Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Nơi nào có tình thương, nơi ấy có Chúa

của Lev Tolstoy

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 21.884 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Trong thành phố có một ông thợ giày tên…
  2. 4:27Một lần, Mác-tin đọc khuya. Ông đọc sách Phúc…
  3. 7:53Mác-tin ngồi bên cửa sổ, nhìn ra cửa sổ…
  4. 11:07Xtê-pa-nứt lắc đầu, không nói gì, uống cạn cốc…
  5. 14:41Tôi là vợ lính, chị nói, chồng tôi bị…
  6. 18:05Tôi không lấy, nó nói, sao bà lại đánh…
  7. 19:29Chúa dạy phải tha thứ, A-vơ-đê-ích nói, không thì…
  8. 21:52Đây cũng là Ta, giọng nói lại cất lên.

Trong thành phố có một ông thợ giày tên là Mác-tin A-vơ-đê-ích. Ông sống dưới một căn hầm, trong gian phòng nhỏ chỉ có một ô cửa sổ. Cửa sổ trông ra phố. Qua cửa sổ, ông thấy người ta đi qua đi lại. Tuy chỉ thấy được đôi chân, nhưng nhìn giày, Mác-tin A-vơ-đê-ích nhận ra người. Mác-tin A-vơ-đê-ích đã sống ở chỗ ấy lâu năm, quen biết nhiều. Trong cả khu phố hiếm có đôi giày nào chưa một hai lần qua tay ông. Đôi thì ông đóng lại đế, đôi thì ông vá miếng da, đôi thì ông khâu lại đường viền, có khi ông làm cả mũi giày mới. Thế nên qua cửa sổ, ông thường trông thấy công việc của chính tay mình. Việc nhiều, vì A-vơ-đê-ích làm chắc chắn, dùng da tốt, không lấy công cao, lại giữ lời. Kịp hẹn thì ông nhận, không kịp thì ông chẳng lừa ai, nói trước cho người ta biết. Ai cũng biết A-vơ-đê-ích, và ông chẳng bao giờ thiếu việc.

A-vơ-đê-ích xưa nay vẫn là người tốt, nhưng về già ông càng nghĩ nhiều đến linh hồn mình, càng gần Chúa hơn. Hồi Mác-tin còn làm thuê cho chủ, vợ ông đã mất. Vợ mất để lại cho ông một đứa con trai mới lên ba. Những đứa con khác của ông bà đều không sống được, mấy đứa lớn đã chết từ trước. Ban đầu Mác-tin định gửi thằng bé cho người chị ở nhà quê, rồi lại thương, nghĩ bụng: "Thằng Ca-pi-tô-sca của mình lớn lên trong nhà người ta thì khổ lắm, thôi mình giữ nó bên mình." Thế là A-vơ-đê-ích thôi làm cho chủ, thuê nhà ở riêng với thằng con. Nhưng Chúa không cho A-vơ-đê-ích được vui với con cái. Thằng bé vừa lớn lên, vừa biết giúp đỡ bố, đáng lẽ đã được vui với nó, thì Ca-pi-tô-sca lâm bệnh, nằm liệt, sốt li bì một tuần rồi chết. Mác-tin chôn con xong thì tuyệt vọng. Tuyệt vọng đến nỗi ông kêu than oán trách Chúa. Nỗi buồn chán xâm chiếm Mác-tin, đã bao lần ông xin Chúa cho mình chết, và trách Chúa sao không mang ông già này đi, mà lại mang đi đứa con trai duy nhất ông yêu quý. A-vơ-đê-ích bỏ cả đi nhà thờ.

Thế rồi một hôm, có một ông cụ đồng hương ghé thăm A-vơ-đê-ích. Ông cụ vừa đi hành hương ở tu viện Chúa Ba Ngôi về, đã lang thang đến năm thứ tám rồi. A-vơ-đê-ích trò chuyện với cụ, rồi kể lể nỗi đau khổ của mình.

— Thưa cụ, người của Chúa, ông nói, tôi chẳng còn thiết sống nữa. Chỉ mong được chết. Tôi chỉ xin Chúa có mỗi một điều ấy. Bây giờ tôi thành kẻ hết hy vọng rồi.

Ông cụ bảo ông:

— Anh nói thế không phải đâu, Mác-tin. Chúng ta không được phán xét việc của Chúa. Không phải theo trí khôn của ta, mà theo sự phán xét của Chúa. Chúa định cho con anh phải chết, còn anh thì phải sống. Vậy là như thế tốt hơn. Còn anh tuyệt vọng là vì anh muốn sống cho niềm vui của riêng mình.

— Thế thì sống để làm gì? Mác-tin hỏi.

Ông cụ đáp:

— Phải sống cho Chúa, Mác-tin ạ. Chúa ban cho anh sự sống, thì phải sống cho Người. Khi anh sống cho Người rồi, anh sẽ chẳng phải buồn phiền vì điều gì, và mọi sự với anh sẽ đều nhẹ nhõm.

Mác-tin im lặng một lúc rồi nói:

— Nhưng sống cho Chúa là sống thế nào?

Ông cụ bảo:

— Sống cho Chúa thế nào, thì Chúa Ki-tô đã chỉ cho chúng ta rồi. Anh có biết chữ không? Anh mua cuốn Phúc Âm mà đọc, ở đấy anh sẽ biết sống cho Chúa là thế nào. Ở đấy đã chỉ bảo đủ cả.

Những lời ấy in sâu vào lòng A-vơ-đê-ích. Ngay hôm ấy ông đi mua một cuốn Tân Ước in chữ to, rồi bắt đầu đọc.

A-vơ-đê-ích định chỉ đọc vào những ngày lễ, nhưng vừa đọc thì lòng ông thấy dễ chịu đến nỗi ngày nào ông cũng đọc. Có khi ông mải đọc đến nỗi dầu trong đèn cháy cạn mà vẫn không rời được cuốn sách. Thế là tối nào A-vơ-đê-ích cũng đọc. Càng đọc, ông càng hiểu rõ Chúa muốn gì ở mình, phải sống cho Chúa thế nào, và lòng ông càng ngày càng nhẹ nhõm. Ngày trước, mỗi lần đi ngủ, ông thở than rên rỉ, chỉ nhớ đến thằng Ca-pi-tô-sca, giờ thì ông chỉ lẩm nhẩm: "Vinh danh Chúa, vinh danh Chúa! Xin cho ý Chúa được thể hiện."

Từ đó, cả cuộc sống của A-vơ-đê-ích đổi khác. Ngày trước, những ngày lễ ông cũng hay ghé quán uống chén trà, mà cũng chẳng từ chối chén rượu. Uống với người quen một chén, tuy không say nhưng ra khỏi quán cũng ngà ngà, rồi ăn nói linh tinh, khi thì quát người này, khi thì nói xấu người kia. Giờ thì những thói ấy tự nhiên rời bỏ ông. Cuộc sống của ông trở nên êm đềm và vui vẻ. Sáng ra ông ngồi vào bàn làm việc, làm xong giờ của mình, thì gỡ ngọn đèn trên móc xuống, đặt lên bàn, lấy cuốn sách trên giá, mở ra rồi ngồi đọc. Càng đọc càng hiểu, lòng càng sáng sủa, càng vui.

Một lần, Mác-tin đọc khuya. Ông đọc sách Phúc Âm của thánh Lu-ca. Ông đọc chương sáu, đọc đến những câu: "Ai vả ngươi má bên này, hãy đưa cả má bên kia. Ai lấy áo ngoài của ngươi, đừng cản họ lấy cả áo trong. Ai xin, hãy cho, và ai lấy của ngươi, đừng đòi lại. Các ngươi muốn người ta đối xử với mình thế nào, thì hãy đối xử với người ta như thế."

Ông đọc tiếp những câu Chúa phán:

"Sao các ngươi gọi Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà không làm điều Ta dạy? Ai đến với Ta, nghe lời Ta và làm theo, Ta sẽ cho các ngươi biết người ấy giống ai. Người ấy giống như kẻ xây nhà, đã đào sâu xuống, đặt móng trên đá. Khi nước lụt tràn đến, xô vào ngôi nhà ấy, cũng không lay chuyển được, vì nhà đã xây trên đá. Còn kẻ nghe mà không làm theo thì giống như người xây nhà trên đất không móng. Nước xô vào, nhà sập ngay, và ngôi nhà ấy đổ nát tan tành."

A-vơ-đê-ích đọc những lời ấy, lòng thấy vui. Ông tháo kính, đặt lên cuốn sách, chống khuỷu tay lên bàn mà nghĩ ngợi. Ông đem đời mình ra ướm vào những lời ấy. Và ông tự nhủ:

— Nhà mình xây trên đá hay trên cát đây? Xây trên đá thì tốt. Ngồi một mình thế này thì dễ lắm, cứ tưởng mình đã làm mọi điều theo lời Chúa dạy, nhưng hễ lơ là một cái là lại phạm tội. Dù sao mình cũng sẽ cố. Như thế tốt lắm. Lạy Chúa, xin giúp con!

Nghĩ thế rồi ông định đi nằm, nhưng tiếc chẳng muốn rời cuốn sách. Ông đọc thêm chương bảy. Ông đọc chuyện viên đội trưởng, đọc chuyện người con trai của bà goá, đọc lời Chúa đáp các môn đồ của thánh Giăng, rồi đọc đến chỗ ông Pha-ri-xi giàu có mời Chúa đến nhà mình, và người đàn bà tội lỗi đã xức dầu thơm lên chân Chúa, lấy nước mắt rửa chân Người, và Người đã tha tội cho bà ta. Ông đọc đến câu bốn mươi bốn: "Rồi Người quay lại phía người đàn bà, phán với Si-mông: Ngươi có thấy người đàn bà này không? Ta vào nhà ngươi, ngươi không cho Ta nước rửa chân, còn bà này lấy nước mắt tưới chân Ta, lấy tóc mình mà lau. Ngươi không hôn Ta, còn bà này từ khi Ta vào, không ngớt hôn chân Ta. Ngươi không xức dầu lên đầu Ta, còn bà này lấy dầu thơm xức chân Ta." Đọc xong mấy câu ấy, ông nghĩ: "Không cho nước rửa chân, không hôn, không xức dầu lên đầu…"

A-vơ-đê-ích lại tháo kính, đặt lên sách, lại nghĩ ngợi.

"Ông Pha-ri-xi ấy chắc cũng giống như mình. Chắc cũng chỉ nhớ đến thân mình. Làm sao được uống chén trà, được ấm áp, được sung sướng, chứ chẳng nghĩ gì đến khách. Chỉ nhớ đến thân mình, còn khách thì chẳng hề bận tâm. Mà khách là ai? Chính là Chúa đấy. Giả sử Người đến nhà mình, liệu mình có xử như thế không?"

A-vơ-đê-ích chống cả hai tay lên bàn, và ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

— Mác-tin! bỗng có cái gì như hơi thở bên tai ông.

Mác-tin choàng tỉnh, còn ngái ngủ:

— Ai đấy?

Ông quay lại, nhìn ra cửa, chẳng có ai. Ông lại thiu thiu ngủ. Bỗng ông nghe rõ ràng:

— Mác-tin, này Mác-tin! Ngày mai hãy nhìn ra phố, Ta sẽ đến.

Mác-tin tỉnh hẳn, đứng dậy khỏi ghế, dụi mắt. Chính ông cũng không biết mình nghe những lời ấy trong mơ hay lúc tỉnh. Ông vặn tắt đèn rồi đi ngủ.

Sáng hôm sau, từ lúc trời chưa sáng, A-vơ-đê-ích đã dậy, cầu nguyện, nhóm lò, nấu xúp bắp cải, nấu cháo, đun ấm xa-mô-va, đeo tạp dề rồi ngồi bên cửa sổ làm việc. A-vơ-đê-ích ngồi làm, mà trong đầu cứ nghĩ mãi chuyện đêm qua. Ông nghĩ hai đằng: khi thì nghĩ là mình nghe nhầm, khi thì nghĩ là mình nghe thấy tiếng ấy thật. "Ừ thì, ông nghĩ, chuyện ấy cũng từng có rồi."

Mác-tin ngồi bên cửa sổ, nhìn ra cửa sổ còn nhiều hơn làm việc, và hễ có ai đi qua đi đôi giày lạ, ông lại nghiêng cả người, ghé ra nhìn, để thấy không chỉ đôi chân mà cả khuôn mặt. Một bác gác cổng đi qua với đôi ủng dạ mới, một bác chở nước đi qua, rồi một ông lính già thời Nga hoàng Ni-cô-lai, chân đi đôi ủng dạ cũ khâu viền, tay cầm cái xẻng, đi đến ngang cửa sổ. Nhìn đôi ủng dạ, A-vơ-đê-ích nhận ra ông. Ông già tên là Xtê-pa-nứt, sống nhờ lòng thương của nhà một lái buôn bên cạnh. Ông được giao việc phụ bác gác cổng. Xtê-pa-nứt bắt đầu xúc tuyết ngay trước cửa sổ của A-vơ-đê-ích. A-vơ-đê-ích nhìn ông ta một lúc, rồi lại cắm cúi làm.

— Chà, mình già đâm lẩn thẩn rồi, A-vơ-đê-ích tự cười mình. Xtê-pa-nứt xúc tuyết, thế mà mình lại tưởng Chúa Ki-tô đến thăm. Lẩn thẩn thật rồi, cái lão già này.

Nhưng khâu được chục mũi, A-vơ-đê-ích lại thấy muốn nhìn ra cửa sổ. Ông nhìn ra lần nữa, thấy Xtê-pa-nứt đã dựng cái xẻng vào tường, đứng đấy, không biết là để sưởi hay để nghỉ.

Người già cả, ọp ẹp, chắc chẳng còn sức mà xúc tuyết. A-vơ-đê-ích nghĩ: hay mời ông ấy vào uống chén trà, đằng nào ấm xa-mô-va cũng sắp sôi trào. A-vơ-đê-ích cắm cái dùi xuống, đứng dậy, đặt ấm xa-mô-va lên bàn, pha trà, rồi lấy ngón tay gõ vào kính cửa sổ. Xtê-pa-nứt quay lại, đến bên cửa sổ. A-vơ-đê-ích vẫy ông, rồi ra mở cửa.

— Vào sưởi một chút đi, ông nói. Chắc là rét lắm.

— Cầu Chúa cứu rỗi ông, xương cốt tôi đang nhức đây, Xtê-pa-nứt nói.

Xtê-pa-nứt bước vào, rũ tuyết, rồi chùi chân để khỏi làm bẩn sàn, người lảo đảo.

— Chùi làm gì cho mệt. Để tôi lau, việc của tôi mà, vào đây, ngồi đi, A-vơ-đê-ích nói. Uống chén trà đây này.

A-vơ-đê-ích rót hai cốc, đẩy một cốc sang cho khách, còn cốc của mình thì ông rót ra đĩa rồi thổi.

Xtê-pa-nứt uống hết cốc của mình, úp cốc xuống, đặt mẩu đường còn lại lên đáy cốc, rồi cảm ơn. Nhưng nhìn là biết ông vẫn còn thèm.

— Uống thêm đi, A-vơ-đê-ích nói, rồi rót thêm cho cả mình lẫn khách.

A-vơ-đê-ích uống trà, mà mắt chốc chốc lại liếc ra phố.

— Ông đang chờ ai à? người khách hỏi.

— Chờ ai ấy à? Nói ra thì ngượng, chẳng biết là chờ ai: chờ thì chẳng ra chờ, mà trong lòng cứ in một lời. Là thấy thật hay là gì, chính tôi cũng chẳng biết. Ông bạn ạ, hôm qua tôi đọc Phúc Âm, đọc chuyện Chúa Ki-tô, Người đã chịu khổ thế nào, đã đi trên mặt đất thế nào. Chắc ông cũng từng nghe rồi chứ?

— Nghe thì có nghe, Xtê-pa-nứt đáp, nhưng chúng tôi là người ngu tối, chẳng biết chữ.

— Đấy, tôi đọc đúng cái đoạn Người đi trên mặt đất, tôi đọc, ông biết không, đến chỗ Người đến nhà một ông Pha-ri-xi, mà ông ta chẳng tiếp đón Người gì cả. Thế đấy, ông bạn ạ, hôm qua tôi đọc đúng chỗ ấy và nghĩ: sao lại không tiếp đón Chúa Ki-tô cho tử tế. Giá như, ví dụ, chuyện ấy đến với tôi hay ai đó, tôi nghĩ, thì chẳng biết sẽ tiếp đón Người thế nào cho xứng. Thế mà ông ta chẳng tiếp đón gì cả. Tôi nghĩ thế rồi thiu thiu ngủ. Ông bạn ạ, tôi vừa thiu thiu thì nghe có tiếng gọi tên mình. Tôi nhổm dậy, có tiếng như ai thì thầm: chờ đấy, mai Ta sẽ đến. Đến hai lần như thế. Đấy, ông tin không, chuyện ấy cứ ám mãi trong đầu tôi, tôi tự mắng mình, mà vẫn cứ chờ Người.

Xtê-pa-nứt lắc đầu, không nói gì, uống cạn cốc rồi đặt nằm nghiêng xuống, nhưng A-vơ-đê-ích lại dựng cốc lên, rót thêm.

— Uống đi cho khoẻ. Tôi lại còn nghĩ thế này, hồi Người đi trên mặt đất, Người chẳng khinh rẻ ai, mà lại hay gần gũi dân thường hơn. Người toàn đến với người nghèo, chọn môn đồ phần nhiều cũng là những người như chúng ta, cũng tội lỗi như chúng ta, toàn người lao động. Người bảo, ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. Người bảo, các ngươi gọi Ta là Chúa, thế mà Ta sẽ rửa chân cho các ngươi. Người bảo, ai muốn làm người đứng đầu thì hãy làm đầy tớ cho mọi người. Vì Người bảo, phúc cho những ai nghèo khó, khiêm nhường, hiền lành, thương xót người.

Xtê-pa-nứt quên cả cốc trà. Ông vốn là người già, dễ mủi lòng. Ông ngồi nghe, nước mắt lăn trên má.

— Nào, uống thêm đi, A-vơ-đê-ích nói. Nhưng Xtê-pa-nứt làm dấu thánh, cảm ơn, đẩy cốc ra rồi đứng dậy.

— Cảm ơn ông, ông Mác-tin A-vơ-đê-ích ạ, ông nói, ông đãi tôi no cả hồn lẫn xác.

— Có gì đâu, lần sau lại ghé chơi, có khách là tôi mừng, A-vơ-đê-ích nói.

Xtê-pa-nứt đi rồi, Mác-tin rót chỗ trà cuối cùng, uống cạn, dọn bát đĩa, rồi lại ngồi bên cửa sổ làm việc, khâu cái gót giày. Ông khâu, mà mắt cứ liếc ra cửa sổ, chờ Chúa Ki-tô, cứ nghĩ mãi về Người và về những việc Người làm. Trong đầu ông là đủ mọi lời dạy của Chúa.

Hai người lính đi qua, một người đi giày nhà nước, một người đi giày của mình. Rồi ông chủ nhà bên cạnh đi qua với đôi giày cao su bóng lộn, rồi một bác thợ bánh mì xách giỏ đi qua. Ai cũng đi qua cả, rồi đến ngang cửa sổ là một người đàn bà đi tất len, chân xỏ đôi giày nhà quê. Chị đi qua cửa sổ rồi dừng lại bên khoảng tường giữa hai ô cửa. A-vơ-đê-ích từ dưới cửa sổ ngước lên nhìn, thấy đó là một người đàn bà lạ, ăn mặc rách rưới, bế một đứa con. Chị đứng nép vào tường, quay lưng về phía gió, cố quấn cho đứa bé, mà chẳng có gì để quấn. Áo chị mặc là áo mùa hè, lại cũ nát. Qua khung cửa, A-vơ-đê-ích nghe đứa bé khóc, chị dỗ mãi mà nó không nín. A-vơ-đê-ích đứng dậy, ra cửa, lên cầu thang, rồi gọi:

— Này chị ơi! Chị ơi! Người đàn bà nghe thấy, quay lại. Sao lại bế con đứng ngoài giá rét thế? Vào nhà đi, ở chỗ ấm mà quấn cho cháu thì hơn. Lối này.

Người đàn bà ngạc nhiên. Chị thấy một ông già đeo tạp dề, kính trễ trên mũi, gọi mình vào. Chị đi theo ông.

Họ xuống dưới gầm cầu thang, vào trong phòng, ông già đưa người đàn bà đến bên giường.

— Ngồi đây, chị ạ, ông nói, ngồi gần lò sưởi mà sưởi, rồi cho cháu bú.

— Ngực tôi chẳng còn sữa, từ sáng đến giờ tôi chưa ăn gì, người đàn bà nói, nhưng vẫn ôm con vào ngực.

A-vơ-đê-ích lắc đầu, đi đến bên bàn, lấy bánh mì, lấy cái bát, mở cửa lò, múc xúp bắp cải vào bát. Ông lấy nồi cháo ra, nhưng cháo chưa chín nhừ, nên ông chỉ múc xúp đặt lên bàn. Ông lấy bánh mì, gỡ cái khăn trên móc xuống, đặt lên bàn.

— Ngồi xuống ăn đi, chị ạ, ông nói, để tôi bế cháu, tôi cũng từng có con, tôi biết trông trẻ.

Người đàn bà làm dấu thánh, ngồi vào bàn ăn, còn A-vơ-đê-ích ngồi xuống giường cạnh đứa bé. A-vơ-đê-ích chặc chặc môi dỗ nó, chặc mãi, nhưng chặc chẳng ra tiếng vì không còn răng. Đứa bé vẫn khóc. A-vơ-đê-ích bèn nghĩ ra cách lấy ngón tay doạ nó. Ông giơ ngón tay lên như sắp chọc vào miệng nó, rồi lại rụt ra. Ông không để ngón tay vào miệng nó, vì ngón tay đen nhẻm, dính đầy hắc ín. Đứa bé mải nhìn ngón tay, nín bặt, rồi bật cười. A-vơ-đê-ích cũng mừng rỡ. Còn người đàn bà vừa ăn vừa kể mình là ai, đã đi đâu.

— Tôi là vợ lính, chị nói, chồng tôi bị đưa đi xa đã tám tháng nay, chẳng có tin tức gì. Tôi làm bếp cho người ta, rồi sinh con. Có con nhỏ, người ta không giữ tôi nữa. Đến nay đã ba tháng tôi chật vật không có chỗ làm. Bán hết cả đồ đạc mà ăn. Tôi muốn đi làm vú nuôi, người ta không nhận, bảo tôi gầy quá. Tôi vừa đến nhà một bà lái buôn, ở đấy có một chị cùng quê tôi làm, bà ấy hứa sẽ nhận tôi. Tôi tưởng thế là xong rồi. Nhưng bà ấy lại bảo tuần sau hãy đến. Mà nhà bà ấy xa lắm. Tôi mệt lả người, lại làm khổ cả nó, tội nghiệp con tôi. Cũng may bà chủ nhà thương mẹ con tôi, vì Chúa mà cho ở nhờ. Không thì chẳng biết sống thế nào.

A-vơ-đê-ích thở dài, hỏi:

— Thế chị không có áo ấm à?

— Bác ơi, giờ này đúng là phải có áo ấm. Hôm qua tôi vừa cầm cái khăn cuối cùng lấy hai hào.

Người đàn bà đến bên giường bế con, còn A-vơ-đê-ích thì đứng dậy, ra phía tường, lục lọi một lúc, mang lại một chiếc áo khoác cũ.

— Đây, ông nói, tuy là đồ cũ, nhưng cũng dùng để quấn cho cháu được.

Người đàn bà nhìn chiếc áo, nhìn ông già, cầm lấy chiếc áo rồi bật khóc. A-vơ-đê-ích cũng quay mặt đi. Ông chui xuống gầm giường, kéo cái hòm nhỏ ra, lục lọi trong đó, rồi lại ngồi xuống trước mặt người đàn bà.

Người đàn bà nói:

— Cầu Chúa cứu rỗi bác, ông ơi, chắc là Người đã đưa tôi đến dưới cửa sổ nhà bác. Không thì con tôi chết cóng mất. Lúc tôi ra đi, trời còn ấm, thế mà giờ trở rét căm căm thế này. Chính Người đã khiến bác nhìn ra cửa sổ, mà thương lấy tôi, con người khốn khổ này.

A-vơ-đê-ích mỉm cười, nói:

— Đúng là Người khiến thế đấy. Tôi nhìn ra cửa sổ không phải vô cớ đâu, chị ạ.

Và Mác-tin kể cho cả chị vợ lính nghe giấc mơ của mình, kể ông đã nghe tiếng nói ra sao, rằng hôm nay Chúa hứa sẽ đến thăm ông.

— Cái gì cũng có thể xảy ra, người đàn bà nói. Chị đứng dậy, khoác chiếc áo, quấn con vào, rồi cúi chào, lại cảm ơn A-vơ-đê-ích.

— Vì Chúa, chị cầm lấy cái này, A-vơ-đê-ích nói, rồi đưa chị hai hào để chuộc cái khăn. Người đàn bà làm dấu thánh, A-vơ-đê-ích cũng làm dấu thánh, rồi tiễn chị ra.

Người đàn bà đi rồi, A-vơ-đê-ích ăn xúp, dọn dẹp, rồi lại ngồi làm việc. Ông làm, mà vẫn nhớ đến cửa sổ. Hễ cửa sổ tối đi là ông lại ngước lên xem ai đi qua. Có người quen đi qua, có người lạ đi qua, nhưng chẳng có ai đặc biệt.

Rồi A-vơ-đê-ích thấy ngay trước cửa sổ nhà mình, một bà già bán hàng dừng lại. Bà xách một cái thúng đựng táo. Chỉ còn ít táo, chắc là bà đã bán gần hết, còn trên vai thì bà vác một bao dăm bào. Chắc bà nhặt được ở một công trình nào đó, đang mang về nhà. Nhưng hình như cái bao đè nặng vai bà, bà muốn chuyển sang vai bên kia. Bà đặt bao xuống vỉa hè, để thúng táo lên một cái cột nhỏ, rồi lắc lắc cho dăm bào trong bao lèn xuống. Trong lúc bà đang lắc bao, chẳng biết từ đâu, một thằng bé đội cái mũ lưỡi trai rách chạy tới, chộp một quả táo trong thúng, định lẩn đi, nhưng bà già đã kịp thấy, quay lại túm được tay áo thằng bé. Thằng bé giãy giụa, định giằng ra, nhưng bà già ôm chặt lấy nó bằng cả hai tay, hất văng cái mũ của nó, rồi túm lấy tóc nó. Thằng bé la, bà già chửi. A-vơ-đê-ích chẳng kịp cắm cái dùi, vứt luôn xuống sàn, lao ra cửa, vấp cả trên cầu thang, đánh rơi cả kính. A-vơ-đê-ích chạy ra phố. Bà già đang túm tóc thằng bé mà giật, vừa mắng, vừa đòi dẫn nó đến đồn cảnh sát. Thằng bé chống cự, chối phăng.

— Tôi không lấy, nó nói, sao bà lại đánh tôi, thả tôi ra.

A-vơ-đê-ích tách hai người ra, cầm tay thằng bé mà nói:

— Bà ơi, thả nó ra, vì Chúa mà tha cho nó!

— Tôi sẽ tha cho nó một trận để nó nhớ đến tận Tết sang năm. Tôi sẽ lôi cái thằng ranh này lên đồn cảnh sát.

A-vơ-đê-ích nài nỉ bà già:

— Bà ơi, ông nói, bà thả nó ra, rồi nó không dám nữa đâu. Vì Chúa mà thả nó ra!

Bà già thả thằng bé ra, nó định chạy, nhưng A-vơ-đê-ích giữ nó lại.

— Xin lỗi bà đi, ông nói. Mà từ nay đừng làm thế nữa, ông trông thấy cháu lấy rồi.

Thằng bé bật khóc, xin bà già tha lỗi.

— Thế, thế là được. Còn bây giờ thì quả táo đây, cho cháu này.

Rồi A-vơ-đê-ích lấy một quả táo trong thúng đưa cho thằng bé.

— Để tôi trả tiền, bà ạ, ông nói với bà già.

— Ông chiều thế thì hư hết bọn ranh con này, bà già nói. Phải thưởng cho nó một trận để cả tuần không ngồi xuống được mới phải.

— Ôi, bà ơi là bà, A-vơ-đê-ích nói. Theo lối của chúng ta thì là như thế, nhưng theo lối của Chúa thì không phải thế. Một quả táo mà phải đánh đòn nó, thì chúng ta với bao nhiêu tội lỗi của mình còn phải chịu những gì nữa?

Bà già im lặng.

Và A-vơ-đê-ích kể cho bà già nghe dụ ngôn về một ông chủ đã tha cho người tá điền món nợ lớn, thế mà người tá điền ấy lại đi bóp cổ kẻ nợ mình. Bà già nghe, thằng bé cũng đứng nghe.

— Chúa dạy phải tha thứ, A-vơ-đê-ích nói, không thì chúng ta cũng chẳng được tha. Phải tha thứ cho mọi người, mà kẻ dại dột lại càng phải tha.

Bà già lắc đầu, thở dài.

— Thì cũng phải, bà già nói, nhưng bọn chúng hư lắm rồi.

— Thì chính người già chúng ta phải dạy bảo chúng, A-vơ-đê-ích nói.

— Tôi cũng nói thế đấy, bà già nói. Tôi có những bảy đứa con, giờ chỉ còn một đứa con gái.

Rồi bà già kể mình sống với con gái ở đâu, thế nào, có bao nhiêu đứa cháu.

— Đấy, bà nói, sức tôi chỉ còn thế, mà vẫn phải làm lụng. Thương bọn trẻ, thương lũ cháu, mà lũ cháu cũng ngoan lắm. Chẳng ai ra đón tôi như chúng nó. Con bé A-xiu-tca ấy, nó chẳng chịu theo ai, cứ bám lấy tôi. Bà ơi, bà yêu quý của cháu ơi… Thế là bà già mềm lòng hẳn.

— Biết rồi, trẻ con mà. Thôi, Chúa phù hộ cho nó, bà già nói về thằng bé.

Bà vừa định nhấc bao lên vai thì thằng bé chạy lại, nói:

— Bà để cháu vác cho, cháu cũng đi đường ấy. Bà già lắc đầu, rồi đặt cái bao lên vai thằng bé.

Thế là hai bà cháu đi bên nhau trên phố. Bà già quên cả đòi A-vơ-đê-ích tiền quả táo. A-vơ-đê-ích đứng nhìn theo mãi, và nghe hai bà cháu vừa đi vừa trò chuyện không ngớt.

Tiễn họ đi rồi, A-vơ-đê-ích quay về, thấy kính rơi trên cầu thang mà không vỡ, nhặt cái dùi lên rồi lại ngồi làm việc. Làm được một lúc thì ông đã xâu sợi lông cứng vào lỗ không trúng nữa, và ông thấy người thắp đèn đi qua để thắp đèn đường. "Chắc phải thắp đèn thôi," ông nghĩ, bèn chỉnh lại ngọn đèn, treo lên, rồi lại làm tiếp. Ông làm xong hẳn một chiếc giày, xoay đi xoay lại ngắm nghía: được. Ông xếp dụng cụ, quét những mẩu da vụn, dọn sợi lông, đầu chỉ, mấy cái dùi, gỡ ngọn đèn xuống đặt lên bàn, rồi lấy cuốn Phúc Âm trên giá xuống. Ông định mở sách ra ở chỗ hôm qua ông đã đánh dấu bằng một mẩu da dê, nhưng sách lại mở ra ở chỗ khác. Vừa mở cuốn Phúc Âm, A-vơ-đê-ích lại nhớ đến giấc mơ đêm qua. Vừa nhớ ra, ông bỗng nghe như có ai cựa mình, có tiếng chân bước sau lưng mình. A-vơ-đê-ích quay lại, thấy như có người đứng trong góc tối. Có người đứng đấy, nhưng ông không nhận ra là ai. Và một giọng nói thì thầm bên tai ông:

— Mác-tin! Này Mác-tin. Con không nhận ra Ta sao?

— Ai cơ ạ? A-vơ-đê-ích thốt lên.

— Ta đây, giọng nói đáp. Chính là Ta đây.

Và từ trong góc tối, Xtê-pa-nứt bước ra, mỉm cười, rồi tan đi như một đám mây nhỏ, chẳng còn nữa…

— Đây cũng là Ta, giọng nói lại cất lên.

Và từ trong góc tối, người đàn bà bế đứa con bước ra. Người đàn bà mỉm cười, đứa bé bật cười, rồi cũng biến mất.

— Đây cũng là Ta, giọng nói lại cất lên.

Và bà già cùng thằng bé cầm quả táo bước ra, cả hai cùng mỉm cười, rồi cũng biến mất.

Lòng A-vơ-đê-ích tràn ngập niềm vui. Ông làm dấu thánh, đeo kính vào, rồi đọc cuốn Phúc Âm ở đúng chỗ sách tự mở ra. Ở đầu trang, ông đọc:

— Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn. Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống. Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước Ta…

Và ở cuối trang, ông đọc thêm:

— Mỗi lần các ngươi làm điều ấy cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.

Đó là chương hai mươi lăm sách Phúc Âm của thánh Ma-thi-ơ.

Và A-vơ-đê-ích hiểu rằng giấc mơ đã không lừa dối ông, rằng đúng là hôm nay Đấng Cứu Thế của ông đã đến thăm ông, và đúng là ông đã đón tiếp Người.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1885
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Где любовь, там и Бог, 1885
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →