Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm trên công trường

Những ngọn đèn · Chương 1/4 · của Anton Chekhov

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 18.913 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Sau cánh cửa, con chó sủa lên một hồi…
  2. 1:24A-dóc-ca hẳn hiểu rằng người ta đang nói về…
  3. 5:01Ông có biết những ngọn đèn bất tận kia…
  4. 6:42Sao vậy?
  5. 7:54Lạy Chúa, sao chúng lại đáng nguyền rủa?
  6. 14:25Tôi căm ghét những ý nghĩ ấy bằng cả…
  7. 19:17Tôi hỏi:
  8. 20:33Một buổi tối trong số ấy, tôi đi ra…

Chương 1: Đêm trên công trường

Sau cánh cửa, con chó sủa lên một hồi hốt hoảng. Kỹ sư A-na-nhi-ép, cậu sinh viên phụ tá của ông là Phôn Stên-béc, và tôi cùng bước ra khỏi lán xem nó sủa ai. Tôi là khách trong lán, chẳng cần ra cũng được, nhưng thú thật là rượu uống vào làm đầu tôi hơi choáng, nên tôi cũng mừng được ra hít thở chút khí trời.

A-na-nhi-ép nói khi chúng tôi đã ra ngoài:

— Chẳng có ai cả… Sao mày nói dối, A-dóc-ca? Đồ ngốc!

Quanh đó không một bóng người. Con A-dóc-ca ngốc nghếch, con chó giữ nhà lông đen, có lẽ muốn xin lỗi chúng tôi vì đã sủa vô cớ, rụt rè lại gần và vẫy đuôi. Viên kỹ sư cúi xuống gãi gãi giữa hai tai nó.

Ông nói, bằng cái giọng mà những người hiền lành vẫn dùng để nói với trẻ con và với chó:

— Sao mày sủa vô cớ thế, cái đồ này? Nằm mơ thấy điều gì dữ hả? Này bác sĩ, tôi xin giới thiệu với bác sĩ một trường hợp thần kinh hết sức nhạy cảm. Bác sĩ thử tưởng tượng xem, nó không chịu được cô đơn, lúc nào cũng mơ thấy những chuyện khủng khiếp, hay bị ác mộng, mà hễ quát nó một tiếng là nó lên cơn gần như cuồng loạn.

Cậu sinh viên xác nhận:

— Vâng, một con chó tế nhị…

A-dóc-ca hẳn hiểu rằng người ta đang nói về nó; nó ngẩng mõm lên rên ư ử thảm thiết, như muốn nói: "Vâng, có những lúc tôi đau khổ không chịu nổi, nhưng xin các ông bỏ qua cho!"

Đêm ấy là một đêm tháng Tám, đầy sao nhưng tối. Vì từ trước tới giờ tôi chưa bao giờ ở trong một khung cảnh lạ lùng như khung cảnh mà tôi tình cờ lạc vào lúc này, nên đêm đầy sao ấy với tôi có vẻ âm u, khó gần và tối hơn thực. Tôi đang ở trên một tuyến đường sắt mới bắt đầu xây. Con đê cao mới đắp được một nửa, những đống cát, đất sét và đá dăm, những cái lán, những hố đất, những chiếc xe cút kít vứt rải rác đây đó, những gò đất phẳng nhô lên trên các căn hầm nơi thợ ở, tất cả cái mớ lộn xộn ấy bị bóng tối nhuộm thành một màu, khiến mặt đất mang một vẻ kỳ quặc, hoang dại, gợi nhớ thời hỗn mang. Trong mọi thứ bày ra trước mắt tôi có quá ít trật tự, đến mức giữa vùng đất bị đào bới nham nhở, chẳng giống cái gì, thấy bóng người và những cột dây thép thẳng hàng lại thấy là lạ; cả người lẫn cột đều làm hỏng bức tranh và như không thuộc về cõi này. Chung quanh im lặng, chỉ nghe trên đầu chúng tôi, ở đâu đó rất cao, đường dây thép ngân nga bài ca buồn tẻ của nó.

Chúng tôi trèo lên con đê và từ trên cao nhìn xuống. Cách chúng tôi chừng năm chục sải, ở chỗ những ổ gà, hố đất và đống đá hoà lẫn vào màn đêm, một đốm lửa mờ đang chập chờn. Sau nó sáng một ngọn khác, sau ngọn này là ngọn thứ ba, rồi lùi xa chừng trăm bước có hai con mắt đỏ sáng cạnh nhau, chắc là cửa sổ của một cái lán nào đó, và một dãy dài những ngọn đèn như vậy, mỗi lúc một dày hơn và mờ hơn, kéo theo tuyến đường tới tận chân trời, rồi vòng thành nửa vòng cung sang bên trái và mất hút vào màn sương xa. Những ngọn đèn đứng yên. Trong chúng, trong sự tĩnh lặng của đêm và trong khúc ca rầu rĩ của đường dây thép, có một điều gì chung. Tưởng như có một bí mật hệ trọng nào đó bị chôn dưới con đê, và chỉ những ngọn đèn, màn đêm và những sợi dây là biết…

A-na-nhi-ép thở dài:

— Lạy Chúa, thật là phúc phận! Mênh mông và đẹp đẽ đến thế, muốn bao nhiêu cũng có! Mà con đê kia mới ra sao chứ! Ông bạn ơi, đây không phải là con đê nữa mà là cả một ngọn Mông-blăng! Đáng giá hàng triệu…

Mê mẩn trước những ngọn đèn và con đê đáng giá hàng triệu, viên kỹ sư đã ngà ngà say và đang sẵn lòng đa cảm vỗ vai cậu sinh viên Phôn Stên-béc, rồi nói tiếp bằng giọng bông đùa:

— Sao, Mi-khai-lô Mi-khai-lư-tsơ, nghĩ ngợi gì thế? Hẳn là ngắm công trình do tay mình làm ra cũng sướng chứ? Năm ngoái, ngay chỗ này còn là thảo nguyên trơ trụi, chẳng có hơi người, thế mà giờ cậu xem: sự sống, văn minh! Mà tất cả những cái này hay ho làm sao, có Chúa chứng giám! Chúng ta đây làm đường sắt, rồi sau chúng ta, chừng một hai trăm năm nữa, người ta sẽ dựng ở đây nhà máy, trường học, bệnh viện, và máy móc sẽ chạy ầm ầm! Hả?

Cậu sinh viên đứng bất động, hai tay đút túi, mắt không rời những ngọn đèn. Cậu không nghe viên kỹ sư, cậu đang nghĩ ngợi điều gì đó và có vẻ đang ở trong cái tâm trạng chẳng muốn nói mà cũng chẳng muốn nghe. Sau một hồi im lặng lâu, cậu quay sang tôi và khẽ nói:

— Ông có biết những ngọn đèn bất tận kia giống cái gì không? Chúng gợi cho tôi hình ảnh một cái gì đã chết từ lâu lắm, đã sống từ hàng nghìn năm trước, kiểu như doanh trại của người A-ma-léc hay người Phi-li-tinh. Như thể một dân tộc nào đó trong Cựu Ước đã hạ trại và đang chờ trời sáng để đánh nhau với Sau-lơ hay Đa-vít. Muốn cho đủ ảo giác thì chỉ còn thiếu tiếng kèn đồng, và lính gác gọi nhau bằng một thứ tiếng Ê-thi-ô-pi nào đấy.

Viên kỹ sư đồng ý:

— Cũng có thể…

Và như cố ý, một cơn gió chạy dọc tuyến đường, mang tới một âm thanh giống như tiếng khí giới va vào nhau. Tất cả im lặng. Tôi không biết lúc này viên kỹ sư và cậu sinh viên nghĩ gì, nhưng tôi thì đã thấy như trước mắt mình thật sự là một cái gì đã chết từ lâu, và thậm chí còn nghe thấy lính gác nói với nhau bằng một thứ tiếng không ai hiểu. Trí tưởng tượng của tôi vội vã vẽ ra những túp lều vải, những con người kỳ lạ, quần áo của họ, áo giáp của họ…

Cậu sinh viên lẩm bẩm, trầm ngâm:

— Phải. Đã có một thời trên đời này người Phi-li-tinh và người A-ma-léc sinh sống, đánh nhau, giữ vai trò của mình, thế mà giờ chẳng còn lại dấu vết gì. Chúng ta rồi cũng thế. Bây giờ chúng ta làm đường sắt, đứng đây triết lý, nhưng hai nghìn năm nữa trôi qua, thì con đê này và tất cả những người đang ngủ sau một ngày lao động nặng nhọc kia sẽ chẳng còn lại đến một hạt bụi. Nói cho cùng, thật là khủng khiếp!

Viên kỹ sư nói, giọng nghiêm trang và dạy bảo:

— Cậu bỏ những ý nghĩ ấy đi…

— Sao vậy?

— Vì rằng… Những ý nghĩ như thế là để kết thúc cuộc đời chứ không phải để bắt đầu. Cậu còn quá trẻ để nghĩ thế.

Cậu sinh viên hỏi lại:

— Sao lại thế?

— Tất cả những ý nghĩ về sự phù du và hư vô, về sự vô nghĩa của cuộc đời, về cái chết không tránh khỏi, về bóng tối bên kia nấm mồ, vân vân, tất cả những ý nghĩ cao xa ấy, tôi nói cậu nghe, ông bạn của tôi ạ, là tốt đẹp và tự nhiên khi về già, khi chúng là kết quả của một quá trình suy ngẫm lâu dài bên trong, đã được trả giá bằng đau khổ và thật sự là của cải tinh thần; còn với một bộ óc trẻ vừa mới bắt đầu sống tự lập thì chúng chỉ là bất hạnh! Bất hạnh!

A-na-nhi-ép nhắc lại rồi khoát tay, nói tiếp:

— Theo tôi, ở tuổi cậu thà chẳng có cái đầu trên cổ còn hơn là nghĩ theo hướng ấy. Tôi nói nghiêm túc đấy, nam tước ạ. Tôi định nói chuyện với cậu về điều này từ lâu rồi, vì ngay từ ngày đầu quen nhau tôi đã thấy cậu ưa những ý nghĩ đáng nguyền rủa ấy!

Cậu sinh viên mỉm cười hỏi:

— Lạy Chúa, sao chúng lại đáng nguyền rủa?

Qua giọng nói và nét mặt cậu, có thể thấy cậu trả lời chỉ vì phép lịch sự, và cuộc tranh luận viên kỹ sư đang khơi ra chẳng làm cậu quan tâm chút nào.

Mắt tôi díp lại. Tôi mong rằng đi dạo xong chúng tôi sẽ chúc nhau ngủ ngon rồi đi nằm ngay, nhưng mong ước ấy mãi lâu mới thành. Khi chúng tôi trở về lán, viên kỹ sư cất những chai rượu không xuống gầm giường, lấy từ trong cái hòm đan to ra hai chai đầy, mở nút rồi ngồi vào bàn làm việc với ý định rõ ràng là tiếp tục uống, nói và làm việc. Vừa nhấp từng ngụm nhỏ trong cốc, ông vừa đánh dấu bằng bút chì lên những bản vẽ nào đó và tiếp tục chứng minh cho cậu sinh viên thấy cậu nghĩ không phải lối. Cậu sinh viên ngồi bên cạnh, kiểm lại mấy bản sổ sách nào đó và im lặng. Cũng như tôi, cậu chẳng muốn nói mà cũng chẳng muốn nghe. Còn tôi, để khỏi làm phiền người ta làm việc, và chờ từng phút người ta mời đi ngủ, tôi ngồi tách khỏi bàn, trên chiếc giường gấp chân khoèo của viên kỹ sư, và buồn chán. Đã quá nửa đêm.

Chẳng có việc gì làm, tôi quan sát hai người quen mới. Trước kia tôi chưa từng gặp A-na-nhi-ép lẫn cậu sinh viên, chỉ mới quen họ trong chính đêm tôi đang kể đây. Chiều tối hôm ấy tôi cưỡi ngựa từ phiên chợ về nhà ông địa chủ mà tôi đang ở chơi, trong bóng tối đi nhầm đường và bị lạc. Loanh quanh mãi gần tuyến đường sắt, thấy đêm mỗi lúc một đặc lại, tôi nhớ tới những lời đồn về bọn "đường sắt chân đất", tức là đám thợ du thủ du thực hay rình người đi bộ lẫn người cưỡi ngựa, tôi đâm sợ và gõ cửa cái lán đầu tiên gặp được. Ở đó A-na-nhi-ép và cậu sinh viên đón tôi niềm nở. Như vẫn xảy ra giữa những người xa lạ tình cờ gặp nhau, chúng tôi nhanh chóng làm quen, thân thiết, và lúc đầu bên ấm trà, sau đó bên rượu, chúng tôi đã thấy như quen nhau hàng mấy năm trời. Chỉ chừng một giờ sau là tôi đã biết họ là ai và số phận nào đưa họ từ thủ đô tới thảo nguyên xa xôi này, còn họ thì biết tôi là ai, làm nghề gì và nghĩ ngợi ra sao.

Kỹ sư A-na-nhi-ép, tên là Ni-cô-lai A-na-xta-xi-ê-vích, người chắc nịch, vai rộng, và xét theo bề ngoài thì đã bắt đầu, như Ô-ten-lô nói, "xuống thung lũng của tuổi già" và béo ra quá mức. Ông đang ở đúng cái tuổi mà các bà mối gọi là "đàn ông đang độ chín", nghĩa là không trẻ cũng không già, thích ăn ngon, uống rượu và khen ngợi thời xưa, đi bộ thì hơi thở dốc, ngủ thì ngáy to, còn khi cư xử với người chung quanh thì đã tỏ ra cái vẻ hiền hậu điềm tĩnh, không gì lay chuyển, thứ hiền hậu mà những người tử tế có được khi họ vượt lên tới hàng sĩ quan cao cấp và bắt đầu phát phì. Tóc và râu ông còn lâu mới bạc, nhưng chẳng hiểu sao ông đã vô tình, không tự biết, gọi những người trẻ một cách kẻ cả là "ông bạn của tôi" và cảm thấy mình như có quyền trách mắng họ một cách hiền lành về lối suy nghĩ. Cử chỉ và giọng nói của ông điềm tĩnh, êm ả, tự tin, như của một người biết rõ rằng mình đã ra được con đường thật sự, rằng mình có một công việc nhất định, một miếng cơm nhất định, một cách nhìn nhất định về mọi thứ… Gương mặt rám nắng mũi to và cái cổ vạm vỡ của ông như muốn nói: "Tôi no đủ, khoẻ mạnh, hài lòng về mình, rồi sẽ đến lúc các cậu trai trẻ cũng no đủ, khoẻ mạnh và hài lòng về mình…" Ông mặc áo sơ mi vải hoa cổ lệch và quần vải gai rộng nhét trong đôi ủng to. Nhìn mấy chi tiết nhỏ, như cái thắt lưng len màu, cái cổ áo thêu và miếng vá ở khuỷu tay, tôi đoán được ông đã có vợ và hẳn là được vợ yêu thương dịu dàng.

Nam tước Phôn Stên-béc, tên là Mi-khai-in Mi-khai-lô-vích, sinh viên trường kỹ thuật cầu đường, còn trẻ, chừng hai mươi ba, hai mươi bốn. Chỉ có mái tóc hung nhạt và bộ râu lưa thưa, và có lẽ thêm vẻ thô và khô của các nét mặt, là gợi nhớ rằng cậu xuất thân từ dòng nam tước vùng ven biển Ban-tích, còn tất cả những gì khác, tên gọi, đức tin, ý nghĩ, cung cách và nét mặt, đều thuần tuý Nga. Cũng mặc như A-na-nhi-ép, áo sơ mi vải hoa bỏ ngoài quần và đôi ủng to, lưng hơi còng, tóc lâu ngày không cắt, da rám nắng, trông cậu chẳng giống sinh viên, chẳng giống nam tước, mà giống một anh thợ phụ Nga bình thường. Cậu ít nói và ít cử động, uống rượu miễn cưỡng, chẳng ngon miệng gì, kiểm sổ sách như cái máy, và lúc nào cũng như đang nghĩ ngợi điều gì. Cử chỉ và giọng nói của cậu cũng điềm tĩnh, êm ả, nhưng sự điềm tĩnh của cậu khác hẳn của viên kỹ sư. Gương mặt rám nắng, hơi giễu cợt, trầm tư, đôi mắt hơi nhìn lên từ dưới hàng lông mày, và cả dáng người cậu, đều toát ra một sự lặng lẽ trong tâm hồn, một sự lười biếng của khối óc… Cậu nhìn như thể với cậu tất cả đều hoàn toàn như nhau: lửa trước mặt cháy hay không cháy, rượu ngon hay dở, sổ sách cậu đang kiểm đúng hay không… Và trên gương mặt thông minh điềm tĩnh của cậu tôi đọc thấy: "Tạm thời tôi chẳng thấy có gì hay trong công việc nhất định, trong miếng cơm nhất định, trong cách nhìn nhất định về mọi thứ. Tất cả chỉ là vớ vẩn. Tôi đã ở Pê-téc-bua, giờ ngồi đây trong lán, mùa thu tôi lại về Pê-téc-bua, rồi mùa xuân lại tới đây… Rốt cuộc mọi thứ ấy sẽ ra cái gì, tôi không biết, mà chẳng ai biết… Vậy thì bàn làm gì…"

Cậu nghe viên kỹ sư không chút hứng thú, với sự thờ ơ kẻ cả của các học viên lớp lớn trường võ bị khi nghe ông bác hiền lành nổi hứng giảng giải. Có vẻ như mọi điều viên kỹ sư nói chẳng có gì mới với cậu, và nếu cậu không lười nói thì cậu sẽ nói được điều gì mới hơn, thông minh hơn. Thế nhưng A-na-nhi-ép không chịu ngừng. Ông đã bỏ giọng bông đùa hiền lành và nói nghiêm túc, thậm chí say sưa, cái say sưa chẳng hợp chút nào với vẻ điềm tĩnh của ông. Có lẽ ông không thờ ơ với những vấn đề trừu tượng, ông thích chúng, nhưng lại không biết và không quen bàn về chúng. Sự không quen ấy lộ ra rõ đến nỗi tôi không hiểu ngay được ông muốn gì.

Ông nói:

— Tôi căm ghét những ý nghĩ ấy bằng cả tâm hồn! Thời trẻ chính tôi đã mắc bệnh ấy, bây giờ vẫn chưa khỏi hẳn, và tôi nói cậu nghe, có lẽ vì tôi ngu, những ý nghĩ ấy vượt quá sức tôi, chúng chẳng đem lại cho tôi gì ngoài điều ác. Thật dễ hiểu! Những ý nghĩ về sự vô nghĩa của cuộc đời, về sự hư vô và phù du của thế giới hữu hình, câu "hư không của hư không" của vua Sa-lô-môn, đã và đến nay vẫn là bậc thang cao nhất và sau cùng trong lĩnh vực tư duy của con người. Nhà tư tưởng lên tới bậc ấy là dừng máy! Chẳng còn đi đâu xa hơn được. Hoạt động của một khối óc bình thường kết thúc ở đó, như thế là tự nhiên và hợp lẽ. Còn cái bất hạnh của chúng ta là chúng ta lại bắt đầu suy nghĩ đúng từ đầu ấy. Người bình thường kết thúc ở đâu thì chúng ta bắt đầu ở đó. Ngay từ bước đầu tiên, khi khối óc vừa mới bắt đầu làm việc tự lập, chúng ta đã trèo lên bậc cao nhất, bậc cuối cùng, và chẳng thèm biết đến những bậc thấp hơn.

Cậu sinh viên hỏi:

— Thế thì có gì là xấu?

A-na-nhi-ép quát lên, nhìn cậu gần như giận dữ:

— Cậu phải hiểu rằng như thế là không bình thường! Nếu chúng ta đã tìm được cách trèo lên bậc trên cùng mà không cần các bậc dưới, thì cả chiếc thang dài, nghĩa là cả cuộc đời với màu sắc, âm thanh và ý nghĩ của nó, mất hết ý nghĩa đối với chúng ta. Ở tuổi cậu, lối nghĩ như thế là điều ác và là điều phi lý, cậu có thể thấy điều đó qua từng bước trong cuộc sống tự lập và có lý trí của cậu. Giả sử ngay lúc này cậu ngồi đọc Đác-uyn hay Sếch-xpia chẳng hạn. Cậu vừa đọc xong một trang thì chất độc đã bắt đầu ngấm: cả cuộc đời dài của cậu, cả Sếch-xpia, cả Đác-uyn, đều hiện ra như chuyện vớ vẩn, phi lý, vì cậu biết rằng cậu sẽ chết, rằng Sếch-xpia và Đác-uyn cũng đã chết, rằng tư tưởng của họ chẳng cứu được chính họ, chẳng cứu được trái đất, chẳng cứu được cậu, và nếu như thế cuộc đời không có ý nghĩa, thì mọi tri thức, thơ ca và những tư tưởng cao cả kia chỉ là trò tiêu khiển vô ích, món đồ chơi rỗi hơi của những đứa trẻ đã lớn. Thế là cậu bỏ sách ngay ở trang thứ hai. Giờ lại giả sử có người đến với cậu, vì cậu là người thông minh, hỏi ý kiến cậu, chẳng hạn về chiến tranh: chiến tranh có đáng mong muốn không, có hợp đạo lý không? Trước câu hỏi khủng khiếp ấy cậu chỉ nhún vai và nói một câu sáo rỗng nào đó, vì với lối nghĩ của cậu thì hàng trăm nghìn người chết vì bạo lực hay chết tự nhiên cũng hoàn toàn như nhau: đằng nào kết quả cũng thế, cát bụi và quên lãng. Chúng ta làm đường sắt. Thử hỏi, việc gì chúng ta phải vắt óc, phải sáng tạo, phải vượt lên trên cái lối mòn, phải thương thợ, phải ăn cắp hay không ăn cắp, khi chúng ta biết rằng hai nghìn năm nữa con đường này sẽ biến thành cát bụi? Và cứ thế, cứ thế… Cậu phải đồng ý rằng với lối suy nghĩ bất hạnh như vậy thì không thể có tiến bộ gì, không có khoa học, không có nghệ thuật, mà cả chính tư duy cũng không. Chúng ta tưởng mình thông minh hơn đám đông và hơn cả Sếch-xpia, nhưng thực ra công việc tư duy của chúng ta chẳng đi tới đâu, vì xuống các bậc thấp thì chúng ta chẳng thiết, còn lên cao hơn thì không còn chỗ nào, thế là khối óc chúng ta đứng ở điểm đóng băng, chẳng tiến chẳng lùi… Tôi đã sống dưới ách những ý nghĩ ấy chừng sáu năm, và tôi thề có Chúa, trong suốt thời gian ấy tôi không đọc nổi một cuốn sách ra hồn, không khôn ra được lấy một đồng xu, và không thêm được một chữ nào vào bộ luật đạo đức của mình. Thế chẳng phải là bất hạnh sao? Rồi, chưa hết, không chỉ bản thân chúng ta bị đầu độc, mà chúng ta còn đem chất độc vào đời sống của những người chung quanh. Giá như với cái bi quan của mình chúng ta từ bỏ cuộc đời, đi vào hang núi hay vội vàng tìm đến cái chết thì còn được, đằng này chúng ta vẫn tuân theo quy luật chung, vẫn sống, vẫn cảm xúc, vẫn yêu đàn bà, nuôi dạy con cái, làm đường sá!

Cậu sinh viên nói, giọng miễn cưỡng:

— Ý nghĩ của chúng ta chẳng làm ai nóng lên hay lạnh đi…

— Không, cậu thôi đi! Cậu chưa nếm mùi đời cho ra trò, còn khi nào cậu sống được bằng tôi, ông bạn ạ, thì cậu sẽ biết tay! Lối nghĩ của chúng ta không vô hại như cậu tưởng đâu. Trong đời thực, khi va chạm với con người, nó chỉ dẫn tới những chuyện kinh khủng và ngu xuẩn. Tôi từng phải trải qua những tình cảnh mà có ghét ai đến mấy tôi cũng không mong người ấy gặp phải.

Tôi hỏi:

— Chẳng hạn?

Viên kỹ sư hỏi lại:

— Chẳng hạn ư?

Ông nghĩ một lát, mỉm cười rồi nói:

— Chẳng hạn như chuyện này. Đúng ra đây không phải là một chuyện, mà là cả một cuốn tiểu thuyết có mở đầu và có kết thúc. Một bài học tuyệt vời! Ôi, bài học ấy!

Ông rót rượu cho chúng tôi và cho mình, uống cạn, lấy hai bàn tay xoa xoa bộ ngực rộng rồi kể tiếp, hướng về phía tôi nhiều hơn là về phía cậu sinh viên:

"Đó là mùa hè năm mười tám bảy mươi mấy, ít lâu sau chiến tranh, khi tôi vừa học xong. Tôi đi Cáp-ca-dơ và dừng lại chừng năm ngày ở thành phố N. ven biển. Phải nói với các ông rằng tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố ấy, vì vậy chẳng có gì lạ khi N. với tôi có vẻ ấm cúng, đầm ấm và đẹp lạ thường, mặc dầu người thủ đô sống ở đó cũng buồn tẻ và chẳng thoải mái gì, như ở bất cứ cái tỉnh lẻ khỉ ho cò gáy nào. Tôi buồn bã đi ngang qua trường trung học nơi mình từng học, buồn bã dạo qua khu vườn thành phố rất đỗi quen thuộc, buồn bã thử ghé nhìn gần hơn những người lâu ngày không gặp nhưng vẫn nhớ… Cái gì cũng buồn…

Một buổi tối trong số ấy, tôi đi ra chỗ gọi là Khu Cách Ly. Đó là một khu rừng nhỏ, lơ thơ cây, nơi xưa kia, vào thời dịch hạch đã bị quên lãng, có một trạm cách ly thật, còn bây giờ thì những người đi nghỉ mát ở. Từ thành phố tới đó phải đi bốn dặm trên một con đường êm. Vừa đi vừa thấy: bên trái là biển xanh, bên phải là thảo nguyên âm u bất tận; thở thấy nhẹ nhõm, mắt chẳng thấy chật chội. Khu rừng nằm ngay bờ biển. Cho người xà ích về, tôi bước qua cánh cổng quen thuộc và trước hết đi theo lối dạo tới một cái chòi nghỉ nhỏ bằng đá mà tôi rất thích hồi bé. Theo tôi, cái chòi tròn nặng nề, đứng trên mấy cây cột vụng về ấy, vừa có chất trữ tình của một tấm bia mộ cổ vừa có vẻ thô kệch, vụng về như ông lão địa chủ keo kiệt trong truyện của Gô-gôn, là góc nên thơ nhất của cả thành phố. Nó đứng trên mép bờ, ngay trên vách dốc, và từ đó nhìn biển rất rõ.

Tôi ngồi xuống ghế và nghiêng người qua lan can nhìn xuống. Từ chòi nghỉ, theo bờ dốc gần như dựng đứng, qua những tảng đất sét và những bụi ngưu bàng, có một con đường mòn chạy xuống; chỗ nó dứt, xa tít bên dưới, trên bãi cát, những con sóng thấp lười biếng sủi bọt và rì rầm êm dịu. Biển vẫn bao la, bất tận và lạnh lùng như bảy năm trước, khi tôi học xong trung học rời thành phố quê nhà lên thủ đô; xa xa có một vệt khói sẫm, ấy là một chiếc tàu thuỷ đang đi, và ngoài vệt khói mờ mờ bất động ấy cùng những con chim biển chao liệng trên mặt nước, chẳng có gì làm sinh động cảnh biển trời đơn điệu. Bên phải và bên trái chòi nghỉ là những bờ đất sét lổn nhổn trải dài…

— Hết chương 1 —

Mục lục Những ngọn đèn

  1. 1Đêm trên công trường22 phút
  2. 2Chòi nghỉ bên biểnĐang thu âm
  3. 3Mèo ConĐang thu âm
  4. 4Trời rạng sángĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1888
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Огни, 1888
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →