Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người hoạ sĩ vẽ được linh hồn

Những bức chân dung tiên tri · Chương 1/2 · của Nathaniel Hawthorne

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 13.024 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Nhưng người hoạ sĩ này! – Oan-tơ Lát-lâu hăng…
  2. 1:52Oan-tơ hạ giọng, không còn hăng hái như trước…
  3. 2:32Nhưng khi chàng trai đã đi rồi, không thể…
  4. 6:27Vì sắp cưới nhau, Oan-tơ Lát-lâu và Ê-li-nơ nóng…
  5. 8:46Phải, nhưng em thấy buồn lắm, – Ê-li-nơ nói.
  6. 10:00Oan-tơ Lát-lâu, vốn có quen sơ người hoạ sĩ,…
  7. 11:34Người hoạ sĩ chọn cách vẽ cả hai bức…

Chương 1: Người hoạ sĩ vẽ được linh hồn

– Nhưng người hoạ sĩ này! – Oan-tơ Lát-lâu hăng hái kêu lên. – Ông ấy không chỉ xuất sắc trong nghề riêng của mình, mà còn uyên bác vô cùng về mọi ngành học thuật và khoa học khác. Ông ấy nói tiếng Hê-brơ với tiến sĩ Mây-thơ, giảng giải phẫu học cho tiến sĩ Boi-xtơn. Tóm lại, người học rộng nhất trong chúng ta, ông ấy cũng đấu được ngay trên sân nhà của người ta. Hơn nữa, ông ấy là một quý ông lịch lãm, một công dân của thế giới, đúng thế, một người thật sự thuộc về muôn phương. Vì ông ấy nói chuyện như người bản xứ của mọi miền, mọi nước trên trái đất, trừ những cánh rừng của xứ ta, nơi ông ấy sắp tới. Mà tất cả những điều ấy chưa phải là điều anh khâm phục nhất ở ông ấy đâu.

– Thật ư! – Ê-li-nơ nói, nàng đã nghe tả về một người như thế với tất cả sự quan tâm của phụ nữ. – Nhưng như thế đã đủ đáng khâm phục lắm rồi.

– Chắc chắn là thế, – người yêu nàng đáp. – Nhưng còn kém xa cái tài bẩm sinh của ông ấy là biết hoà mình với mọi loại tính cách, đến nỗi mọi người đàn ông, và cả mọi người đàn bà nữa, Ê-li-nơ ạ, đều tìm thấy bóng mình trong người hoạ sĩ kỳ diệu ấy. Nhưng điều kỳ diệu nhất thì anh còn chưa kể.

– Thôi nào, nếu ông ấy còn có những phẩm chất kỳ diệu hơn thế nữa, – Ê-li-nơ cười nói, – thì Bô-xtơn là một nơi nguy hiểm cho quý ông tội nghiệp ấy. Anh đang kể với em về một hoạ sĩ hay một phù thuỷ đấy?

– Thật ra, – chàng đáp, – câu hỏi ấy có thể đặt ra nghiêm túc hơn em tưởng nhiều. Người ta bảo ông ấy không chỉ vẽ nét mặt một người, mà vẽ cả tâm hồn và trái tim người ấy. Ông ấy bắt được những tình cảm, những đam mê thầm kín, rồi phả chúng lên tấm vải vẽ như ánh nắng, hoặc có lẽ, với chân dung những kẻ có tâm hồn đen tối, như một tia lửa địa ngục. Đó là một tài năng đáng sợ.

Oan-tơ hạ giọng, không còn hăng hái như trước nữa.

– Anh gần như sợ phải ngồi cho ông ấy vẽ.

– Oan-tơ, anh nói thật đấy à? – Ê-li-nơ kêu lên.

– Lạy Trời, Ê-li-nơ yêu quý, đừng để ông ấy vẽ cái vẻ mặt em đang có bây giờ, – người yêu nàng nói, mỉm cười, nhưng có phần bối rối. – Đấy! Giờ nó đang tan đi. Nhưng lúc em nói, trông em như sợ chết khiếp, lại còn rất buồn nữa. Em đang nghĩ gì thế?

– Chẳng có gì, chẳng có gì cả! – Ê-li-nơ vội đáp. – Anh tô vẽ mặt em bằng những tưởng tượng của chính anh đấy. Thôi, mai anh tới đón em, rồi mình đi thăm người hoạ sĩ kỳ diệu ấy.

Nhưng khi chàng trai đã đi rồi, không thể chối rằng một vẻ mặt đáng chú ý lại hiện ra trên gương mặt trẻ trung xinh đẹp của người yêu chàng. Đó là một vẻ buồn bã, lo âu, chẳng hợp chút nào với những gì lẽ ra một thiếu nữ sắp về nhà chồng phải cảm thấy. Thế mà Oan-tơ Lát-lâu chính là người nàng đã chọn bằng cả trái tim.

"Một vẻ mặt!" Ê-li-nơ tự nhủ. "Chẳng trách nó làm anh ấy giật mình, nếu nó lộ ra điều mà đôi khi mình cảm thấy. Mình biết qua chính trải nghiệm của mình một vẻ mặt có thể đáng sợ đến thế nào. Nhưng đó chỉ là tưởng tượng thôi. Lúc ấy mình chẳng nghĩ gì về nó. Từ đó tới giờ mình cũng chẳng thấy nó nữa. Mình chỉ mơ thấy nó thôi."

Rồi nàng bận rộn thêu chiếc cổ áo xếp nếp mà nàng định mặc khi ngồi cho người ta vẽ chân dung.

Người hoạ sĩ mà họ vừa nhắc tới không phải là một trong những hoạ sĩ bản xứ mà về sau người ta thấy họ mượn màu của người da đỏ và làm bút vẽ bằng lông thú hoang. Có lẽ, nếu có thể làm lại cuộc đời và sắp đặt trước số phận, ông đã chọn thuộc về cái trường phái không thầy ấy, với hy vọng ít ra cũng được độc đáo, vì không có tác phẩm nghệ thuật nào để bắt chước, cũng không có quy tắc nào để theo. Nhưng ông đã sinh ra và học hành ở châu Âu. Người ta bảo ông đã nghiên cứu sự hùng vĩ hay vẻ đẹp trong ý tưởng và từng nét bút của bậc thầy trong mọi bức tranh nổi tiếng nhất ở các phòng sưu tập, các bảo tàng và trên tường các nhà thờ, cho tới khi chẳng còn gì để trí óc mạnh mẽ của ông học thêm. Nghệ thuật không còn thêm được gì vào những bài học của nó, nhưng Thiên Nhiên thì có thể. Vì thế ông đã tới một thế giới mà chưa đồng nghiệp nào của ông từng tới trước, để thoả mắt với những hình ảnh cao quý và đẹp như tranh, nhưng chưa từng được đưa lên vải vẽ. Châu Mỹ quá nghèo để có những cám dỗ khác cho một hoạ sĩ lỗi lạc, dù khi ông mới tới, nhiều người trong giới quý tộc thuộc địa đã bày tỏ mong muốn nhờ tài nghệ của ông lưu lại dung nhan mình cho hậu thế. Mỗi khi có những lời đề nghị như thế, ông đăm đăm nhìn người đề nghị bằng đôi mắt sắc lẻm, như nhìn xuyên thấu người ấy. Nếu ông chỉ thấy một khuôn mặt bóng bẩy, phè phỡn, thì dù có áo viền kim tuyến để tô điểm cho bức tranh và những đồng vàng để trả công, ông cũng lịch sự từ chối cả việc lẫn tiền thưởng. Nhưng nếu khuôn mặt ấy cho thấy điều gì khác thường trong suy nghĩ, tình cảm hay trải nghiệm, hoặc nếu ông gặp ngoài phố một người ăn mày râu bạc, trán nhăn, hoặc nếu đôi khi tình cờ một đứa trẻ ngước lên mỉm cười, ông sẽ dốc cho họ tất cả tài nghệ mà ông từ chối dành cho sự giàu sang.

Vì tài hội hoạ ở các thuộc địa rất hiếm, người hoạ sĩ trở thành đối tượng tò mò của mọi người. Nếu ít người hoặc chẳng ai đánh giá được giá trị kỹ thuật trong tác phẩm của ông, thì vẫn có những điểm mà ý kiến của đám đông cũng có giá trị như sự thẩm định tinh tế của người sành. Ông quan sát tác động của mỗi bức tranh lên những người xem không được học hành ấy, và học được điều bổ ích từ những lời nhận xét của họ, trong khi họ thì nghĩ tới chuyện dạy dỗ chính Thiên Nhiên còn dễ hơn dạy người có vẻ như đang sánh ngang với Thiên Nhiên. Phải thừa nhận rằng sự ngưỡng mộ của họ nhuốm những định kiến của thời ấy và xứ ấy. Có người cho rằng việc tạo ra những hình ảnh sống động như thế của các tạo vật của Chúa là một sự xúc phạm luật Môi-se, thậm chí là sự nhạo báng ngạo mạn Đấng Sáng Tạo. Những người khác, sợ cái thứ nghệ thuật có thể gọi bóng ma hiện ra tuỳ ý, và giữ hình hài người chết lại giữa người sống, có ý cho rằng người hoạ sĩ là một phù thuỷ, hoặc có lẽ chính là Ác Quỷ nổi tiếng thời săn phù thuỷ ngày xưa, đang mưu tính điều ác dưới một lốt mới. Đám đông tin những ý nghĩ ngớ ngẩn ấy hơn một nửa. Ngay cả trong giới thượng lưu, con người ông cũng phủ một vẻ kính sợ mơ hồ, một phần bốc lên như những làn khói từ những điều mê tín của dân chúng, nhưng chủ yếu là vì kiến thức và tài năng đa dạng mà ông đem phục vụ cho nghề của mình.

Vì sắp cưới nhau, Oan-tơ Lát-lâu và Ê-li-nơ nóng lòng muốn có chân dung của mình, như bức đầu tiên trong cái mà hẳn họ mong sẽ là một chuỗi dài những bức tranh gia đình. Hôm sau cuộc trò chuyện vừa kể, họ tới xưởng vẽ của người hoạ sĩ. Một người hầu đưa họ vào một căn phòng, nơi dù không thấy hoạ sĩ đâu, lại có những nhân vật mà họ gần như không thể không cung kính chào hỏi. Thật ra họ biết cả đám ấy chỉ là tranh vẽ, nhưng cảm thấy không thể tách ý niệm về sự sống và trí tuệ khỏi những bản sao ấn tượng đến thế. Họ nhận ra vài bức chân dung, hoặc là những nhân vật nổi tiếng đương thời, hoặc là những người quen riêng của họ. Kia là thống đốc Bơ-nét, trông như vừa nhận được một thông điệp hỗn xược từ Hạ viện và đang thảo một lời đáp hết sức gay gắt. Ông Cúc treo cạnh vị quan cai trị mà ông chống đối, cứng cỏi và có phần khắc khổ, đúng như một thủ lĩnh của dân chúng. Bà phu nhân già của ngài Uy-li-am Phíp nhìn họ từ trên tường, mặc cổ áo xếp nếp và váy phồng, một bà già hách dịch từng bị nghi là phù thuỷ. Giôn Uyn-xlâu, khi ấy còn rất trẻ, mang vẻ mặt mạo hiểm thiện chiến mà rất lâu về sau đã làm ông thành một vị tướng lừng danh. Bạn bè riêng của họ thì liếc qua là nhận ra ngay. Trong hầu hết các bức tranh, toàn bộ tâm hồn và tính cách được làm nổi lên trên nét mặt, dồn lại trong một ánh nhìn duy nhất, đến nỗi, nói một cách nghịch lý, chính người thật còn không giống họ một cách nổi bật bằng những bức chân dung.

Giữa những nhân vật đương thời ấy có hai vị thánh già râu rậm đã gần như chìm hẳn vào nền tranh sẫm màu. Lại có một bức Đức Mẹ nhợt nhạt mà chưa phai, có lẽ từng được thờ phụng ở La Mã, giờ nhìn đôi tình nhân với một vẻ hiền hoà, thánh thiện đến nỗi họ cũng muốn quỳ xuống thờ phụng.

– Thật là một ý nghĩ lạ lùng, – Oan-tơ Lát-lâu nhận xét, – rằng gương mặt xinh đẹp này đã đẹp như thế suốt hơn hai trăm năm! Ôi, giá mà mọi vẻ đẹp đều bền lâu như thế! Em không ghen với bà ấy à, Ê-li-nơ?

– Nếu trần gian là thiên đường thì có lẽ em sẽ ghen, – nàng đáp. – Nhưng ở nơi mọi thứ đều phai tàn, làm kẻ duy nhất không phai tàn thì khổ biết bao!

– Ông thánh Phê-rô già sẫm màu này cau mày dữ tợn và xấu xí quá, dù là thánh, – Oan-tơ nói tiếp. – Ông ấy làm anh khó chịu. Nhưng Đức Mẹ nhìn chúng mình hiền hậu.

– Phải, nhưng em thấy buồn lắm, – Ê-li-nơ nói.

Dưới ba bức tranh cổ ấy là giá vẽ, đang đỡ một bức mới bắt đầu. Xem xét một lúc, họ bắt đầu nhận ra những nét mặt của chính vị mục sư của họ, mục sư Côn-man, đang thành hình và có sức sống, như hiện ra từ một đám mây.

– Ông cụ hiền quá! – Ê-li-nơ kêu lên. – Cụ nhìn em như sắp nói một lời khuyên của người cha.

– Còn nhìn anh, – Oan-tơ nói, – như sắp lắc đầu quở trách anh vì một tội lỗi bị nghi ngờ nào đó. Mà người thật cũng nhìn anh thế đấy. Anh sẽ chẳng bao giờ thấy thoải mái dưới con mắt cụ cho tới khi chúng mình đứng trước mặt cụ làm lễ cưới.

Lúc ấy họ nghe tiếng chân trên sàn, và quay lại thì thấy người hoạ sĩ, ông đã vào phòng được một lúc và nghe được vài lời nhận xét của họ. Đó là một người đàn ông trung niên, có một gương mặt rất xứng đáng với chính ngọn bút của ông. Thật ra, nhờ cách ăn mặc sang trọng mà phóng túng, đẹp như tranh, và có lẽ vì tâm hồn ông luôn sống giữa những hình hài được vẽ, trông ông cũng có phần giống một bức chân dung. Hai vị khách cảm thấy có một mối thân thuộc giữa người hoạ sĩ và tác phẩm của ông, như thể một trong những bức tranh vừa bước ra khỏi khung để chào họ.

Oan-tơ Lát-lâu, vốn có quen sơ người hoạ sĩ, giải thích mục đích chuyến thăm. Trong khi chàng nói, một tia nắng rọi xiên qua người chàng và Ê-li-nơ, tạo ra một hiệu quả đẹp đến nỗi chính họ cũng như những bức tranh sống về tuổi trẻ và sắc đẹp được vận may tươi sáng làm cho rạng rỡ. Người hoạ sĩ rõ ràng bị ấn tượng.

– Giá vẽ của tôi đã kín việc trong mấy ngày tới, mà tôi chỉ ở Bô-xtơn được ít lâu, – ông trầm ngâm nói. Rồi sau một cái liếc nhìn quan sát, ông nói thêm: – Nhưng ý muốn của hai người sẽ được thoả mãn, dù tôi phải làm ông chánh án và bà Ô-li-vơ thất vọng. Tôi không được bỏ lỡ dịp này chỉ để vẽ vài thước dạ và gấm.

Người hoạ sĩ bày tỏ mong muốn vẽ cả hai người trong cùng một bức tranh, thể hiện họ đang làm một việc gì đó thích hợp. Kế hoạch ấy hẳn đã làm đôi tình nhân thích thú, nhưng đành phải gác lại, vì một tấm vải vẽ lớn như thế không hợp với căn phòng mà nó định trang trí. Vì vậy người ta quyết định vẽ hai bức chân dung nửa người. Sau khi chào ra về, Oan-tơ Lát-lâu mỉm cười hỏi Ê-li-nơ có biết người hoạ sĩ sắp có ảnh hưởng gì đối với số phận của họ không.

– Các bà già ở Bô-xtơn quả quyết, – chàng nói tiếp, – rằng một khi ông ấy đã nắm được gương mặt và hình dáng của một người, ông ấy có thể vẽ người ấy đang làm bất cứ việc gì, ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, và bức tranh sẽ là lời tiên tri. Em có tin không?

– Không hẳn, – Ê-li-nơ mỉm cười nói. – Nhưng nếu ông ấy có phép thuật ấy, thì phong thái ông ấy hiền hoà đến thế, em chắc ông ấy sẽ dùng nó vào việc tốt.

Người hoạ sĩ chọn cách vẽ cả hai bức chân dung cùng lúc, lấy lý do, bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà đôi khi ông vẫn dùng, rằng hai gương mặt soi sáng cho nhau. Thế là ông lúc thì đưa một nét cho Oan-tơ, lúc thì cho Ê-li-nơ, và nét mặt người này người kia bắt đầu hiện lên sống động đến nỗi tưởng như nghệ thuật đắc thắng của ông sẽ thật sự tách họ ra khỏi tấm vải. Giữa ánh sáng rực rỡ và bóng tối sâu thẳm, họ thấy những bóng hình ma của chính mình. Nhưng dù vẻ giống nhau hứa hẹn sẽ hoàn hảo, họ không hoàn toàn hài lòng với vẻ mặt trong tranh, nó có vẻ mơ hồ hơn so với hầu hết tác phẩm khác của người hoạ sĩ. Nhưng ông thì hài lòng với triển vọng thành công. Và vì rất quan tâm tới đôi tình nhân, ông dành những lúc rảnh rỗi, không cho họ biết, để vẽ một bức phác thảo bằng phấn màu hai người. Trong những buổi họ ngồi cho ông vẽ, ông lôi cuốn họ vào chuyện trò, làm bừng lên trên gương mặt họ những nét đặc trưng, những nét luôn thay đổi mà ông có ý định kết hợp lại và giữ cho cố định. Cuối cùng ông báo rằng lần tới họ tới, cả hai bức chân dung sẽ sẵn sàng để giao.

– Nếu ngọn bút của tôi chịu trung thành với ý tưởng của tôi trong mấy nét cuối cùng mà tôi đang dự tính, – ông nhận xét, – thì hai bức tranh này sẽ là những tác phẩm hay nhất của tôi. Thật hiếm khi một hoạ sĩ có được những người mẫu như thế.

Trong khi nói, ông vẫn hướng con mắt sắc lẻm vào họ, và không rời đi cho tới khi họ đã xuống tới chân cầu thang.

Trong mọi thói phù hoa của con người, không gì chiếm lấy trí tưởng tượng mạnh hơn chuyện được vẽ chân dung. Thế nhưng vì sao lại như vậy? Tấm gương soi, những quả cầu đánh bóng trên giá củi lò sưởi, mặt nước phẳng như gương, và mọi bề mặt phản chiếu khác, lúc nào cũng đưa ra trước mắt ta những bức chân dung, hay đúng hơn, những bóng ma của chính ta, mà ta liếc nhìn rồi quên ngay. Nhưng ta quên chúng chỉ vì chúng biến mất. Chính ý niệm về sự lâu bền, về sự bất tử trên trần thế, đã khiến chân dung của chính ta có một sức hấp dẫn bí ẩn đến thế.

— Hết chương 1 —

Mục lục Những bức chân dung tiên tri

  1. 1Người hoạ sĩ vẽ được linh hồn13 phút
  2. 2Bức phác thảo trên bànĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNathaniel Hawthorne (1804 – 1864)
Năm mất1864
Xuất bản lần đầu1837
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Prophetic Pictures, Nathaniel Hawthorne, 1837; bản in trong tập Twice-Told Tales (Project Gutenberg số 13707)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →