Trong rừng không một tiếng động nào, ngoài tiếng xào xạc khe khẽ của tuyết rơi trên cây. Tuyết rơi từ trưa. Một thứ tuyết nhỏ, mịn, rắc lên cành cây một lớp bọt giá lạnh, phủ lên lá khô trong các bụi rậm một mái nhà bằng bạc mỏng, trải dọc các lối đi một tấm thảm mênh mông, êm và trắng, và làm dày thêm sự im lặng vô biên của biển cây ấy.
Trước cửa căn nhà gác rừng, một thiếu phụ để trần hai cánh tay đang bổ củi bằng rìu trên một hòn đá. Chị cao, mảnh dẻ mà khoẻ mạnh, một cô gái của rừng, con gái và vợ của những người gác rừng.
Một giọng nói từ trong nhà vọng ra:
"Tối nay chỉ có hai mẹ con mình thôi, Béc-tin ạ, vào nhà đi, trời tối rồi, có khi có bọn Phổ với lũ sói lảng vảng ngoài kia đấy."
Người đàn bà bổ củi đáp, tay vẫn bổ một gốc cây bằng những nhát rìu mạnh, mỗi lần giơ tay lên là ngực lại ưỡn ra:
"Con xong rồi, mẹ ạ. Con vào đây, con vào đây, chẳng có gì phải sợ, trời còn sáng mà."
Rồi chị mang bó củi và mấy khúc gỗ vào, xếp dọc lò sưởi, lại ra ngoài đóng những tấm cửa chớp, những tấm cửa chớp to tướng bằng lõi gỗ sồi, rồi cuối cùng vào nhà, cài những then cửa nặng trịch.
Bà mẹ đang ngồi kéo sợi bên bếp lửa, một bà cụ nhăn nheo mà tuổi tác đã làm cho nhút nhát:
"Mẹ chẳng thích lúc bố đi vắng," bà nói. "Hai người đàn bà thì yếu lắm."
Người con đáp:
"Ôi, con vẫn giết được một con sói hay một thằng Phổ đấy chứ."
Rồi chị đưa mắt chỉ khẩu súng lục to treo phía trên lò sưởi.
Chồng chị đã bị gọi nhập ngũ ngay từ khi quân Phổ tràn sang. Hai mẹ con ở lại với ông bố, ông già gác rừng Ni-cô-la Pi-sông, biệt danh là Cà Kheo, người nhất định không chịu rời nhà để vào thành phố.
Thành phố gần nhất là Rơ-ten, một pháo đài cổ trên một mỏm đá. Dân ở đó rất yêu nước. Các ông thị dân đã quyết định chống lại quân xâm lược, đóng cửa cố thủ trong nhà, và chịu vây hãm theo truyền thống của thành phố. Đã hai lần, dưới thời vua Hăng-ri Đệ Tứ và vua Lu-i Mười Bốn, dân Rơ-ten đã nổi danh vì những cuộc cố thủ anh hùng. Lần này họ cũng sẽ làm như thế, có trời chứng giám! Hoặc là người ta sẽ thiêu sống họ trong những bức tường thành của họ.
Thế là họ mua đại bác và súng trường, trang bị một đội dân quân, lập thành tiểu đoàn và đại đội, và suốt ngày tập luyện ở quảng trường duyệt binh. Tất cả, thợ làm bánh, chủ hiệu tạp hoá, hàng thịt, công chứng viên, luật sư, thợ mộc, chủ hiệu sách, ngay cả dược sĩ, đều thay phiên nhau tập luyện vào những giờ nhất định, dưới sự chỉ huy của ông La-vi-nhơ, nguyên hạ sĩ quan kỵ binh, nay là chủ hiệu kim chỉ, nhờ lấy con gái và thừa kế cửa hàng của ông Ra-vô-đăng cả.
Ông tự phong mình chức thiếu tá chỉ huy thành phố. Vì tất cả trai trẻ đã ra trận, ông biên chế hết những người còn lại vào đội ngũ, ngày ngày luyện tập để kháng chiến. Những người béo giờ chỉ đi ngoài phố bằng bước chạy thể dục cho tan mỡ và dài hơi, những người yếu thì mang vác đồ nặng cho rắn chắc bắp thịt.
Rồi người ta chờ quân Phổ. Nhưng quân Phổ chẳng thấy xuất hiện. Thế mà chúng cũng chẳng ở xa. Vì đã hai lần, toán trinh sát của chúng đi xuyên qua rừng tới tận căn nhà gác rừng của Ni-cô-la Pi-sông, biệt danh Cà Kheo.
Ông già gác rừng, chạy nhanh như cáo, đã vào thành báo tin. Người ta đã chĩa sẵn đại bác, nhưng kẻ thù chẳng hề ló mặt.
Nhà của ông Cà Kheo là một tiền đồn trong rừng A-vơ-lin. Mỗi tuần hai lần, ông vào thành mua đồ ăn và mang tin tức vùng quê tới cho các ông thị dân.
Hôm ấy ông đi để báo rằng một toán nhỏ bộ binh Đức đã dừng chân ở nhà ông từ hôm kia, vào khoảng hai giờ chiều, rồi lại đi gần như ngay sau đó. Viên hạ sĩ quan chỉ huy nói được tiếng Pháp.
Mỗi lần đi như thế, ông già dẫn theo hai con chó, hai con chó ngao mõm như mõm sư tử, vì sợ lũ sói bắt đầu trở nên hung dữ. Ông dặn hai mẹ con phải đóng chặt cửa nẻo ngay khi đêm xuống.
Người con chẳng sợ gì. Nhưng bà mẹ thì lúc nào cũng run sợ, cứ nhắc đi nhắc lại:
"Rồi sẽ có chuyện chẳng lành đâu, cái chuyện này, rồi con xem, sẽ có chuyện chẳng lành."
Tối hôm ấy, bà còn lo lắng hơn thường lệ:
"Con có biết mấy giờ bố về không?" Bà hỏi.
"Ôi, chắc chắn chưa tới mười một giờ đâu. Hễ ăn tối ở nhà ông thiếu tá là bố bao giờ cũng về muộn."
Chị đang treo nồi lên bếp để nấu xúp thì bỗng ngừng tay, lắng nghe một tiếng động mơ hồ vọng tới qua ống khói lò sưởi.
Chị thì thầm:
"Có người đi trong rừng, phải tới bảy tám người là ít."
Bà mẹ hoảng hốt dừng xa kéo sợi, lắp bắp:
"Ôi, lạy Chúa! Mà bố lại không có nhà!"
Bà chưa dứt lời thì những cú đập mạnh đã làm rung cả cánh cửa.
Thấy hai người đàn bà không đáp, một giọng nói to, rè rè trong cổ họng, kêu bằng thứ tiếng Pháp lơ lớ:
"Mở ra!"
Rồi im lặng một lúc, cái giọng ấy lại nói:
"Mở ra không thì tôi phá cửa!"
Lúc ấy Béc-tin nhét khẩu súng lục to trên lò sưởi vào túi váy, rồi áp tai vào cánh cửa, hỏi:
"Các người là ai?"
Giọng kia đáp:
"Tôi là toán lính hôm trước."
Người thiếu phụ hỏi tiếp:
"Các người muốn gì?"
"Tôi bị lạc từ sáng, trong rừng, với toán lính của tôi. Mở ra không thì tôi phá cửa."
Người đàn bà gác rừng không còn cách nào khác. Chị vội kéo cái then to, rồi kéo cánh cửa nặng ra, và thấy trong bóng tối nhờ nhờ của tuyết sáu người đàn ông, sáu người lính Phổ, chính là những kẻ đã tới hôm trước. Chị nói bằng giọng cương quyết:
"Giờ này các người tới đây làm gì?"
Viên hạ sĩ quan nhắc lại:
"Tôi bị lạc, lạc hẳn rồi, tôi nhận ra ngôi nhà. Tôi chưa ăn gì từ sáng, cả toán lính của tôi cũng thế."
Béc-tin nói:
"Có điều tối nay chỉ có tôi với mẹ tôi thôi."
Người lính, trông có vẻ là người tử tế, đáp:
"Không sao. Tôi sẽ không làm gì hại đâu, nhưng các bà phải cho chúng tôi ăn. Chúng tôi sắp ngã gục vì đói và mệt rồi."
Người đàn bà gác rừng lùi lại:
"Vào đi," chị nói.
Họ bước vào, người phủ đầy tuyết, trên mũ sắt là một lớp như kem đánh bông, trông như những chiếc bánh trứng đường. Ai nấy đều có vẻ rã rời, kiệt sức.
Người thiếu phụ chỉ những chiếc ghế dài bằng gỗ ở hai bên chiếc bàn lớn.
"Ngồi đi," chị nói, "tôi nấu xúp cho mà ăn. Trông các người mệt lử thật."
Rồi chị cài lại then cửa.
Chị đổ thêm nước vào nồi, lại cho thêm bơ và khoai tây, rồi lấy xuống một miếng thịt mỡ muối treo trong lò sưởi, cắt một nửa thả vào nồi nước dùng.
Sáu người đàn ông đưa mắt theo dõi từng cử động của chị, cơn đói thức dậy trong mắt họ. Họ đã đặt súng và mũ sắt vào một góc, và ngồi chờ, ngoan như những đứa trẻ trên ghế nhà trường.
Bà mẹ lại ngồi kéo sợi, chốc chốc lại liếc những cái nhìn hốt hoảng về phía đám lính xâm lược. Chẳng nghe thấy gì khác ngoài tiếng vo vo khe khẽ của xa kéo sợi, tiếng lửa tí tách và tiếng nước rì rầm đang nóng dần lên.
Nhưng bỗng một tiếng động lạ làm tất cả giật mình, một cái gì như tiếng thở khàn khàn phả vào dưới khe cửa, tiếng thở của thú vật, mạnh và khò khè.
Viên hạ sĩ quan Đức đã nhảy vọt về phía mấy khẩu súng. Người đàn bà gác rừng giơ tay ngăn lại, mỉm cười:
"Lũ sói đấy," chị nói. "Chúng cũng như các người thôi, lảng vảng và đói."
Người kia không tin, đòi xem. Cánh cửa vừa mở ra, anh ta đã thấy hai con vật lớn màu xám chạy biến đi bằng những bước nước kiệu nhanh và dài.
Anh ta quay về chỗ ngồi, lẩm bẩm:
"Tôi không thể ngờ."
Rồi anh ta chờ món ăn của mình chín.
Họ ăn ngấu nghiến, miệng toác tới tận mang tai để nuốt được nhiều hơn, mắt tròn xoe mở ra cùng lúc với hàm, cổ họng kêu ùng ục như nước chảy trong máng xối.
Hai mẹ con im lặng nhìn những bộ râu đỏ rậm rạp chuyển động thoăn thoắt. Những củ khoai tây như chìm nghỉm vào những đám lông lá đang động đậy ấy.
Nhưng vì họ khát, người đàn bà gác rừng xuống hầm lấy rượu táo cho họ. Chị ở dưới đó khá lâu. Đó là một căn hầm nhỏ có vòm cuốn, người ta bảo hồi Cách mạng từng được dùng làm nhà giam và chỗ ẩn náu. Muốn xuống phải đi qua một cái cầu thang xoắn hẹp, đóng bằng một tấm cửa sập ở cuối gian bếp.
Khi Béc-tin trở lên, chị cười, cười một mình, vẻ ranh mãnh. Rồi chị đưa cho bọn Đức bình rượu.
Sau đó chị cũng ăn tối, cùng với mẹ, ở đầu kia gian bếp.
Lính đã ăn xong, và cả sáu người ngủ gật quanh bàn. Thỉnh thoảng một cái trán gục xuống mặt bàn đánh cộp, rồi người lính giật mình tỉnh dậy, lại ngồi thẳng lên.
Béc-tin bảo viên hạ sĩ quan:
"Nằm trước bếp lửa mà ngủ, ở đấy đủ chỗ cho sáu người. Tôi với mẹ tôi lên buồng trên."
Rồi hai mẹ con lên gác. Người ta nghe họ khoá cửa, đi lại một lúc. Rồi họ không gây ra tiếng động nào nữa.
Bọn Phổ nằm dài trên nền gạch, chân hướng về bếp lửa, đầu gối lên áo choàng cuộn tròn. Chẳng mấy chốc cả sáu người đã ngáy, sáu giọng khác nhau, the thé hay ồ ồ, nhưng liên tục và kinh hồn.
Chắc chắn họ đã ngủ được một lúc lâu thì một phát súng vang lên, to đến nỗi tưởng như bắn ngay vào tường nhà. Đám lính bật dậy ngay. Nhưng lại thêm hai tiếng nổ nữa, rồi ba tiếng nữa.
Cửa trên gác bật mở, và người đàn bà gác rừng xuất hiện, chân trần, mặc áo lót, váy ngắn, tay cầm cây nến, vẻ hốt hoảng. Chị lắp bắp:
"Quân Pháp tới rồi, phải tới hai trăm người. Nếu họ thấy các người ở đây, họ sẽ đốt nhà mất. Xuống hầm nhanh lên, đừng gây tiếng động. Các người mà làm ồn là chúng ta chết hết."
Viên hạ sĩ quan hoảng hốt thì thào:
"Được, được. Xuống lối nào?"
Người thiếu phụ vội vàng nhấc tấm cửa sập vuông và hẹp lên. Sáu người đàn ông biến xuống theo cái cầu thang xoắn nhỏ, lần lượt chui xuống lòng đất từng người một, đi giật lùi, lấy chân dò từng bậc.
Nhưng khi cái chóp mũ sắt cuối cùng vừa khuất, Béc-tin sập tấm ván sồi nặng trịch xuống, dày như một bức tường, cứng như thép, gắn bằng bản lề và một cái khoá như khoá nhà ngục, vặn chìa hai vòng dài, rồi chị bật cười, một tiếng cười câm lặng và sung sướng, thèm được nhảy múa ngay trên đầu đám tù binh của mình.
Bọn họ chẳng gây ra tiếng động nào, bị nhốt trong đó như trong một cái hộp chắc chắn, một cái hộp bằng đá, chỉ có chút không khí lọt vào qua một cái lỗ thông hơi chắn song sắt.
Béc-tin lập tức nhóm lại bếp, đặt nồi lên, nấu thêm xúp, miệng lẩm bẩm:
"Đêm nay bố sẽ mệt đây."
Rồi chị ngồi xuống chờ. Chỉ có quả lắc vang vang của chiếc đồng hồ đưa đi đưa lại trong im lặng tiếng tích tắc đều đều.
Thỉnh thoảng người thiếu phụ lại liếc nhìn mặt đồng hồ, một cái nhìn sốt ruột như muốn nói:
"Sao mà chậm thế."
Nhưng chẳng bao lâu chị có cảm giác có tiếng thì thầm dưới chân mình. Những lời nói khe khẽ, lộn xộn vọng tới qua vòm xây của căn hầm. Bọn Phổ bắt đầu đoán ra mưu của chị. Rồi viên hạ sĩ quan leo lên cái cầu thang nhỏ, đấm thình thình vào tấm cửa sập. Anh ta lại gào lên:
"Mở ra!"
Chị đứng dậy, lại gần, rồi nhại giọng lơ lớ của anh ta:
"Các người muốn gì?"
"Mở ra!"
"Tôi không mở."
Người kia nổi giận.
"Mở ra không thì tôi phá cửa."
Chị phá lên cười:
"Phá đi, ông bạn, phá đi, ông bạn."
Thế là anh ta bắt đầu lấy báng súng nện vào tấm cửa sập bằng gỗ sồi đóng kín trên đầu. Nhưng nó có thể chịu được cả những cú nện của máy bắn đá.
Người đàn bà gác rừng nghe anh ta đi xuống. Rồi lần lượt từng người lính lên thử sức, xem xét cái khoá. Nhưng hẳn thấy những cố gắng ấy vô ích, họ lại xuống hết dưới hầm, và lại bàn bạc với nhau.
Người thiếu phụ lắng nghe họ, rồi ra mở cửa ngoài, căng tai nghe ngóng trong đêm.
Một tiếng chó sủa xa xa vọng tới. Chị huýt sáo như một người đi săn, và gần như ngay lập tức, hai con chó to lớn hiện ra trong bóng tối, nhảy chồm lên mừng rỡ quanh chị. Chị túm cổ chúng giữ lại, không cho chạy. Rồi chị gọi hết sức mình:
"Ơ bố ơi!"
Một giọng đáp, còn rất xa:
"Ơ Béc-tin ơi!"
Chị chờ vài giây, rồi lại gọi:
"Ơ bố ơi!"
Giọng kia, gần hơn, đáp lại:
"Ơ Béc-tin ơi!"
Người đàn bà gác rừng gọi tiếp:
"Đừng đi qua trước cái lỗ thông hơi. Có bọn Phổ dưới hầm."
Bỗng dáng người cao lớn của ông hiện ra phía bên trái, đứng lại giữa hai thân cây. Ông lo lắng hỏi:
"Bọn Phổ dưới hầm à. Chúng nó làm gì ở đấy?"
Người thiếu phụ cười:
"Bọn hôm qua ấy mà. Chúng nó lạc trong rừng, con nhốt chúng vào hầm cho mát."
Rồi chị kể lại câu chuyện, chị đã doạ chúng bằng mấy phát súng lục như thế nào, rồi nhốt chúng vào hầm ra sao.
Ông già, lúc nào cũng nghiêm trang, hỏi:
"Thế bây giờ con muốn bố làm gì với chúng nó?"
Chị đáp:
"Bố đi gọi ông La-vi-nhơ với quân của ông ấy tới. Ông ấy sẽ bắt chúng làm tù binh. Ông ấy sẽ vui lắm đấy."
Và ông Pi-sông mỉm cười:
"Đúng là ông ấy sẽ vui lắm."
Cô con gái nói tiếp:
"Có xúp cho bố đấy, bố ăn nhanh đi rồi lại đi."
Ông già gác rừng ngồi vào bàn, đặt xuống đất hai đĩa đầy cho hai con chó, rồi bắt đầu ăn xúp.
Bọn Phổ nghe có tiếng nói chuyện, đã im bặt.
Mười lăm phút sau, ông Cà Kheo lại lên đường. Còn Béc-tin, hai tay ôm đầu, ngồi chờ.
Đám tù binh lại bắt đầu nhốn nháo. Bây giờ họ hét, họ gọi, họ đập không ngớt những cú báng súng giận dữ vào tấm cửa sập không hề suy suyển của căn hầm.
Rồi họ bắt đầu bắn qua lỗ thông hơi, chắc là mong có toán lính Đức nào đi qua gần đó sẽ nghe thấy.
Người đàn bà gác rừng không nhúc nhích nữa. Nhưng tất cả những tiếng ồn ấy làm chị bực bội, cáu kỉnh. Một cơn giận độc địa thức dậy trong chị. Chị chỉ muốn giết quách chúng đi, lũ khốn ấy, cho chúng câm miệng.
Rồi nỗi sốt ruột lớn dần, chị bắt đầu nhìn đồng hồ, đếm từng phút.
Bố chị đi đã được một tiếng rưỡi. Giờ ông đã tới thành. Chị như nhìn thấy ông. Ông đang kể chuyện cho ông La-vi-nhơ, ông ấy tái mặt vì xúc động, rung chuông gọi chị hầu mang quân phục và vũ khí ra. Chị như nghe thấy tiếng trống chạy dọc các phố. Những cái đầu ngơ ngác ló ra ở cửa sổ. Những người lính công dân chạy ra khỏi nhà, quần áo xốc xếch, thở hổn hển, vừa chạy vừa cài thắt lưng, rồi chạy bước thể dục về phía nhà ông thiếu tá.
Rồi đoàn quân, ông Cà Kheo dẫn đầu, lên đường, trong đêm, trong tuyết, về phía rừng.
Chị nhìn đồng hồ. "Một tiếng nữa là họ có thể tới đây."
Một nỗi sốt ruột bồn chồn xâm chiếm chị. Từng phút dài như vô tận. Sao mà lâu thế!
Cuối cùng, cây kim cũng chỉ tới giờ chị đã định cho họ tới.
Chị lại mở cửa, để nghe họ tới. Chị thấy một bóng người đang thận trọng bước tới. Chị sợ, kêu lên một tiếng. Đó là bố chị.
Ông nói:
"Họ cử bố về xem có gì thay đổi không."
"Không, chẳng có gì."
Lúc ấy, đến lượt ông huýt một tiếng còi dài lanh lảnh vào màn đêm. Chẳng mấy chốc, người ta thấy một khối gì nâu nâu tiến tới dưới những tán cây, chầm chậm. Đó là toán tiền vệ gồm mười người.
Ông Cà Kheo luôn miệng nhắc:
"Đừng đi qua trước cái lỗ thông hơi."
Và những người tới trước chỉ cho những người tới sau cái lỗ thông hơi đáng sợ.
Cuối cùng đại quân xuất hiện, tất cả hai trăm người, mỗi người mang hai trăm viên đạn.
Ông La-vi-nhơ, bồn chồn, run rẩy, bố trí họ bao vây ngôi nhà từ mọi phía, chừa lại một khoảng trống rộng trước cái lỗ đen nhỏ sát mặt đất, nơi căn hầm lấy không khí.
Rồi ông vào nhà, hỏi han về lực lượng và thái độ của kẻ thù, lúc này đã im lặng đến nỗi người ta tưởng chúng đã biến mất, tan biến, bay đi qua lỗ thông hơi rồi.
Ông La-vi-nhơ giậm chân lên tấm cửa sập, gọi:
"Thưa ngài sĩ quan Phổ?"
Gã Đức không đáp.
Ông thiếu tá lại gọi:
"Thưa ngài sĩ quan Phổ?"
Vô ích. Suốt hai mươi phút, ông kêu gọi viên sĩ quan câm lặng ấy đầu hàng cùng vũ khí và hành lý, hứa sẽ tha mạng và dành mọi nghi thức danh dự quân đội cho anh ta và đám lính. Nhưng ông chẳng nhận được dấu hiệu nào đồng ý hay chống đối. Tình thế trở nên gay go.
Những người lính công dân giậm chân trên tuyết, đập tay thùm thụp lên vai như các bác xà ích vẫn làm cho ấm người, và họ nhìn cái lỗ thông hơi với một nỗi thèm thuồng trẻ con mỗi lúc một lớn, muốn được chạy qua trước nó.
Cuối cùng một người liều, một anh tên là Pô-đơ-vanh, rất nhanh nhẹn. Anh lấy đà rồi chạy vụt qua như một con hươu. Thử thách thành công. Đám tù binh như đã chết cả.
Có tiếng kêu:
"Chẳng có ai cả."
Thế là một người lính nữa băng qua khoảng trống trước cái lỗ nguy hiểm. Rồi nó thành một trò vui. Cứ chốc chốc, lại có một người lao đi, chạy từ toán này sang toán kia như trẻ con chơi đuổi bắt, chân quẫy nhanh đến nỗi tung tuyết bắn tung toé phía sau. Người ta đã đốt những đống lửa lớn bằng củi khô để sưởi, và bóng nghiêng của người vệ binh quốc gia đang chạy hiện lên rực sáng trong chuyến đi vội vã về phía trại bên trái.
Có người kêu:
"Tới lượt anh đấy, Ma-loa-dông."
Ma-loa-dông là một bác thợ bánh béo, cái bụng của bác khiến anh em được trận cười.
Bác ngần ngừ. Người ta trêu bác. Thế là bác đành quyết, cất bước đi, bằng một bước chạy thể dục nhỏ, đều đặn và hổn hển, làm cái bụng phệ rung bần bật.
Cả toán lính cười chảy nước mắt. Người ta hò hét cổ vũ:
"Hoan hô, hoan hô Ma-loa-dông!"
Bác đã chạy được chừng hai phần ba quãng đường thì một ngọn lửa dài, nhanh và đỏ phụt ra từ lỗ thông hơi. Một tiếng nổ vang lên, và bác thợ bánh to lớn ngã sấp mặt xuống, kêu lên một tiếng khủng khiếp.
Không ai lao ra cứu. Thế rồi người ta thấy bác bò bằng bốn chân trên tuyết, rên rỉ. Khi đã ra khỏi cái lối đi khủng khiếp ấy, bác ngất đi. Bác bị một viên đạn vào chỗ thịt mềm của đùi, tít trên cao.
Qua cơn ngạc nhiên và cơn hoảng sợ đầu tiên, một trận cười mới lại nổi lên.
Nhưng thiếu tá La-vi-nhơ xuất hiện ở ngưỡng cửa nhà gác rừng. Ông vừa định xong kế hoạch tấn công. Ông ra lệnh bằng một giọng vang dội:
"Bác thợ kẽm Plăng-suy và thợ của bác!"
Ba người bước tới.
"Tháo hết máng xối của ngôi nhà xuống."
Và chỉ trong mười lăm phút, người ta đã mang tới cho ông thiếu tá hai mươi mét máng xối.
Rồi ông cho khoét, hết sức thận trọng, một lỗ tròn nhỏ ở mép tấm cửa sập, nối một đường ống dẫn nước từ cái máy bơm tới lỗ ấy, và tuyên bố với vẻ khoái chí:
"Chúng ta sẽ mời các ngài Đức uống nước."
Một tràng hoan hô cuồng nhiệt đầy thán phục nổ ra, tiếp theo là những tiếng reo mừng và những tràng cười như điên. Ông thiếu tá tổ chức những tổ làm việc thay phiên nhau cứ năm phút một lần. Rồi ông ra lệnh:
"Bơm!"
Bánh xe sắt của máy bơm quay, một tiếng động nhỏ trườn dọc theo ống máng, rồi chẳng mấy chốc rơi xuống hầm, chảy từ bậc này xuống bậc khác, róc rách như tiếng thác, như tiếng nước chảy trên hòn non bộ trong bể cá vàng.
Người ta chờ.
Một giờ trôi qua, rồi hai giờ, rồi ba giờ.
Ông thiếu tá sốt ruột đi đi lại lại trong bếp, thỉnh thoảng áp tai xuống đất, cố đoán xem kẻ thù đang làm gì, tự hỏi chúng sắp đầu hàng chưa.
Bây giờ thì kẻ thù đang nhốn nháo. Người ta nghe chúng xê dịch những thùng rượu, nói chuyện, lội bì bõm.
Rồi khoảng tám giờ sáng, một giọng nói vọng ra từ lỗ thông hơi:
"Tôi muốn nói chuyện với ngài sĩ quan Pháp."
Ông La-vi-nhơ đáp từ cửa sổ, không thò đầu ra nhiều quá:
"Các anh đầu hàng chứ?"
"Tôi đầu hàng."
"Vậy thì đưa súng ra ngoài."
Lập tức người ta thấy một khẩu súng chìa ra khỏi lỗ rồi rơi xuống tuyết, rồi hai, ba, tất cả các khẩu súng. Và cái giọng ấy tuyên bố:
"Tôi hết rồi. Nhanh lên. Tôi chết đuối rồi."
Ông thiếu tá ra lệnh:
"Ngừng!"
Bánh xe máy bơm dừng lại, bất động.
Và sau khi đã cho lính đứng đầy gian bếp, súng dựng bên chân chờ sẵn, ông từ từ nhấc tấm cửa sập bằng gỗ sồi lên.
Bốn cái đầu hiện ra, ướt sũng, bốn cái đầu tóc vàng hoe dài nhợt nhạt. Rồi người ta thấy sáu gã Đức lần lượt bước ra, run cầm cập, nước chảy ròng ròng, mặt mũi hốt hoảng.
Họ bị tóm lấy và trói lại. Rồi, vì sợ bị đánh úp, người ta lên đường ngay, chia làm hai đoàn, một đoàn giải tù binh, một đoàn khiêng bác Ma-loa-dông nằm trên tấm nệm đặt trên mấy cây sào. Họ khải hoàn trở về thành Rơ-ten.
Ông La-vi-nhơ được tặng huân chương vì đã bắt sống một toán tiền vệ quân Phổ, còn bác thợ bánh béo được huy chương quân công vì bị thương trước mặt quân thù.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn