi. Giờ nó làm ồn hơn bao giờ hết, mà chủ yếu là ban đêm. Tôi đã dọn ra ở chỗ khác. Nhưng sáng sáng tôi sẽ sang ăn sáng, và xem nó có thêm răng không. Nếu nó có cả hàm răng, thì đã tới lúc nó phải đi, có đuôi hay không cũng vậy, vì gấu chẳng cần đuôi mới nguy hiểm.

Bốn tháng sau.

Tôi đi săn và câu cá một tháng, ở mãi tận cái vùng cô ấy gọi là Báp-phơ-lô, tức là Trâu Rừng. Tôi chẳng hiểu vì sao, trừ phi là vì ở đó chẳng có con trâu rừng nào. Trong lúc ấy, con gấu đã học được cách tự mình lũn chũn đi lại bằng hai chân sau, và nói “bố bố”, “mẹ mẹ”. Chắc chắn nó là một loài mới. Dĩ nhiên sự giống tiếng nói này có thể hoàn toàn ngẫu nhiên, chẳng có mục đích hay ý nghĩa gì. Nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, nó vẫn là điều phi thường, là điều không con gấu nào khác làm được. Việc bắt chước tiếng nói này, cộng với việc nói chung không có lông và hoàn toàn không có đuôi, đủ cho thấy đây là một loài gấu mới. Nghiên cứu thêm về nó sẽ cực kỳ thú vị. Trong lúc chờ đợi, tôi sẽ lên đường thám hiểm thật xa giữa những cánh rừng phương Bắc, tìm kiếm thật kỹ. Chắc chắn phải còn một con nữa ở đâu đó, và con này sẽ bớt nguy hiểm hơn khi có bạn cùng loài. Tôi sẽ đi ngay. Nhưng trước hết tôi sẽ đeo rọ mõm cho con này.

Ba tháng sau.

Một cuộc săn mệt mỏi, mệt mỏi quá, mà chẳng thành công gì. Trong lúc ấy, chẳng cần bước chân ra khỏi nhà, cô ấy đã bắt được thêm một con nữa! Tôi chưa từng thấy ai may như thế. Tôi có săn khắp những cánh rừng này cả trăm năm cũng chẳng bao giờ gặp được thứ ấy.

Hôm sau.

Tôi đã so sánh con mới với con cũ, và thấy rõ ràng chúng cùng một giống. Tôi định nhồi bông một con cho bộ sưu tập của mình, nhưng không hiểu vì lý do gì cô ấy có định kiến với việc ấy, thế nên tôi đã bỏ ý định, dù tôi nghĩ đó là một sai lầm. Nếu chúng chạy mất thì khoa học sẽ chịu một tổn thất không bù đắp nổi.

Con cũ giờ đã thuần hơn trước, biết cười và biết nói như con vẹt. Hẳn là nó học được từ việc ở cạnh con vẹt nhiều, lại có khả năng bắt chước phát triển cao. Nếu hoá ra nó là một loài vẹt mới thì tôi sẽ kinh ngạc lắm. Thế nhưng lẽ ra tôi không nên kinh ngạc, vì từ những ngày đầu khi nó còn là cá, nó đã là đủ mọi thứ khác nó nghĩ ra được rồi. Con mới thì giờ xấu xí y như con cũ hồi đầu, cũng nước da màu lưu huỳnh pha thịt sống, cũng cái đầu kỳ lạ không có lông. Cô ấy gọi nó là A-ben.

Mười năm sau.

Chúng là con trai. Chúng tôi đã biết từ lâu rồi. Chính vì chúng tới dưới cái hình dạng nhỏ bé, non nớt ấy nên chúng tôi mới bối rối. Chúng tôi chưa quen. Giờ có cả mấy đứa con gái nữa. A-ben là đứa ngoan, nhưng giá Ca-in cứ làm gấu thì có khi nó còn tốt hơn.

Sau ngần ấy năm, tôi thấy lúc đầu mình đã nhầm về Ê-va. Sống ngoài Khu Vườn với cô ấy còn hơn sống trong Khu Vườn mà không có cô ấy. Lúc đầu tôi nghĩ cô ấy nói nhiều quá. Nhưng giờ thì tôi sẽ buồn lắm nếu giọng nói ấy im bặt, rời khỏi cuộc đời tôi. Phúc thay cho hạt dẻ đã đưa chúng tôi lại gần nhau, đã dạy tôi biết được tấm lòng nhân hậu và tâm hồn dịu dàng của cô ấy!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Extracts from Adam's Diary, Mark Twain, 1904 (Project Gutenberg số 1892)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →