Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Chương 3 (phần 4)

Những đồng tiền siết máu · Chương 6/9 · của Lê Văn Trương

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 16.151 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Tôi biết ý Lý-Chí-Seng tiên sinh không thích cho…
  2. 1:39Lý tiên sinh đang nằm ngồi nhổm dậy:
  3. 3:50Thì hẳn là họ phải trút trên lưng con…
  4. 6:38Lúc Lý tiên sinh muốn kể câu chuyện cho…
  5. 8:01Thật đấy, tiên sinh ạ! Những người bị chết…
  6. 8:58Thì tiếng ấy tôi thua thật. Lý tiên sinh…
  7. 11:23Chạm đến nỗi thương tâm, bà Thập Hữu lại…
  8. 14:24Tất cả thảm họa xảy ra chỉ vì lỡ…

Chương 6: Chương 3 (phần 4)

Tôi biết ý Lý-Chí-Seng tiên sinh không thích cho tôi đánh bạc, nhưng đến kinh đô cờ bạc mà không đánh bạc thì còn có nghĩa gì. Bỏ lỡ cái cơ hội ấy, chắc là rồi đây, tôi phải hối tiếc mãi. Với lại, tôi cũng muốn thử thách với thần may rủi trong lúc tôi tin rằng cái vận tấy đã đến. Phải rồi, biết bao nhiêu là người thất cơ lỡ vận chỉ vì tin như thế. Nhưng mặc, bao nhiêu là điềm lành đã báo hiệu, tôi cứ chắc rằng lần này thế nào tôi chủ có được.

Tuy thế, tôi vẫn cứ thấy nể Lý tiên sinh là người, chẳng những quý tôi mà lại còn khuyên tôi những điều rất phải nữa, tôi vùng vằng mãi. Lý tiên sinh hiểu ý:

- Ông đánh chơi đi một tiếng.

Sự hiểu ý ấy khiến tôi lại càng nể:

- Thôi, ta đánh vài tiếng chơi cho biết. Nếu may thì gọi là gỡ tiền sở phí. Tiên sinh tính xem chúng mình ở chơi một tuần thì xài phỏng độ bao nhiêu?

- Ít thì cũng phải tiền vạn.

- Thì ta đánh hẳn một tiếng một vạn. Nếu được thì thôi.

Lý tiên sinh cười một cái cười héo quá:

- Lỡ thua thì sao? Thôi, tiên sinh hãy đánh một tiếng năm nghìn chứ.

Tôi đánh năm nghìn. Một cô em gọi dây nói xuống sòng và biên tiếng bạc tôi đánh vào một cuốn sổ, biên cả giờ phút và đưa tôi ký. Cô không hỏi tôi tiền cọc, mà lúc ấy, vì say rượu quá, tôi cũng không nghĩ tới.

TIếng ấy tôi được. Năm phút sau thì có người đem số tiền được lên cho tôi. Cô em ký nhận và giao số tiền đó cho tôi. Lúc ấy tôi mới nghĩ ra:

- Chắc có mặt Lý tiên sinh ở đây là… một đảm bảo chắc chắn, cho nên cô này mới không buộc tôi phải đặt cọc tiền trước.

Quay sang cô em:

- Thế cô không bắt tôi đặt tiền cọc, nếu thua tôi không có tiền trả thì sao?

Cô em cười tủm tỉm:

- Chúng em đâu dám vô lễ như thế.

Lý tiên sinh đang nằm ngồi nhổm dậy:

- Có phải vì tôi đâu. Cờ bạc sát xương, có tình nghĩa và thể diện gì. Nếu người ta xét thấy tôi không có tiền thì dù tôi đánh một đồng, họ cũng cứ bắt tôi đặt tiền cọc như thường.

- Thế tại làm sao cô ấy không bắt tôi đặt tiền cọc? Hay cô ấy quên.

Lý tiên sinh lắc đầu:

- Các cô em đây đều đã được huấn luyện chu đáo để tiếp khách đánh bạc, thì quên thế nào được. Lỡ quên một cái thì chính họ phải đền. Mà nếu có quên, thì người hồ lỳ ngồi ở dây nói cũng đã nhắc. Cô ấy không bắt tiên sinh đặt tiền cọc, bởi cô ấy biết tiên sinh có tiền.

- Sao cô ấy biết tôi có tiền? Năm nghìn không phải nhỏ.

- Sòng bạc ở đây vốn to lắm, không biết triệu nào mà kể. Sự tổ chức của họ có lẽ chi phối khắp cả Viễn Đông. Nói tỉ mỉ thì không biết thế nào cho cùng. Lúc nãy, lúc chúng ta ở trên tàu xuống, nhân viên Thương Chánh họ khám kỹ chúng ta như thế, chúng ta có bao nhiêu tiền trong người mà họ không biết.

- À, thế ra y đã báo cho sòng biết số tềin ở trong túi chúng ta.

- Đúng thế. Bao nhiêu người lên bến để đánh bạc, ai có bao nhiêu tiền, sòng đã biết gần hết.

- Thế ngộ như tôi mua ngân phiếu…

- Thì đã có nhà băng bảo. Vì họ biết như thế, cho nên họ mới lịch sự không hỏi tiền cọc trong những tiếng bạc nhỏ mà họ chắc rằng người ta có thể trả.

- Thế thì khiếp thật.

- Thế đã thấm vào đâu. Tôi có thể nói một người từ Thượng Hải, Hán Khẩu, Hồng Kông hay ở Bắc Kinh vừa định lên đây đánh bạc, sòng bạc đã biết trước rồi. Họ có nhân viên ở khắp các kinh đô, và các thị thành lớn, và thường là có cổ phẩn trong tất cả các khách sạn to. Ở mọi nơi, bằng đủ mọi cách, họ dụ những tay giàu có về đây đánh bạc. Và ta còn có thể nói, nhiều gia đình giàu sang ở cái đất này sống về sự làm mồi cho cờ bạc.

Nhưng làm mồi… một cách rất thượng lưu. Người bị mồi chô có khi hết nghiệp rồi mà không biết.

- Thế thì nguy hiểm quá.

- Thì hẳn là nguy hiểm. Đấy, năm nào có một tay tôi chủ ở Phúc Kiến đến đây. Ông ta không thích đánh bạc. Ông ta có quen một người bạn có mấy cô con gái. Chính mấy cô con gái ấy tìm cách rủ được ông ta đến đây. Trước còn bé, sau to, sau vị tài chủ kia thua hàng trăm vạn. Mà cũng không biết. Những tổ chức như thế, hẳn là phải tốn tiền, mà số tiền ấy hẳn là chủ sòng không bỏ ra ở túi để vất không đi như thế cho vui lòng người.

- Thì hẳn là họ phải trút trên lưng con bạc. Nhưng cũng là tại chúng ta máu mê.

- Nhưng nếu không có sòng bạc. Những người họ dĩ nghệ cờ bạc thì tôi không nói. Nhưng có lắm người lương thiện xưa nay không hiểu cờ bạc là gì, mà đến đây chơi, rồi thì bị chết nhục nhã ở đây. Như cái gia đình đến ở gian phòng số 13 bên kia.

Nói đến đây, cơ hồ như những kỷ niệm cũ lại làm cho Lý tiên sinh xúc động.

- Ồ, giá hồi ấy, ông ta có một người bạn đã hiểu biết mà ngăn ông ta thì có phải bao nhiêu sầu thảm đã tránh được. Mà bốn người không ib5 chết một cách oan uổng. Hồi ấy, dư luận đã một phen chấn động, sòng bạc đã vắng hẳn đi. Bây giờ cứ đi qua phòng số 13 là tôi sởn gai ốc. Tôi tưởng chừng như những con người xấu số ấy vừa mới chết hôm qua, hôm kia thôi.

Rồi quay sang hỏi một cô lúc ấy đang gọt lê:

- Hồi vị tài chủ Vạn Ký ở Hán Khẩu tự tử, cô em đã có ở đây chưa nhỉ?

Cô em đang gọt lê dừng tay:

- Có, nhưng tôi chưa được vào làm hẳn ở đây. Thỉnh thoảng tôi chỉ mới đến hát thôi. Tội nghiệp quá, lúc người con gái chết, thì chúng tôi cũng có đi đưa. Lúc ấy thì cô ta cũng là… chỗ chị em với chúng tôi rồi. Tôi chưa thấy cái thảm họa cờ bạc nào kinh khiếp đến thế.

- Thiếu gì. Nhưng ta không thấy rõ đấy thôi.

Rồi tiên sinh nhìn về phía tôi:

- Cho nên người ta không biết sợ. Tôi tưởng giá ai mà biết chuyện ấy thì không bao giờ dám đánh bạc nữa.

Thấy tôi vẫn lặng thinh, tiên sinh lại nói tiếp:

- Chính tôi thôi cái nghề hồ lỳ, cũng vì chuyện ấy. Cái nghề nó thất đức quá, cái nghề sống về xương máu con người ta. Một vị thiên kim tiểu thư đẹp như một bông hoa, chỉ vì người cha ngu dại, đâm đầu vào sòng bạc mà đến nỗi như thế thì ai mà không phải đứt ruột.

Tôi hiểu Lý tiên sinh muốn kể chuyện đó cho tôi nghe để răn tôi, nhưng tôi cho rằng số tôi đang trong lúc may thì khi nào tôi chịu nghe để thôi đánh bạc. Số tôi may, nhưng không may vì được mà may ở chỗ câu chuyện tôi không muốn biết mà cứ phải biết. Cái may đến với đời tôi không đi qua cửa thần đen đỏ mà nó hiện đến trong cái lốc hãi hùng của những đồng tiền siết máu chúng đang quay tít chung quanh bốn mạng con người. Những con người rất thương yêu nhau, vì thương yêu nhau mà không thể sống sau cái chết của nhau. Những con người lương thiện, giàu tình cảm, đáng được sống một cuộc đời yên vui mà phải chết một cách thảm thương ở đồng đất nước người, chỉ vì có một người đã không hiểu rằng: cờ bạc là một cạm bẫy, mà sòng bạc là một cái hang hùm nó không buông tha cho ai bao giờ, nếu mình đã yếu đuối để cho sa vào đó.

Câu chuyện xảy ra hãi hùng quá, đột ngột quá, thảm khốc quá khiến cho lòng tôi phải lạnh đi không còn dám nghĩ đến sự làm giàu bằng cờ bạc, không còn dám tin rằng có một vận đỏ dành cho người đánh bạc.

Bây giờ thì tôi hiểu cờ bạc chỉ dành cho ta những tan nát về tâm hồn cũng như về vật chất, mà những người đánh bạc trong lúc đỏ cũng như trong lúc đen đều là bất hạnh cả. Người được bạc hay người thua bạc cũng đều là những người vô phúc. Họ đều là những người bị thua, bị mất mát rất nhiều mà họ không biết. Hay chỉ đến khi nào đã thân tàn ma dại mới biết.

Lúc Lý tiên sinh muốn kể câu chuyện cho tôi nghe thì chỉ mới có ba người chết. Người thứ tư đến giữa lúc tôi đang muốn lao mình vào sòng bạc để bốc của trời. Đó là cái may nhất của đời tôi là ở chỗ đó. Sau nay suốt đời tôi không bao giờ đánh bạc nữa cũng vì thế.

Lúc ấy vào khoảng một giờ đêm, Lý tiên sinh biết rằng không thể can tôi được, nên để mặ cho tôi đánh. Tôi đã thua hơn hai vạn rồi.

- Thua sáu tiếng liền rồi, đen lắm, nghỉ một tí đã tiên sinh ạ.

Tôi đang cay, không nghe. Tiếng ấy tôi đánh một vạn rưỡi, tự nghĩ: “Mình được chọi dế những hơn năm vạn, có thua tiếng này thì cũng còn được gần hai vạn, cần cốc gì, giấy người, nứa người”. May quá tiếng ấy tôi được.

- A, nếu tôi nghe tiên sinh, có phải mất ăn không?

Lý tiên sinh không biết nói làm sao, chỉ chắc lưỡi:

- Cờ bạc!

Tôi lại đánh một tiếng nữa. Tôi lại được. Thế là chẳng những tôi đã gỡ hòa, tôi lại còn được gần một vạn.

- À, biết ngay là tôi không thể thua mà!

Tôi vừa muốn đánh một tiếng nữa thì thốt nhiên ở buồng số 13, một tràng khóc thảm thiết nổi lên.

Lý tiên sinh đang nằm, chồm ngay dậy, mặt tái mét. Mà những phì phà múi cũng sợ run lên. Chúng tôi cùng lắng tai. Thì không nghe thấy gì nữa.

Lý tiên sinh lấy tay vuốt mặt:

- Những oan hồn chắc đêm nay lại về. Ả-Pắn trông coi từng gác này thường nói với tôi cứ những đêm mưa gió thì lại nghe thấy tiếng khóc ở trong cái buồng ấy.

Tôi hoài nghi:

- Chết thì thôi…

Nhưng cô phì phà múi cùng đồng thanh:

- Thật đấy, tiên sinh ạ! Những người bị chết oan, chết uổng như thế linh thiêng lắm. Cô Wa-Phá lại trẻ, lại đẹp như tiên thì hẳn là phải thành tinh. Cậu Wu-Heng cũng trẻ nữa.

Tôi lắc đầu:

- Ô, nếu họ thành tinh thì họ đã báo oán giựt đổ tòa nhà “Tai-Seng” này rồi.

Tôi vừa toan đánh tiếng nữa thì tiếng khóc lại bật lên rất to. Hình như người ta đã cố nén mà không nổi. Nhưng chỉ một tí lại im ngay.

Lúc ấy thì tôi đã hơi rợn:

- Quái, nghe như tiếng người thật.

Lý tiên sinh mặt rầu rầu:

- Chả người thật thì người giả à.

- Hay có ai đến thuê ở đấy?

Một cô phì phà múi nói ngay:

- Không, lúc tối em đi qua, cửa vẫn đóng, đã có ai thuê đâu.

Lần này tôi toan đánh thì Lý tiên sinh cương quyết can:

- Như thế là cái điềm nó bảo nên thôi. Thôi tiên sinh đừng đánh nữa. Đánh nữa thì thua cho mà xem.

Tôi nể Lý tiên sinh, nhưng tôi cũng vẫn còn mê bạc:

- Ta thử xem có đúng không nhé. Tôi đánh bé xem sao? Tiếng này ba nghìn thôi.

- Một nghìn chứ! Lâm tiên sinh ạ.

Thì tiếng ấy tôi thua thật. Lý tiên sinh mừng quá:

- Đấy, tôi đã bảo mà. Đúng là họ Vũ linh thiêng báo hiệu cho chúng ta biết là nên thôi đi mà. Thôi được như thế là may rồi, ta hãy nghỉ.

Tôi nghe. Và đêm ấy tôi thôi không đánh nữa.

Sáng hôm sau, lúc chúng tôi đang điểm tâm thì Ả-Phắn vào báo cho chúng tôi có bà Thập Hữu ở buồng số 13 muốn hỏi Lý tiên sinh có việc cần.

À thì ra hôm qua lúc đêm khuya, có người đến thuê buồng số 13. Mà tiếng khóc đêm hôm qua là tiếng người, chứ không phải là tiếng ma. Nhưng tại làm sao bà Thập Hữu khóc? Thì năm phút sau, chúng tôi biết duyên cớ.

Bà Thập Hữu năm ấy chừng gần 60. Cái phong thái của bà làm cho chúng tôi kính nể ngay. Càng kính nể khi chúng tôi biết mối đau to lớn của bà.

- À, thế ra bà là mẹ cậu Wu-Heng, cô ruột cô Wa-Phá, và là chị vợ ông Vạn Ký.

Bà Thập Hữu nấc lên khóc:

- Vâng chúng tôi cả gia đình bị thổ phỉ giết hại, chỉ còn có hai chị em, vì hôm ấy, sang ăn cưới người chị họ ở Hán Khẩu mà thoát chết.

Em gái tôi thì về làm dâu họ Vũ, lấy ông Vạn Ký chỉ có một cháu gái. Tôi lấy chồng, rồi sang Mỹ, chồng tôi cũng đã mất, chỉ sinh được một cháu trai. Nay tất cả đều chết hết ở đây rồi, tôi chỉ còn trơ trọi có một mình thôi.

Bà nói xong, khóc ngất đi. Tôi chưa rõ đầu đuôi câu chuyện ra sao, nhưng cứ nhìn và nghe bà Thập Hữu, tôi cũng cảm thấy rằng trong cảnh ấy, không còn gì làm vợi lòng cho con người ta bằng nước mắt. Có lẽ Lý tiên sinh cũng cảm nghĩ như tôi, nên tiên sinh cũng không tìm lời an ủi người xấu số.

Chờ khi tiếng khóc đã hơi dịu, Lý tiên sinh mới ôn tồn:

- Những việc đau xót xảy ra cho gia đình bà, tôi có biết rõ. Chính vì việc ấy làm cho tôi xao xuyến, mà tôi thôi không làm nghề hồ lỳ ở sòng bạc này nữa. Tôi về quê tôi làm ăn. Nay tôi lên đây là đưa người bạn đi chơi thôi. Nếu có việc gì bà cần đến tôi, tôi xin hết sức giúp, không từ nan một điều gì. Nhưng tại làm sao bà lại thuê gian phòng số 13 ấy? Tất cả những người thân của bà đều chết ở gian buồng ấy đấy.

- Thảo nào, đêm qua, tôi cứ như người… thế nào ấy. Nào tôi có biết gì. Tàu cập bến thì đã khuya lắm. Tôi đến đây thuê buồng thì người ta đưa tôi lên đây.

- Thế ra tiếng khóc đêm qua tôi nghe là tiếng bà…

- Vâng, tôi không muốn khóc mà cứ phải khóc. Lòng tôi khổ quá, không tài nào mà nén được. Tôi hỏi người bồi buồng thì y nói cho tôi biết ông là người tốt và hồi đó, ông ở đây, ông cũng có trông nom hộ. Tôi muốn ông chỉ cho tôi biết mồ mả của người nhà chúng tôi để chúng tôi cải táng và xây đắp chế tử tế, chứ từ nay đất khách quê người…

Chạm đến nỗi thương tâm, bà Thập Hữu lại khóc.

- Điều ấy, tôi có thể giúp bà. Chính tôi đã quyên tiền anh em để chôn cất tất cả tử tế. Lúc cậu Wu-Heng sang đến đây, cậu cũng có nhờ tôi giúp. Tôi cũng đã chỉ đường vẽ lối cho cậu. Nhưng số tiền bán cho mụ dầu những hơn hai vạn, mà lúc ấy thì cậu không sẵn có.

- Cháu có viết thư về bảo tôi xoay, nhưng tôi chưa chạy đủ để gửi sang thì đã được tin chẳng lành rồi. Từ lúc bé, chị em tôi nghĩ họ hàng chả còn ai, đã định cho chúng nó lấy nhau, ông Vạn Ký cũng bằng lòng. Tôi đã cho cháu sang ở với chú cháu bốn năm năm. Khi cha nó ốm ở Mỹ, tôi mới viết thư cho nó về. Tôi chỉ băn khoăn không hiểu tại sao chúng nó lại tự tử mà không chờ tôi gửi tiền sang để chuộc em nó ra.

Lý tiên sinh ngập ngừng một giây để lựa lời:

- Cái cảnh nó éo le quá. Có lẽ cô Wa-Phá nghĩ cực thân và xấu hổ mà không muốn sống nữa. Còn cậu Wu-Heng sau khi thấy cô chết thì cũng thất vọng vì thương cô bị chết oan.

Muốn hiểu rõ câu chuyện này và những chi tiết nó đã đưa đến tấn thảm kịch, chúng ta phải hiểu cái xã hội Trung Hoa hồi đó.

Hồi đó, cái nạn quân phiệt, nạn thổ phỉ cùng với nạn buôn người, nạn đói làm cho người dân Trung Hoa như sống trong chảo dầu sôi.

Họ hàng nhà bà Thập Hữu bị giết hết ở quê nhà bởi tay thổ phỉ. Hai chị em vì lên Hán Khẩu ăn cưới người chị họ mà được thoát. Bà Thập Hữu lấy chồng rồi theo chồng sang Mỹ làm ăn.

Người em thì lấy ông Vạn Ký. Bà Vạn Ký vừa đẹp, vừa nết na, nên được chồng thương yêu vô cùng. Hai vợ chồng hiếm hoi, chỉ sinh được một mụn con gái. Theo phong tục bên Trung Hoa, những người nhà giàu lấy năm, lấy bảy. Ấy thế mà ông Vạn Ký không có con trai, ông cũng không lấy vợ lẽ thì đủ hiểu ông thương yêu vợ con đến thế nào.

Năm con gái ông là cô Wa-Phá mười sáu thì bà Vạn Ký bị bệnh chết. Ông Vạn Ký thương xót tưởng chừng có thể chết theo được. Ông cũng không nghĩ đến sự tục huyền để mong có con trai nối dõi tông đường; bao nhiêu tình yêu vợ, ông trút cả vào tình thương con gái. Họ hàng đã không có ai ở Hán Khẩu, gia đình lại quạnh hiu chỉ có bố với con, ông bèn nghĩ đến sự đem con sang Mỹ để ở với bà Thập Hữu cho vui vẻ. Sở dĩ, ông nghĩ như thế, một là vì ở Hán Khẩu, sự sống không chắc chắn, không biết các ông tướng quân đánh nhau cướp tỉnh lúc nào, hai là ông đã hứa gả con gái ông cho cậu Wu-Heng là con trai bà Thập Hữu. Hai trẻ rất thương yêu nhau. Cậu Wu-Heng đã ở với ông trong bốn năm, mãi tới khi được tin ông Thập Hữu chết, mới trở về Mỹ. Bà Thập Hữu không giàu, nhưng đất nước Mỹ là nơi người ta có thể sống chắc chắn yên ổn, chứ không sợ bị bắt cóc hay bị những tai nạn bất ngờ gây ra bởi nạn quân phiệt như ở Hán Khẩu.

Khi ông Vạn Ký ngỏ cái ý ấy cho con gái thì cô Wa-Phá mừng rỡ:

- Á, thế là từ nay đã có già trông nom cho con, trông nom cho cả pá nữa.

Cô sung sướng nghĩ đến ý trung nhân, vui sướng nghĩ đến bà Thập Hữu, và cái đời sống tốt đẹp ở Mỹ mà cậu Wu-Heng thường tả cho cô nghe.

Ông Vạn Ký muốn cho con gái chóng thành gia thất, vì ông biết cậu Wu-Heng có thể đem hạnh phúc đến cho đời con gái ông, nên ông thực hành ngay cái ý định ấy.

Ông bán hết gia sản được hơn bốn trăm vạn, rồi hai cha con đem nhau đi.

Lỡ một chuyến tàu!

Tất cả thảm họa xảy ra chỉ vì lỡ một chuyến tàu.

Chuyến tàu từ Hán Khẩu đi Ma Cao, ra tới bể thù gặp bão, chậm mất một ngày.

Vì thế khi chiếc Nam Wa cập bến Ma Cao thì chiếc The California vừa nhổ neo đi sang Mỹ. Hai chiếc gặp nhau ở giữa bể rúc còi chào nhau.

Tiếng còi báo hiệu của số mệnh.

Ông Vạn Ký đã dự định rất kỹ càng trong cái chương trình xuất dương, nhưng ông không dự tính được đến trận bão ấy. Ông đã hỏi rõ các ngày giờ tàu chạy, ông định khi chiếc Nam-Wa cập bến là ông lên ngay tàu The California.

Ai ngờ! Chiếc The California đi rồi, mười bốn ngày nữa mới lại có chuyến tàu khác sang Mỹ.

Cái không may cho ông là ông lại vào trọ ở nhà “Tai-Seng”, một nơi vừa là khách sạn, vừa là sòng bạc.

Gọi là không may cho ông thôi, nhưng thật ra những cái không may như thế là một sự cố ý của sòng bạc.

Trừ những người đã nói rõ địa chỉ, còn thì bất cứ khách nào ở tàu xuống, cần phòng ngủ thì tất cả phu xe cũng đều kéo tới nhà Tai-Seng. Chúng nó được ăn tiền cơ mà. Ấy là chưa kể tới nhà Tai-Seng đã phát những tay rất thạo ra đón khách tại bến tàu.

— Hết chương 6 —

Mục lục Những đồng tiền siết máu

  1. 1Chương 19 phút
  2. 2Chương 28 phút
  3. 3Chương 3 (phần 1)16 phút
  4. 4Chương 3 (phần 2)15 phút
  5. 5Chương 3 (phần 3)16 phút
  6. 6Chương 3 (phần 4)15 phút
  7. 7Chương 4 (phần 1)19 phút
  8. 8Chương 4 (phần 2)19 phút
  9. 9Chương kết12 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLê Văn Trương (1906 – 1964)
Năm mất1964
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/2015
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →