Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Những ông lớn đất Na-yan-giô

của Rabindranath Tagore

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 17.759 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xửa ngày xưa, các ông lớn đất Na-yan-giô…
  2. 4:02Trong thâm tâm, ông là người khiêm tốn nhất…
  3. 5:13Đến đây thường có một người trong bọn lên…
  4. 6:30Thôi thì, có lẽ rốt cuộc tôi cũng đành…
  5. 8:33Nhưng trong cái thời hiện đại nhỏ nhen này,…
  6. 11:14Nhưng cứ yên tâm mà tin rằng sẽ có…
  7. 14:25Suốt lúc ấy tôi đứng nhìn từ phòng bên.…
  8. 17:08Khi khách khứa đã về hết, tôi khiêm nhường…

Ngày xửa ngày xưa, các ông lớn đất Na-yan-giô là những địa chủ lừng danh. Họ nổi tiếng vung tiền như các bậc vương hầu. Họ xé bỏ cái viền thô của tấm vải mỏng Đắc-ca, vì nó cọ vào da. Họ có thể tiêu hàng nghìn ru-pi cho đám cưới một con mèo con. Người ta kể rằng có một dịp đại lễ, để biến đêm thành ngày, họ thắp vô số đèn và tung chỉ bạc từ trên cao xuống cho giống ánh mặt trời.

Ấy là những ngày trước cơn lụt. Rồi lụt đến. Dòng dõi những ông lớn kiểu cũ với nếp sống vương giả ấy không kéo dài được lâu. Như ngọn đèn thắp quá nhiều bấc, dầu cháy vèo một lúc là hết, và ánh sáng tắt ngấm.

Ông Cai-lát, hàng xóm của chúng tôi, là chút di tích cuối cùng của cái huy hoàng đã lụi tàn ấy. Trước khi ông lớn lên, gia đình ông đã gần như sa sút tới đáy. Khi cha ông mất, có một lần chót bùng lên rực rỡ, ấy là đám tang linh đình, rồi vỡ nợ. Điền sản bị bán để trả nợ. Chút tiền mặt ít ỏi còn lại chẳng thấm vào đâu để giữ được cái phong độ ngày xưa của tổ tiên.

Ông Cai-lát bỏ Na-yan-giô lên Can-cút-ta. Con trai ông cũng chẳng ở lâu trong cái thế giới phai tàn ấy. Anh mất sớm, để lại một đứa con gái duy nhất.

Ở Can-cút-ta, chúng tôi là hàng xóm của ông Cai-lát. Lạ một điều, lịch sử nhà tôi lại hoàn toàn ngược với nhà ông. Cha tôi tự tay làm ra tiền, và lấy làm tự hào rằng chưa bao giờ tiêu quá một đồng so với mức cần. Quần áo cha tôi là quần áo người lao động, đôi tay ông cũng là đôi tay người lao động. Ông chẳng bao giờ muốn được người ta gọi là ông lớn nhờ phô trương hoang phí, và tôi, đứa con trai duy nhất của ông, phải biết ơn ông về điều đó. Ông cho tôi học hành đến nơi đến chốn, và tôi đã tự lập được trong đời. Tôi chẳng xấu hổ gì khi nói mình là người tự thân làm nên. Những tờ giấy bạc mới cứng trong két với tôi quý hơn một bản gia phả dài dằng dặc nằm trong cái rương họ tộc trống rỗng.

Tôi đoán vì thế mà tôi ghét cảnh ông Cai-lát cứ rút những tấm séc nặng ký vào lòng tin của thiên hạ, từ cái ngân hàng đã vỡ nợ là danh tiếng ông lớn ngày xưa. Tôi cứ tưởng tượng ông khinh tôi, vì cha tôi kiếm tiền bằng chính đôi tay mình.

Lẽ ra tôi phải để ý rằng ngoài tôi ra, chẳng ai bực bội gì với ông Cai-lát. Thật ra khó mà tìm được một ông già nào vô hại hơn ông. Lúc vui lúc buồn, ông luôn sẵn những cử chỉ lịch sự nho nhỏ tử tế. Hàng xóm có lễ lạt cúng bái gì, ông đều góp mặt. Nụ cười quen thuộc của ông chào đón cả già lẫn trẻ. Ông hỏi han chuyện nhà người ta lễ phép không biết mệt. Bạn bè gặp ông ngoài phố thì đành chịu bị ông níu lại, trong khi từ miệng ông tuôn ra một tràng câu hỏi kiểu như:

– Ôi bạn thân mến, gặp anh tôi mừng quá. Anh vẫn khoẻ chứ? Cháu Sa-si thế nào? Còn ông anh, vẫn khoẻ cả chứ? Anh biết không, tôi vừa nghe tin con trai anh Ma-đu bị sốt. Cháu sao rồi? Anh có nghe tin gì không? Còn ông Ha-ri Cha-ran, lâu lắm tôi chẳng gặp, mong là ông ấy không ốm đau gì. Anh Rác-can bị làm sao thế? À, ờ, các bà các cô trong nhà vẫn mạnh giỏi cả chứ?

Lúc nào ông Cai-lát cũng ăn mặc tinh tươm, dù quần áo ông chẳng có mấy bộ. Ngày nào ông cũng cẩn thận đem phơi sơ mi, áo lót, áo khoác, quần dài, cùng với tấm chăn, cái vỏ gối và tấm thảm nhỏ ông vẫn ngồi. Phơi xong ông giũ, ông chải, rồi xếp lên giá. Mấy món đồ đạc nho nhỏ khiến căn phòng chật hẹp của ông trông cũng tươm tất, lại như ngầm bảo rằng khi cần vẫn còn nhiều thứ cất trong kho. Nhiều lần vì không có người hầu, ông đóng cửa nhà một lúc. Rồi ông tự tay là quần áo, làm những việc vặt của kẻ ăn người ở. Xong xuôi ông mới mở cửa, lại tiếp bạn bè.

Như tôi đã kể, ông Cai-lát đã mất hết ruộng đất, nhưng vẫn còn giữ lại vài món đồ gia bảo. Có một bình bạc để rảy nước thơm, một hộp chạm bạc đựng tinh dầu hoa hồng, một chiếc khay vàng nhỏ, một tấm khăn choàng cổ quý giá, và bộ lễ phục kiểu cũ cùng chiếc khăn xếp của tổ tiên. Những thứ ấy ông đã vất vả lắm mới giành lại được khỏi nanh vuốt bọn cho vay nặng lãi. Hễ có dịp thích hợp, ông lại trịnh trọng mang chúng ra, cố giữ lấy cái thể diện lừng lẫy khắp thiên hạ của các ông lớn đất Na-yan-giô.

Trong thâm tâm, ông là người khiêm tốn nhất đời. Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ông coi việc buông thả niềm kiêu hãnh dòng họ là bổn phận thiêng liêng đối với dòng dõi mình. Bạn bè ông vui vẻ, hiền hậu khuyến khích nét tính ấy, và lấy làm thích thú lắm.

Chẳng bao lâu cả khu phố quen gọi ông là ông Nội. Người ta kéo đến nhà ông, ngồi với ông hàng giờ liền. Để ông khỏi phải tốn kém, người này người kia lại mang thuốc lá đến, nói:

– Ông Nội ơi, sáng nay có người ở Ga-ya gửi cho cháu ít thuốc. Ông dùng thử xem có vừa ý không.

Ông Nội nhận lấy, khen ngon tuyệt. Rồi ông kể tiếp về một thứ thuốc lá thượng hạng ngày xưa người ta vẫn hút ở Na-yan-giô, giá một đồng vàng một lạng.

Ông bảo:

– Không biết bây giờ có ai muốn hút thử không nhỉ. Tôi vẫn còn ít, lấy ra được ngay.

Ai cũng biết rằng nếu họ xin, thì thế nào chìa khoá tủ cũng không biết lạc đâu mất, hoặc thằng Ga-nét, người đầy tớ già của nhà ông, đã cất đi đâu mất.

Ông còn nói thêm:

– Có kẻ ăn người ở thì chẳng bao giờ biết đồ đạc chạy đi đâu. Như cái thằng Ga-nét nhà tôi đấy, nó ngốc đến đâu tôi chẳng kể xiết, nhưng tôi không nỡ đuổi nó.

Vì thể diện nhà chủ, Ga-nét sẵn lòng nhận hết lỗi về mình mà không nói một lời.

Đến đây thường có một người trong bọn lên tiếng:

– Thôi ông Nội ạ. Ông đừng mất công tìm. Thuốc chúng cháu đang hút đây là tốt lắm rồi. Thứ kia chắc nặng quá.

Thế là ông Nội nhẹ nhõm, ngồi yên trở lại, và câu chuyện lại tiếp tục.

Khi khách đứng dậy ra về, ông Nội tiễn ra tận cửa, đứng trên bậc thềm nói:

– À này, bao giờ các anh đến nhà tôi dùng bữa đây?

Một người trong chúng tôi sẽ đáp:

– Chưa đâu ông Nội ơi, chưa vội. Để hôm khác mình định ngày.

– Phải đấy, ông đáp, phải lắm. Tốt nhất ta đợi đến mùa mưa. Bây giờ nóng quá. Một bữa tiệc thịnh soạn như tôi muốn đãi các anh mà ăn vào giữa trời nóng thế này thì đến khó tiêu mất.

Nhưng khi mùa mưa đến thật, ai cũng giữ ý không nhắc lại lời hứa ấy. Nếu có ai lỡ khơi ra, sẽ có người khéo léo bảo rằng mưa to thế này đi lại bất tiện lắm, tốt nhất chờ hết mùa mưa đã. Và cứ thế, màn kịch ấy cứ thế tiếp diễn mãi.

Căn nhà trọ nghèo nàn của ông quá chật so với địa vị của ông, và chúng tôi vẫn hay chia buồn với ông về chuyện đó. Bạn bè ông quả quyết với ông rằng họ hiểu nỗi khó khăn của ông lắm: ở Can-cút-ta này kiếm được một căn nhà ra hồn thì gần như không thể. Thậm chí họ đã tìm giúp ông bao năm nay một căn nhà xứng đáng, nhưng khỏi cần nói, chẳng người bạn nào dại dột mà tìm ra. Ông Nội thở một hơi dài cam chịu, rồi bảo:

– Thôi thì, có lẽ rốt cuộc tôi cũng đành chịu ở căn nhà này vậy.

Rồi ông mỉm cười hiền hậu, nói thêm:

– Nhưng các anh biết đấy, tôi không chịu nổi xa bạn bè. Tôi phải ở gần các anh. Thế là bù được cho tất cả rồi.

Không hiểu sao, những chuyện ấy khiến tôi khó chịu ghê gớm. Tôi đoán lý do thật là khi người ta còn trẻ, sự ngu ngốc trông như tội lỗi lớn nhất đời. Ông Cai-lát thật ra không ngu. Trong công việc thường ngày, ai cũng sẵn lòng hỏi ý kiến ông.

Nhưng hễ nói về Na-yan-giô thì lời ông chắc chắn chẳng có chút lẽ thường nào. Vì người ta thương ông, thấy ông hay hay, nên chẳng ai cãi lại những điều không tưởng ông nói, thế là ông cứ nói mãi không có giới hạn. Khi người ta kể trước mặt ông lịch sử vẻ vang của Na-yan-giô với những chi tiết phóng đại đến lố bịch, ông nhận hết mọi lời với vẻ hết sức nghiêm trang, và chẳng bao giờ, kể cả trong mơ, ngờ rằng có ai lại không tin những điều ấy.

Khi ngồi xuống thử phân tích những ý nghĩ và cảm xúc của mình đối với ông Cai-lát, tôi thấy nỗi ác cảm của tôi còn một lý do sâu xa hơn nữa. Giờ tôi xin nói ra.

Tuy là con nhà giàu, lẽ ra có thể phí thời giờ ở trường, nhưng tôi chăm chỉ đến mức còn rất trẻ đã đỗ cao học ở Đại học Can-cút-ta. Đạo đức của tôi không tì vết. Thêm vào đó, dung mạo tôi đẹp đến mức nếu tôi tự nhận mình đẹp trai thì có thể người ta bảo tôi tự phụ, nhưng không thể bảo tôi nói sai.

Không còn nghi ngờ gì, trong đám thanh niên Bengal, tôi được các bậc cha mẹ nói chung coi là một đám rất đáng gả con. Bản thân tôi cũng rõ điều đó lắm, và đã quyết tâm đòi cho đủ giá của mình trên chợ hôn nhân. Hình dung người mình sẽ chọn, tôi thấy trước mắt cô con gái duy nhất của một ông bố giàu có, cực kỳ xinh đẹp và học thức cao.

Lời dạm hỏi từ khắp nơi đổ về tôi. Người ta đưa ra những món tiền mặt lớn. Tôi cân nhắc từng lời đề nghị một cách công tâm tuyệt đối, trên chiếc cân tinh tế của sự tự đánh giá. Nhưng chẳng có ai xứng làm bạn đời của tôi. Tôi tin chắc, như nhà thơ Bha-va-bu-ti đã nói:

Trong thời gian vô tận và không gian vô biên của cõi đời này, rồi cuối cùng sẽ có một người sinh ra xứng với vẻ cao sang của ta.

Nhưng trong cái thời hiện đại nhỏ nhen này, trong cái khoảng không chật hẹp của xứ Bengal ngày nay, thật khó tin rằng sinh vật có một không hai ấy đã ra đời.

Trong khi đó, các bậc cha mẹ có tính toán vẫn ca tụng tôi bằng đủ mọi điệu, đủ mọi vần.

Con gái họ có làm tôi vừa ý hay không thì sự tôn thờ họ dâng lên tôi chẳng bao giờ làm tôi khó chịu. Tôi coi đó là phần đương nhiên mình được hưởng, vì tôi tốt đến thế cơ mà. Người ta bảo rằng khi các thần không ban phúc cho người trần, các thần vẫn chờ kẻ thờ phụng dâng lên những lễ bái nồng nhiệt, và nổi giận nếu không được dâng. Cái kỳ vọng thần thánh ấy đã phát triển rất mạnh trong tôi.

Tôi đã nhắc rằng ông Nội có một đứa cháu gái duy nhất. Tôi đã thấy cô nhiều lần, nhưng chưa bao giờ nhầm mà tưởng cô đẹp. Chưa bao giờ trong đầu tôi nảy ra ý nghĩ cô có thể thành bạn đời của mình. Dù vậy, tôi vẫn thấy chắc chắn rằng sớm muộn gì ông Cai-lát cũng sẽ đem cô dâng lên bàn thờ của tôi, với đầy đủ lễ nghi tôn kính. Thật ra, và đây chính là bí mật của nỗi ác cảm trong tôi, tôi bực mình vô cùng vì ông chưa làm điều đó.

Tôi nghe nói ông bảo bạn bè rằng các ông lớn đất Na-yan-giô không bao giờ đi cầu cạnh ai. Cháu gái có ở vậy không chồng thì ông cũng không phá lệ nhà. Chính cái kiêu ngạo ấy khiến tôi tức giận. Cơn phẫn nộ của tôi âm ỉ một thời gian. Nhưng tôi vẫn hoàn toàn im lặng, chịu đựng hết sức kiên nhẫn, vì tôi tốt đến thế cơ mà.

Như chớp đi kèm sấm, trong tính tôi, giữa tiếng lầm bầm của cơn giận cũng loé lên một tia hài hước. Tất nhiên tôi không thể trừng phạt ông già chỉ để xả cơn giận, và suốt một thời gian dài tôi chẳng làm gì cả. Nhưng một hôm, bỗng nảy ra trong đầu tôi một kế hoạch buồn cười đến nỗi tôi không cưỡng nổi ý muốn thực hiện nó.

Tôi đã kể rằng nhiều bạn bè của ông Cai-lát vẫn tâng bốc lòng tự phụ của ông già hết cỡ. Một người trong số đó, một viên chức nhà nước đã về hưu, từng bảo ông rằng mỗi lần ông ta gặp quan Thống đốc, ngài đều hỏi tin tức mới nhất về các ông lớn đất Na-yan-giô. Người ta còn nghe quan Thống đốc nói rằng trong khắp xứ Bengal, chỉ có hai gia đình thật sự đáng kính, ấy là nhà ngài Đại vương xứ Bớt-oan và các ông lớn đất Na-yan-giô.

Nghe lời bịa đặt khổng lồ ấy, ông Cai-lát hả hê vô cùng, và hay kể đi kể lại. Từ đó về sau, gặp viên chức kia ở đâu, ông cũng hỏi, xen giữa những câu hỏi khác:

– À, ờ, nhân tiện, quan Thống đốc vẫn mạnh khoẻ chứ? Mạnh khoẻ cả à? À phải, nghe thế tôi mừng quá! Còn bà lớn thân mến, bà cũng mạnh khoẻ chứ? À phải! Còn các cậu các cô, cũng mạnh khoẻ cả chứ? À phải! Thế thì tin vui quá! Khi nào gặp ngài, anh nhớ gửi lời thăm hỏi của tôi nhé.

Ông Cai-lát luôn miệng tỏ ý một ngày nào đó sẽ đến thăm quan Thống đốc.

Nhưng cứ yên tâm mà tin rằng sẽ có bao nhiêu quan Thống đốc lẫn quan Toàn quyền đến rồi đi, và bao nhiêu nước sẽ chảy xuôi dòng sông Hu-gli, trước khi cỗ xe họ tộc nhà Na-yan-giô được sửa sang để đến thăm phủ Thống đốc.

Một hôm, tôi kéo ông Cai-lát ra một chỗ, thì thầm:

– Ông Nội ơi, hôm qua cháu đến dự buổi tiếp tân, quan Thống đốc tình cờ nhắc đến các ông lớn đất Na-yan-giô. Cháu thưa với ngài là ông Cai-lát đã lên tỉnh. Ông biết không, ngài phật ý ghê lắm vì ông chưa đến thăm ngài. Ngài bảo cháu ngài sẽ gác lễ nghi sang một bên, đích thân đến thăm riêng ông ngay chiều nay.

Bất cứ ai khác cũng nhìn thấu cái mưu ấy của tôi ngay lập tức. Và nếu nó nhắm vào người khác, hẳn ông Cai-lát cũng hiểu đó là trò đùa. Nhưng sau tất cả những gì ông nghe người bạn viên chức kể, sau tất cả những lời phóng đại của chính ông, một cuộc viếng thăm của quan Thống đốc lại thành chuyện tự nhiên nhất đời. Nghe tin tôi báo, ông hết sức hồi hộp, cuống quýt. Từng chi tiết của cuộc viếng thăm sắp tới làm ông lo lắng vô cùng, nhất là chuyện ông không biết tiếng Anh. Làm thế quái nào mà vượt qua được khó khăn ấy? Tôi bảo ông chẳng có gì khó cả: không biết tiếng Anh mới là quý phái. Vả lại quan Thống đốc lúc nào cũng mang theo thông ngôn, và ngài đã nói rõ đây là cuộc thăm riêng.

Khoảng giữa trưa, khi phần lớn hàng xóm đã đi làm, số còn lại đang ngủ, một cỗ xe hai ngựa dừng trước nhà trọ của ông Cai-lát. Hai gã hầu mặc chế phục leo lên cầu thang, dõng dạc báo: "Quan Thống đốc đã tới."

Ông Cai-lát đã sẵn sàng chờ đón, trong bộ lễ phục kiểu cũ và chiếc khăn xếp của tổ tiên. Ga-nét đứng bên cạnh, mặc bộ quần áo đẹp nhất của chủ cho dịp này. Khi nghe báo quan Thống đốc đến, ông Cai-lát hổn hển, run rẩy chạy ra cửa. Ông dẫn vào một người bạn của tôi đã cải trang, vừa đi vừa chào lia lịa, mỗi bước lại cúi rạp người, cố hết sức đi giật lùi. Ông đã trải tấm khăn choàng gia truyền lên một chiếc ghế gỗ cứng, mời quan lớn an toạ. Rồi ông đọc một bài diễn văn kiểu cách bằng tiếng U-đu, thứ ngôn ngữ cung đình xưa của các quan lớn, và dâng lên trên chiếc khay vàng một chuỗi tiền vàng, chút di vật cuối cùng của cơ nghiệp đã tan nát.

Người đầy tớ già Ga-nét, nét mặt kính sợ đến mức gần như khiếp đảm, đứng phía sau cầm bình nước thơm rảy ướt sũng quan lớn, thỉnh thoảng lại rón rén chấm lên người ngài chút tinh dầu hoa hồng từ chiếc hộp chạm bạc.

Ông Cai-lát luôn miệng tạ lỗi vì không thể đón tiếp Ngài với tất cả vẻ huy hoàng của tổ tiên nơi điền trang Na-yan-giô. Ở đó ông mới đón tiếp ngài được đúng lễ nghi. Còn ở Can-cút-ta, ông chỉ là kẻ khách lạ trọ chân, chẳng khác gì cá mắc cạn.

Bạn tôi vẫn đội nguyên chiếc mũ lụa cao, nghiêm nghị gật đầu. Khỏi phải nói, theo phép người Anh, vào trong phòng thì phải bỏ mũ ra. Nhưng bạn tôi không dám bỏ mũ vì sợ bị lộ. Còn ông Cai-lát và người đầy tớ già Ga-nét thì hồn nhiên chẳng hề biết có sự thất lễ ấy.

Sau mười phút tiếp kiến, chủ yếu là gật đầu, bạn tôi đứng dậy cáo từ. Hai gã hầu mặc chế phục, theo đúng kế hoạch đã bàn trước, trịnh trọng mang đi chuỗi tiền vàng, chiếc khay vàng, tấm khăn choàng gia truyền, bình bạc rảy nước thơm và chiếc hộp chạm bạc đựng tinh dầu hoa hồng, đặt lên xe một cách long trọng. Ông Cai-lát cho rằng đó là thói quen thường lệ của các quan Thống đốc.

Suốt lúc ấy tôi đứng nhìn từ phòng bên. Tôi nén cười đến đau cả bụng. Khi không nhịn được nữa, tôi chạy vội vào một căn phòng phía trong, thì bất chợt thấy trong góc phòng một cô gái trẻ đang nức nở như tim sắp vỡ. Thấy tôi cười ngặt nghẽo, cô đứng phắt dậy, giận dữ, đôi mắt to đen loé lên như chớp nhìn thẳng vào mắt tôi, nói bằng giọng nghẹn ngào nước mắt:

– Anh nói đi! Ông tôi đã làm gì hại anh? Sao anh lại đến lừa ông? Sao anh lại đến đây? Sao…

Cô không nói được nữa. Cô lấy hai tay che mặt, oà lên nức nở.

Tiếng cười của tôi tắt ngấm. Tôi chưa từng nghĩ việc mình làm lại là gì khác ngoài một trò đùa buồn cười hết sức. Vậy mà giờ tôi mới biết mình đã gây ra nỗi đau tàn nhẫn nhất cho trái tim bé nhỏ dịu dàng nhất. Tất cả cái xấu xa trong sự độc ác của tôi trỗi dậy kết án tôi. Tôi lặng lẽ lẻn ra khỏi phòng như một con chó bị đá.

Từ trước đến nay, tôi chỉ coi Cu-xum, cháu gái ông Cai-lát, như một món hàng kém giá trên chợ hôn nhân, chờ mãi không ai rước. Nhưng giờ tôi bàng hoàng nhận ra rằng trong góc căn phòng ấy, có một trái tim người đang đập.

Suốt đêm ấy tôi hầu như không ngủ. Đầu óc tôi rối bời. Hôm sau, từ sáng sớm tinh mơ, tôi mang hết số đồ đã lấy trả về nhà trọ ông Cai-lát, định lén giao cho người đầy tớ Ga-nét. Tôi đứng chờ ngoài cửa, không thấy ai, bèn đi lên phòng ông Cai-lát. Từ ngoài hành lang, tôi nghe tiếng Cu-xum hỏi ông bằng giọng nũng nịu, đáng yêu nhất đời:

– Ông ơi, ông yêu quý ơi, ông kể cho cháu nghe hết những gì quan Thống đốc nói với ông hôm qua đi. Đừng bỏ sót chữ nào nhé. Cháu nóng lòng muốn nghe lại từ đầu lắm.

Mà ông Nội thì nào cần ai giục. Mặt ông rạng rỡ niềm tự hào khi kể lại đủ mọi lời khen ngợi quan Thống đốc đã có nhã ý dành cho những dòng họ lâu đời đất Na-yan-giô. Cô gái ngồi trước mặt ông, ngước nhìn ông, chăm chú lắng nghe như bị cuốn hút. Vì thương ông, cô đã quyết đóng trọn vai của mình.

Lòng tôi xúc động sâu sắc, nước mắt tôi trào ra. Tôi đứng lặng ngoài hành lang trong khi ông Nội thêu dệt cho xong cuộc viếng thăm tuyệt vời của quan Thống đốc. Khi ông ra khỏi phòng, tôi mang những món đồ đã lấy vào đặt dưới chân cô gái, rồi lặng lẽ đi ra, không nói một lời.

Chiều hôm ấy tôi lại sang thăm chính ông Cai-lát. Theo cái thói xấu xí thời nay, trước giờ tôi vẫn quen bước vào phòng mà chẳng chào hỏi ông già lấy một câu. Nhưng hôm ấy tôi cúi rạp người, đưa tay chạm vào chân ông. Tôi tin chắc ông già nghĩ chính cuộc viếng thăm của quan Thống đốc đã khiến tôi bỗng lễ phép như thế. Ông hài lòng lắm, đôi mắt ánh lên vẻ nghiêm nghị hiền từ. Bạn bè ông đã kéo đến, và ông đã bắt đầu kể lại dài dòng câu chuyện quan Thống đốc đến thăm, với những chi tiết tô vẽ còn kỳ lạ hơn nữa. Cuộc tiếp kiến đã sắp thành một thiên anh hùng ca, cả về phẩm lẫn về độ dài.

Khi khách khứa đã về hết, tôi khiêm nhường ngỏ lời với ông già. Tôi thưa rằng, "dù chẳng bao giờ dám mong mình xứng đáng kết thông gia với một dòng họ lừng lẫy đến thế, nhưng mà…" vân vân và vân vân.

Khi tôi nói rõ ý xin cưới, ông già ôm chầm lấy tôi, mừng rỡ cuống quýt:

– Tôi là người nghèo, đâu dám mong có được phúc lớn đến thế này.

Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời ông Cai-lát nhận mình nghèo. Đó cũng là lần đầu tiên và lần cuối cùng trong đời ông quên đi, dù chỉ một khoảnh khắc, cái thể diện tổ tiên của các ông lớn đất Na-yan-giô.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRabindranath Tagore (1861 – 1941)
Năm mất1941
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Bengal Thakurda của Rabindranath Tagore, 1892; dịch từ bản tiếng Anh The Babus of Nayanjore trong tập The Hungry Stones and Other Stories, 1916
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →