Cảnh các vị hoàng đế tiền bạc thời nay đi lại khắp New York, cái thành Bát-đa có tàu điện ngầm ấy, cố gắng giải toả nỗi túng thiếu của dân chúng, đủ để khiến vị Ha-run An Ra-sít vĩ đại, vị hoàng đế trong Nghìn lẻ một đêm từng cải trang đi khắp kinh thành giúp dân, phải trở mình trong mộ.
Làm sao giải toả đúng cách nỗi khổ của người nghèo là một trong những nỗi khổ lớn nhất của người giàu. Nhưng có một điều mà mọi nhà từ thiện chuyên nghiệp đều nhất trí, là không bao giờ được đưa tiền mặt cho đối tượng của mình. Người nghèo nổi tiếng là thất thường, và hễ có tiền là họ có khuynh hướng mạnh mẽ đem tiêu vào ô-liu nhồi và ảnh chân dung phóng to vẽ bằng chì than, thay vì đưa cho người đi thu tiền góp.
Thế nhưng, ông già Ha-run vẫn có vài lợi thế khi làm việc thiện. Trong những chuyến dạo chơi, ông dắt theo viên tể tướng Gia-pha, mà tể tướng là một thứ tổng hợp giữa tài xế, bộ trưởng ngoại giao và ngân hàng mở cửa suốt ngày đêm, cùng với lão Mê-xru, đao phủ của ông, lúc nào cũng kè kè thanh mã tấu. Với đoàn tuỳ tùng như thế, một chuyến vi hành của hoàng đế khó mà không thành công. Dạo này bạn có để ý thấy những bài báo tựa đề "Chúng ta làm gì với các cựu Tổng thống?" không? Này, giả sử ông vua thép Các-nê-ghi thuê được một cựu tổng thống cùng một nhà vô địch quyền anh đi khắp nơi giúp phân phát thư viện miễn phí thì sao? Bạn có nghĩ thị trấn nào dám cả gan từ chối không? Bộ đôi kiểu hoàng đế ấy sẽ làm mọc ra hai cái thư viện ở chỗ trước kia chỉ có một bộ tiểu thuyết rẻ tiền.
Nhưng như tôi đã nói, các vị hoàng đế tiền bạc bị thiệt thòi. Họ cho rằng trên đời chẳng có nỗi buồn nào mà tiền không chữa được, và họ chỉ dựa vào mỗi thứ ấy. Ha-run An Ra-sít thì thi hành công lý, thưởng cho người xứng đáng, và trừng phạt tại chỗ bất cứ ai ông không ưa. Ông là người đầu tiên khởi xướng cuộc thi viết truyện ngắn. Hễ cứu giúp một kẻ tình cờ gặp ở chợ, ông đều bắt người được cứu kể lại câu chuyện buồn của đời mình. Nếu câu chuyện thiếu kết cấu, thiếu văn phong, thiếu tinh thần, ông ra lệnh cho tể tướng phát cho người ấy vài nghìn tờ mười đô-la của Ngân hàng Quốc gia số Một eo biển Bô-xpho, hoặc cho một chân việc nhàn là Người Giữ Hạt Kê Cho Chim Hoạ Mi trong Vườn Ngự Uyển. Còn nếu câu chuyện tuyệt hay, ông sai đao phủ Mê-xru chém phăng đầu. Tin đồn rằng Ha-run An Ra-sít vẫn còn sống và đang làm chủ bút cuốn tạp chí mà bà bạn ngày xưa vẫn đặt mua thì chưa được xác nhận.
Và sau đây là Câu chuyện về Nhà Triệu phú, Món Tiền Vô Hiệu Lực và Hai Đứa Trẻ Lạc Rừng.
Chàng triệu phú trẻ Hao-ớt Pin-kin có tiền là nhờ loài chim, nói cho đúng là nhờ con cò. Chàng khéo chọn cò, để nó thả mình xuống đúng nhà của bậc sinh thành, chủ Hãng Bia Pin-kin. Mẹ chàng là cổ đông của hãng. Rồi ông già Pin-kin chết vì gan uể oải, sau đó bà Pin-kin chết vì lo lắng chuyện mấy chiếc xe giao bia cũng uể oải không kém, và thế là có chàng trai Hao-ớt Pin-kin với bốn triệu đô-la, mà lại còn là một chàng trai tốt. Chàng dễ mến, kiêu ngạo một cách khiêm tốn, và tin tuyệt đối rằng tiền mua được mọi thứ thế gian có thể bày ra. Mà cái thành Bát-đa New York cũng đã làm mọi cách suốt một thời gian dài để khuyến khích niềm tin ấy.
Nhưng rốt cuộc cái Bẫy Chuột cũng tóm được chàng. Chàng nghe lò xo bật tách, và thấy trái tim mình nằm trong chiếc lồng sắt, đang ngắm một miếng pho mát có tên khác là A-lít Van Đơ Rai-xlinh.
Nhà Van Đơ Rai-xlinh vẫn sống ở cái quảng trường nhỏ mà người ta nói về nó thì nhiều, còn làm gì cho nó thì ít. Ngày nay người ta nghe nói về đường hầm của ông này, đường trên cao của ông nọ, và đó gần như là tất cả tiếng tăm quảng trường Gờ-ra-mơ-xi gây ra trên đời. Nhưng ngày xưa thì khác. Nhà Van Đơ Rai-xlinh vẫn sống ở đó, và họ là nhà được nhận chiếc chìa khoá đầu tiên từng được làm ra cho vườn hoa Gờ-ra-mơ-xi.
Bạn sẽ không được nghe tả A-lít Van Đơ Rai-xlinh. Bạn cứ hình dung trong đầu cô Mắc-gi, cô Vê-ra hay cô Bê-a-tri-xơ của riêng bạn, sửa cho mũi thẳng lại, giọng mềm đi, làm cô dịu xuống rồi lại làm cô nổi lên, biến cô thành xinh đẹp và không với tới được, thế là bạn có một bức khắc khô mờ nhạt về A-lít. Gia đình cô có một ngôi nhà gạch đỏ đang mủn dần, một người đánh xe tên là Giô-dép mặc áo choàng sặc sỡ đủ màu, và một con ngựa già tới mức nó tự nhận mình thuộc họ thú guốc lẻ thời tiền sử, có ngón chân chứ không có móng. Năm 1898, gia đình phải mua một bộ yên cương mới cho con thú tiền sử ấy. Trước khi dùng, họ bắt Giô-dép bôi lên một thứ hỗn hợp tro với bồ hóng cho nó cũ đi. Chính nhà Van Đơ Rai-xlinh đã mua cả vùng đất từ phố Bao-ơ-ri ra sông Đông, từ phố Ri-vinh-tơn tới tượng Nữ thần Tự do, vào năm 1649, của một tù trưởng thổ dân, đổi lấy một lít đăng-ten viền với một đôi rèm cửa đỏ thắm làm cho căn hộ ở Hác-lem. Tôi vẫn luôn thán phục sự sáng suốt và gu thẩm mỹ của vị tù trưởng ấy. Tất cả những điều này chỉ để bạn tin rằng nhà Van Đơ Rai-xlinh đúng là hạng quý tộc nghèo chuyên chun mũi trước những người có tiền. À không, ý tôi không phải thế. Ý tôi là những người chỉ có mỗi tiền.
Một tối, Pin-kin tới ngôi nhà gạch đỏ ở quảng trường Gờ-ra-mơ-xi, và đưa ra cái mà chàng nghĩ là một lời cầu hôn với A-lít. A-lít, mũi chun xuống, nghĩ tới tiền của chàng, coi đó là một lời chào mua, và từ chối cả lời ấy lẫn người nói. Pin-kin, huy động mọi tiềm lực như bất cứ vị tướng giỏi nào cũng làm, lỡ nhắc khiếm nhã tới những lợi ích mà tiền của chàng có thể đem lại. Thế là xong. Cô gái lạnh tới mức đến nhà thám hiểm Bắc Cực cũng phải đợi tới mùa xuân mới dám đánh xe chó kéo xông tới chỗ cô.
Nhưng Pin-kin cũng là một tay chơi có hạng. Đâu phải lúc nào cũng lừa được mọi nhà triệu phú.
— Nếu lúc nào đó, — chàng nói với A-lít, — cô thấy muốn xét lại câu trả lời của mình, thì gửi cho tôi một bông hồng như thế này.
Pin-kin táo bạo chạm vào bông hồng nhung đỏ cô cài hờ trên tóc.
— Được thôi, — cô nói. — Và khi tôi gửi, anh sẽ hiểu rằng hoặc anh, hoặc tôi, đã học được điều gì mới về sức mua của đồng tiền. Anh bị chiều hư rồi, anh bạn ạ. Không, tôi không nghĩ tôi có thể lấy anh. Mai tôi sẽ gửi trả anh những món quà anh đã tặng tôi.
— Quà! — Pin-kin ngạc nhiên nói. — Cả đời tôi đã tặng cô món quà nào đâu. Tôi muốn được xem bức chân dung toàn thân của người đàn ông mà cô chịu nhận quà. Trời ạ, cô có bao giờ cho tôi gửi hoa hay kẹo, hay thậm chí một tấm lịch tranh đâu.
— Anh quên rồi, — A-lít nói, mỉm cười khẽ. — Đã lâu lắm rồi, hồi hai nhà còn là hàng xóm. Anh lên bảy, còn tôi đang đẩy xe búp bê trên vỉa hè. Anh tặng tôi một con mèo con nhỏ xíu, xám, lông xù, mắt như cúc giày. Đầu nó tháo ra được, bên trong đầy kẹo. Anh mua nó năm xu, chính anh bảo tôi thế. Kẹo thì tôi không trả lại được, vì lúc ba tuổi tôi chưa có lương tâm, nên tôi ăn mất rồi. Nhưng con mèo thì tôi vẫn còn giữ, tối nay tôi sẽ gói cẩn thận và mai gửi trả anh.
Dưới vẻ nhẹ nhàng trong lời A-lít, sự kiên quyết từ chối hiện ra vững chắc và rõ ràng. Thế là chàng chẳng còn cách nào khác ngoài rời ngôi nhà gạch đỏ mủn dần, mang theo mấy triệu đô-la đáng ghét của mình mà đi.
Trên đường về, Pin-kin đi bộ qua quảng trường Ma-đi-xơn. Kim giờ đồng hồ lơ lửng quanh số tám. Không khí lạnh buốt, nhưng chưa tới độ đóng băng. Quảng trường nhỏ mờ tối giống như một căn phòng lớn, lạnh lẽo, không mái che, bốn bức tường là những dãy nhà lấp lánh hàng nghìn ngọn đèn chẳng đủ sáng. Chỉ có vài kẻ la cà ngồi co ro đây đó trên ghế.
Nhưng bỗng Pin-kin bắt gặp một chàng trai ngồi đó, can đảm và như đang chống chọi với cái oi bức mùa hè, không mặc áo khoác, tay áo sơ mi trắng nổi bật dưới ánh sáng của một ngọn đèn điện tròn. Ngồi sát bên chàng là một cô gái, mỉm cười, mơ màng, hạnh phúc. Quanh vai cô rõ ràng là chiếc áo khoác vắng mặt của chàng trai thách thức giá rét. Trông như một bức tranh toàn cảnh hiện đại về Hai Đứa Trẻ Lạc Rừng, đã được sửa đổi và cập nhật, chỉ có điều lũ chim cổ đỏ chưa kịp tới phủ lá che cho chúng.
Các vị hoàng đế tiền bạc thích thú lắm khi gặp một tình cảnh mà họ nghĩ có thể giải toả ngay trong lúc bạn chờ.
Pin-kin ngồi xuống ghế, cách chàng trai một chỗ. Chàng thận trọng liếc nhìn và thấy, như đàn ông vẫn thấy, còn đàn bà thì, ôi, chẳng bao giờ thấy được, rằng họ cùng một giới với mình.
Một lát sau, Pin-kin nghiêng người bắt chuyện với chàng trai, và chàng trai tươi cười, nhã nhặn đáp lời. Từ những đề tài chung chung, câu chuyện dần thu về cái nền đá trơ trụi của hoàn cảnh riêng. Nhưng Pin-kin làm việc ấy tế nhị và chân thành như bất cứ vị hoàng đế nào. Và tới lúc vào việc, chàng trai quay sang chàng, giọng nhẹ nhàng, nụ cười vẫn chẳng vơi đi.
— Tôi không muốn tỏ ra là không biết ơn, ông bạn ạ, — cậu nói, với cái kiểu xưng hô thân mật hơi sớm của tuổi trẻ, — nhưng ông thấy đấy, tôi không thể nhận thứ gì của người lạ. Tôi biết ông là người tử tế, tôi cảm ơn ông vô cùng, nhưng tôi không thể nghĩ tới chuyện vay mượn ai. Ông biết đấy, tôi là Mác-cớt Clây-tơn, nhà Clây-tơn ở quận Rô-a-nốc, bang Vơ-gi-ni-a ấy. Cô gái đây là cô Ê-va Bét-phớt, chắc ông từng nghe tới nhà Bét-phớt. Cô ấy mười bảy tuổi, thuộc dòng Bét-phớt ở quận Bét-phớt. Bọn tôi bỏ nhà trốn đi để lấy nhau, và bọn tôi muốn xem New York. Chiều nay bọn tôi mới tới. Có đứa móc mất ví của tôi trên phà, ngoài ví ra tôi chỉ còn ba xu lẻ. Mai tôi sẽ kiếm một việc gì đó, rồi bọn tôi sẽ cưới nhau.
— Nhưng này, ông bạn, — Pin-kin nói, giọng thấp, như tâm sự, — anh không thể để cô ấy ngồi ngoài trời lạnh cả đêm thế này được. Còn chuyện khách sạn...
— Tôi đã bảo ông, — chàng trai nói, cười càng tươi, — là tôi chỉ có ba xu. Vả lại, giả như tôi có cả nghìn, bọn tôi cũng phải chờ ở đây tới sáng. Dĩ nhiên ông hiểu được điều đó. Tôi cảm ơn ông lắm, nhưng tôi không thể nhận đồng nào của ông. Cô Bét-phớt với tôi quen sống ngoài trời, chút lạnh bọn tôi chẳng ngại. Mai tôi sẽ kiếm được việc gì đó. Bọn tôi có một túi giấy đựng bánh với sô-cô-la, thế là đủ xoay xở rồi.
— Nghe này, — nhà triệu phú nói, giọng đầy sức nặng. — Tên tôi là Pin-kin, tôi có mấy triệu đô-la. Tình cờ trong túi tôi đang có chừng tám chín trăm đô-la tiền mặt. Anh không thấy anh đang quá khắt khe sao, khi từ chối nhận một khoản đủ để anh với cô gái được dễ chịu, ít ra là qua đêm nay?
— Thưa ông, tôi không thể nói là tôi thấy thế, — chàng Clây-tơn quận Rô-a-nốc nói. — Tôi được dạy để nhìn những chuyện như thế theo cách khác. Nhưng dù sao tôi vẫn cảm ơn ông vô cùng.
— Vậy thì anh buộc tôi phải chúc anh ngủ ngon, — nhà triệu phú nói.
Hai lần trong ngày hôm ấy, tiền của chàng đã bị những người giản dị khinh rẻ, những người coi đô-la của chàng chỉ như mấy cái nhãn thiếc trên bánh thuốc lá. Chàng chẳng phải kẻ tôn thờ đồng xu đúc hay tờ giấy in, nhưng chàng vẫn luôn tin vào sức mua gần như vô hạn của nó.
Pin-kin rảo bước đi, rồi đột ngột quay lại chiếc ghế nơi đôi trẻ đang ngồi. Chàng bỏ mũ ra và bắt đầu nói. Cô gái nhìn chàng với vẻ thích thú tươi tỉnh, rạng ngời, y như cô đang nhìn những ngọn đèn, những pho tượng và những toà nhà chọc trời, những thứ khiến quảng trường cũ này như cách quận Bét-phớt xa xôi lắm.
— Anh... ờ... anh Rô-a-nốc, — Pin-kin nói, — tôi khâm phục cái... cái tự... cái ngu ngốc của anh tới mức tôi sẽ viện tới tinh thần hiệp sĩ của anh. Tôi tin dân miền Nam các anh gọi thế là hiệp sĩ, khi để một tiểu thư ngồi ngoài trời trên ghế đá giữa đêm lạnh chỉ để giữ cái lòng tự trọng cũ kỹ, lỗi thời của mình. Này, tôi có một người bạn, một tiểu thư, quen biết từ thuở nhỏ, sống cách đây vài khối nhà, với bố mẹ, chị em, cô dì và đủ thứ bảo đảm như thế, dĩ nhiên rồi. Tôi chắc tiểu thư ấy sẽ rất vui lòng cho ở nhờ, à, được cô... ờ... Bét-phớt cho cái vinh hạnh tiếp đón cô làm khách qua đêm. Anh Rô-a-nốc ở... ờ... Vơ-gi-ni-a, anh không nghĩ anh có thể nới lỏng định kiến của mình tới mức ấy sao?
Chàng Clây-tơn quận Rô-a-nốc đứng dậy, chìa tay ra.
— Ông bạn, — cậu nói, — cô Bét-phớt sẽ rất vui lòng nhận lòng hiếu khách của tiểu thư mà ông nói tới.
Cậu trịnh trọng giới thiệu ông Pin-kin với cô Bét-phớt. Cô gái nhìn chàng, ngọt ngào và thoải mái.
— Tối nay đẹp trời quá, ông Pin-kin nhỉ, ông thấy không? — cô chậm rãi nói.
Pin-kin dẫn họ tới ngôi nhà gạch đỏ mủn dần của nhà Van Đơ Rai-xlinh. Tấm danh thiếp của chàng khiến A-lít ngạc nhiên đi xuống lầu. Đôi trẻ bỏ trốn được mời vào phòng khách, trong khi Pin-kin kể hết đầu đuôi cho A-lít nghe ngoài hành lang.
— Dĩ nhiên em sẽ cho cô ấy ở, — A-lít nói. — Mấy cô gái miền Nam có cái vẻ dòng dõi thuần chủng thật, phải không anh? Dĩ nhiên cô ấy sẽ ở lại đây. Còn anh Clây-tơn thì dĩ nhiên anh lo rồi.
— Anh lo à? — Pin-kin nói, sung sướng. — Ồ phải, anh sẽ lo cho cậu ta! Với tư cách công dân New York, tức là một trong những người đồng sở hữu công viên của thành phố, đêm nay anh sẽ mời cậu ta hưởng lòng hiếu khách của quảng trường Ma-đi-xơn. Cậu ta sẽ ngồi trên ghế đá ở đó tới sáng. Cãi với cậu ta chẳng ích gì. Cậu ta chẳng tuyệt sao? Anh mừng là em lo cho cô bé, A-lít ạ. Anh nói em nghe, hai đứa trẻ lạc rừng ấy đã làm cho anh, à, ờ, làm cho cả phố Uôn lẫn Ngân hàng nước Anh trông chẳng khác gì mấy gian trò chơi một xu.
Cô Van Đơ Rai-xlinh đưa cô Bét-phớt ở quận Bét-phớt lên những gian phòng nghỉ ngơi êm ái trên lầu. Khi xuống, cô đặt vào tay Pin-kin một chiếc hộp các-tông nhỏ, hình chữ nhật.
— Món quà của anh, — cô nói, — em trả lại anh đây.
— Ồ, phải, anh nhớ rồi, — Pin-kin thở dài, — con mèo lông xù.
Chàng để Clây-tơn lại trên ghế đá công viên, bắt tay cậu thật nồng nhiệt.
— Kiếm được việc rồi, — chàng trai nói, — tôi sẽ tìm ông. Địa chỉ của ông ghi trên danh thiếp phải không? Cảm ơn ông. Thôi, chúc ông ngủ ngon. Tôi vô cùng biết ơn lòng tốt của ông. Không, cảm ơn, tôi không hút thuốc. Chúc ông ngủ ngon.
Về tới phòng, Pin-kin mở hộp, lấy ra con mèo trông ngộ nghĩnh, mắt trợn tròn, bụng kẹo đã bị cướp sạch từ lâu, lại mất một mắt cúc giày. Pin-kin buồn rầu nhìn nó.
— Rốt cuộc thì, — chàng nói, — tôi không tin rằng chỉ có tiền thôi mà...
Rồi chàng hét lên một tiếng, thọc tay xuống đáy hộp lấy ra một thứ khác, thứ đã làm chỗ nằm cho con mèo: một bông hồng nhung đỏ đã bị đè bẹp, nhưng vẫn đỏ thắm, thơm ngát, rực rỡ và đầy hứa hẹn.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn