Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Chàng Ôm Cầu và Kẻ Ác

Chàng Ôm Cầu và Kẻ Ác · Chương 1/2 · của Andrew Lang

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 12.032 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Xa, xa tít trong rừng sâu có hai túp…
  2. 2:27Muốn được thần linh ban cho sức mạnh và…
  3. 3:05Cậu bé lại nằm xuống tấm da bò rừng,…
  4. 4:02Vâng thưa bà, — cậu bé đáp, — các…
  5. 6:37Làm thế nào bây giờ? Kêu thét thật ghê…
  6. 8:22Ôm Cầu biết lần này không thể nào thoát…
  7. 9:00Coi chừng đừng để nó chạy mất, — hắn…
  8. 10:19Nồi nước chẳng mấy chốc đã reo lên, sủi…

Chương 1: Chàng Ôm Cầu và Kẻ Ác

Xa, xa tít trong rừng sâu có hai túp lều nhỏ. Mỗi túp lều có một người đàn ông là tay thợ săn nổi tiếng, cùng vợ và ba bốn đứa con. Bọn trẻ bị cấm không được chơi xa cửa nhà, vì ai cũng biết ở mãi bên kia khu rừng, gần con sông lớn, có một mụ phù thuỷ. Mụ có một quả cầu thần, và mụ dùng nó để bắt trộm trẻ con.

Cách của mụ rất đơn giản, mà chưa lần nào hỏng. Muốn bắt đứa trẻ nào, mụ chỉ việc ném quả cầu về phía nhà đứa trẻ ấy. Xa đến đâu chăng nữa, quả cầu cũng tới nơi. Đứa trẻ vừa trông thấy thì quả cầu bắt đầu lăn chầm chậm ngược về phía mụ, lúc nào cũng chỉ cách đứa trẻ một quãng ngắn, khiến nó tưởng chỉ một chút nữa là chộp được. Nhưng chẳng bao giờ nó chộp được cả. Và cha mẹ nó cũng chẳng bao giờ còn thấy mặt nó nữa.

Đừng tưởng những ông bố bà mẹ mất con không hề đi tìm. Nhưng khu rừng rộng mênh mông, mụ phù thuỷ lại tinh ranh, biết trước người ta sẽ tìm ở đâu, nên tránh mặt họ thật dễ dàng. Vả lại, người ta cũng nghĩ có khi bọn trẻ đã bị sói ăn thịt, vì mùa đông từng đàn sói lớn vẫn lang thang khắp vùng.

Một hôm, mụ phù thuỷ già muốn có một cậu bé, bèn ném quả cầu về phía hai túp lều của những người thợ săn. Có một cậu bé đang đứng bên ngoài tập bắn cung. Quả cầu làm bằng thuỷ tinh, những sắc xanh lam, xanh lục, trắng đục như phủ sương cứ đổi qua đổi lại không ngừng. Vừa trông thấy nó, cậu quăng cung xuống, cúi xuống nhặt. Nhưng đúng lúc ấy quả cầu bắt đầu lăn nhè nhẹ xuống dốc.

Nó ở ngay sát bên, cậu đâu nỡ để nó lăn mất, thế là cậu đuổi theo. Quả cầu lúc nào cũng như nằm trong tầm tay, vậy mà cậu chẳng sao bắt được. Nó lăn mỗi lúc một nhanh, cậu bé mỗi lúc một hăng. Lần này suýt nữa thì chạm được rồi. Không, trượt mất, chỉ cách có một sợi tóc! Bây giờ mà nhảy một cái thật xa thì chắc chắn sẽ vượt lên trước nó! Cậu nhún người nhảy tới, vấp chân ngã sấp, và thấy mình đang nằm trong nhà mụ phù thuỷ!

— Chào cháu! Chào cháu của bà! — mụ nói. — Đứng dậy nghỉ ngơi đi, cháu đi một quãng đường dài, bà biết cháu mệt lắm rồi!

Cậu bé ngồi xuống, ăn món mụ đưa cho trong một cái bát. Món ăn chẳng giống bất cứ thứ gì cậu từng nếm, và cậu thấy ngon tuyệt. Khi cậu đã ăn sạch không sót một miếng, mụ phù thuỷ hỏi cậu đã bao giờ nhịn ăn chưa.

— Chưa ạ, — cậu bé đáp, — hay đúng hơn là có lúc cháu phải nhịn, nhưng hễ có cái ăn là cháu không nhịn bao giờ.

— Muốn được thần linh ban cho sức mạnh và trí khôn thì cháu phải nhịn ăn. Bắt đầu càng sớm càng tốt.

— Vâng ạ, — cậu bé nói. — Trước tiên cháu phải làm gì?

— Nằm xuống mấy tấm da bò rừng cạnh cửa lều kia, — mụ đáp.

Cậu bé nằm xuống. Lũ sóc, lũ gấu con và chim chóc kéo đến trò chuyện với cậu.

Hết mười ngày, bà lão mang tới một bát đồ ăn giống hệt lần trước.

— Dậy đi cháu, cháu nhịn đủ lâu rồi. Các thần linh tốt lành đã đến thăm cháu chưa, đã ban cho cháu sức mạnh và trí khôn cháu mong muốn chưa?

— Một vài vị đã đến và ban cho cháu một phần cả hai thứ, — cậu bé đáp, — nhưng còn nhiều vị chưa chịu đến.

— Thế thì, — mụ nói, — cháu phải nhịn thêm mười ngày nữa.

Cậu bé lại nằm xuống tấm da bò rừng, nhịn ăn mười ngày. Hết mười ngày, cậu quay mặt vào vách, nhịn thêm hai mươi ngày nữa. Cuối cùng mụ phù thuỷ gọi:

— Dậy ăn chút gì đi cháu.

Nghe tiếng mụ, cậu bé ngồi dậy ăn món mụ đưa. Cậu ăn sạch rồi, mụ lại hỏi như lần trước:

— Nói bà nghe nào, suốt bao nhiêu ngày cháu nhịn ăn, các thần linh tốt lành đã đến thăm cháu cả chưa?

— Chưa hết đâu bà ạ, — cậu đáp. — Vẫn còn mấy vị tránh mặt cháu, bảo cháu nhịn chưa đủ lâu.

— Thế thì cháu phải nhịn nữa, — bà lão đáp, — nhịn mãi cho tới khi nhận được quà của tất cả các thần linh tốt lành. Thiếu một vị cũng không được.

Cậu bé không nói gì, nằm xuống tấm da bò rừng lần thứ ba và nhịn thêm hai mươi ngày nữa. Hết hai mươi ngày ấy, mụ phù thuỷ tưởng cậu đã chết, vì mặt cậu trắng bệch và người nằm im phăng phắc. Nhưng được mụ đút cho ăn từ cái bát, cậu khoẻ dần lên, chẳng bao lâu đã ngồi dậy được.

— Cháu đã nhịn ăn rất lâu, — mụ nói, — lâu hơn bất cứ ai từng nhịn. Chắc giờ các thần linh tốt lành đã vừa lòng rồi chứ?

— Vâng thưa bà, — cậu bé đáp, — các vị đã đến đủ cả, và ai cũng ban quà cho cháu.

Bà lão mừng lắm, mang cho cậu một bát đồ ăn nữa. Trong lúc cậu ăn, mụ kể chuyện, và mụ nói thế này:

— Xa lắm, ở bên kia con sông lớn, là nhà của Kẻ Ác. Trong nhà hắn có rất nhiều vàng. Lại có một thứ còn quý hơn cả vàng, là một chiếc cầu nhỏ. Kẻ Ác chỉ cần vẫy tay là chiếc cầu dài ra, nên chẳng có sông biển nào hắn không qua được. Bà muốn có chiếc cầu ấy và một ít vàng. Vì thế mà bà đã dùng quả cầu bắt bao nhiêu cậu bé về đây. Bà đã cố dạy chúng cách được thần linh ban quà, nhưng chẳng đứa nào chịu nhịn ăn cho đủ lâu, rốt cuộc bà phải cho chúng đi làm những việc lặt vặt dễ dàng. Còn cháu thì vừa khoẻ vừa bền chí, cháu làm được việc này nếu cháu nghe lời bà! Tới bờ sông, cháu buộc quả cầu này vào chân, nó sẽ đưa cháu sang bờ bên kia. Không có cách nào khác đâu. Nhưng đừng sợ. Cứ tin vào quả cầu, cháu sẽ được an toàn!

Cậu bé cầm quả cầu bỏ vào túi. Rồi cậu làm cho mình một cây chùy, một cây cung và mấy mũi tên. Tên của cậu bay xa hơn tên của bất cứ ai, nhờ sức mạnh các thần linh đã ban. Các thần linh còn cho cậu phép biến hình, và làm cho mắt cậu tinh hơn, tai cậu thính hơn, không gì lọt qua được. Bằng cách nào đó, các vị cũng cho cậu hiểu rằng nếu cần giúp thêm, các vị sẽ giúp.

Sửa soạn xong xuôi, cậu bé từ biệt mụ phù thuỷ lên đường. Cậu đi xuyên rừng nhiều ngày liền, chẳng gặp ai ngoài mấy người bạn sóc, gấu và chim. Cậu dừng lại chuyện trò với tất cả, nhưng giữ ý không để chúng biết mình đi đâu.

Đi mãi, đi mãi, rồi cậu tới bờ sông. Bên kia sông có một túp lều nhỏ trên đồi, cậu đoán đó là nhà Kẻ Ác. Nhưng dòng nước chảy xiết quá, cậu không biết làm sao qua được. Muốn thử xem nước xiết đến đâu, cậu bẻ một cành cây ném xuống. Cành cây vừa chạm mặt nước đã bị cuốn phăng, đến mắt thần của cậu cũng không dõi theo kịp.

Cậu không khỏi thấy sợ. Nhưng cậu ghét nhất là bỏ dở việc mình đã nhận. Thế là cậu buộc quả cầu vào chân phải, liều bước xuống sông. Lạ thay, cậu đứng vững được trên mặt nước! Rồi một cơn hoảng hốt ập tới, cậu lại trèo vội lên bờ. Một lát sau, cậu lấy lại can đảm, bước ra xa hơn một chút. Nhưng lòng sông rộng quá làm cậu chùn bước, lần thứ hai cậu quay vào. Rồi cậu thấy xấu hổ vì mình nhát gan, vì rõ ràng quả cầu đỡ được cậu. Đến lần thứ ba, cậu sang được bờ bên kia bình an.

Sang tới nơi, cậu cất quả cầu vào túi rồi nhìn quanh thật kỹ. Cửa lều Kẻ Ác để ngỏ. Cậu thấy trần nhà được đỡ bằng những cây xà gỗ lớn, trên xà treo những túi vàng và chiếc cầu nhỏ. Cậu thấy cả Kẻ Ác ngồi giữa đống của cải, đang ăn tối và uống thứ gì đó trong một cái sừng. Cậu hiểu ngay rằng phải nghĩ ra mẹo gì đó đuổi Kẻ Ác đi chỗ khác, nếu không thì đừng hòng lấy được vàng hay chiếc cầu.

Làm thế nào bây giờ? Kêu thét thật ghê rợn như đang đau đớn? Nhưng Kẻ Ác nào thèm quan tâm cậu có bị giết hay không! Gọi tên hắn? Nhưng Kẻ Ác tinh ranh lắm, hắn sẽ ngờ là có mưu. Phải nghĩ ra cách gì hay hơn thế! Rồi bỗng một ý nảy ra trong đầu, cậu nhảy cẫng lên vì mừng.

— Ôi, sao mình ngốc thế, không nghĩ ra từ trước! — cậu nói.

Cậu dốc hết lòng ước cho Kẻ Ác thật đói, đói đến mức không đợi nổi một khắc để người ta mang đồ ăn mới tới. Quả nhiên, ngay lúc ấy Kẻ Ác quát gọi đứa hầu:

— Mày mang ra chỗ đồ ăn chẳng đủ cho con chim sẻ no! Đi lấy thêm ngay, tao đói muốn chết rồi đây.

Rồi chẳng đợi mụ hầu kịp đi tới chạn, hắn tự đứng dậy khỏi ghế, lảo đảo vì đói, lăn lết về phía bếp.

Cánh cửa vừa đóng sau lưng Kẻ Ác, cậu bé chạy ào vào, kéo một túi vàng trên xà xuống, kẹp vào nách trái. Rồi cậu tháo chiếc cầu nhỏ, kẹp vào nách phải. Cậu không tìm cách bỏ chạy như phần lớn những đứa trẻ bằng tuổi sẽ làm. Trí khôn thần linh đặt vào đầu cậu bảo cậu rằng, chưa kịp tới bờ sông dùng chiếc cầu thì Kẻ Ác đã lần theo dấu chân mà đuổi kịp rồi. Thế là cậu thu mình lại thật nhỏ, thật gầy, trốn sau đống da bò rừng ở góc nhà. Trước khi trốn, cậu xé một khe hở trên một tấm da để nhìn ra ngoài.

Cậu vừa ngồi yên chỗ thì mụ hầu bước vào. Đúng lúc ấy, túi vàng cuối cùng trên xà rơi xuống đất, vì từ lúc cậu lấy túi đầu tiên thì các túi còn lại cứ lần lượt rơi. Mụ kêu lên với chủ rằng có kẻ đã lấy trộm cả túi vàng lẫn chiếc cầu. Kẻ Ác lồng lộn chạy vào, bảo mụ ra ngoài tìm dấu chân xem tên trộm đi đường nào. Mấy phút sau mụ quay vào, bảo tên trộm chắc còn trong nhà, vì không thấy dấu chân nào dẫn ra bờ sông. Rồi mụ lật tung đồ đạc trong phòng, mà không tìm thấy cậu bé. Cậu bé ấy về sau được người ta gọi là Ôm Cầu.

— Nhưng nó phải ở đâu đây thôi, — mụ lẩm bẩm, lật đống da bò rừng ra xem lần thứ hai.

Ôm Cầu biết lần này không thể nào thoát được nữa, vội ước cho Kẻ Ác lúc này không ăn thêm được gì.

— A, tấm này có một khe hở, — mụ hầu kêu lên, giũ tấm da. — Nó đây rồi.

Mụ lôi Ôm Cầu ra. Trông cậu gầy gò, bé xíu, chẳng đủ cho con chim sẻ ăn một miếng.

— Có phải mày lấy vàng và chiếc cầu của tao không? — Kẻ Ác hỏi.

— Phải, — Ôm Cầu đáp, — chính tôi lấy.

Kẻ Ác ra hiệu cho mụ hầu. Mụ hỏi cậu giấu chúng ở đâu. Cậu giơ cánh tay trái lên, chỗ kẹp vàng. Mụ cầm dao cạo da cậu, để không còn chút vàng nào dính lại.

— Còn chiếc cầu, mày để đâu? — mụ hỏi.

Cậu giơ cánh tay phải lên, mụ lấy chiếc cầu ra. Kẻ Ác đứng nhìn, khoái chí lắm.

— Coi chừng đừng để nó chạy mất, — hắn cười khùng khục. — Đun nước đi, sửa soạn để nấu nó. Tao đi mời các bạn tao là lũ quỷ nước đến dự tiệc.

Mụ hầu cặp Ôm Cầu giữa ngón cái và ngón trỏ, định mang vào bếp. Thì cậu bé lên tiếng:

— Bây giờ tôi gầy gò bé tí, chẳng bõ công nấu. Nhưng nếu ông giữ tôi hai ngày, cho ăn thật nhiều, tôi sẽ to béo ngay. Chứ như thế này, các bạn quỷ nước của ông thấy món tiệc là tôi, lại tưởng ông định chế giễu họ.

— Ừ, có lẽ mày nói phải, — Kẻ Ác đáp. — Tao sẽ giữ mày hai ngày.

Rồi hắn ra ngoài đi thăm lũ quỷ nước.

Trong khi đó, mụ hầu, tên là Mụ Lung, dắt cậu vào một cái chái nhỏ, xích vào một cái vòng trên tường. Nhưng cứ mỗi giờ cậu lại được cho ăn. Hết hai ngày, cậu đã to béo như con gà tây ngày lễ, cổ ngoẹo sang bên này bên kia cũng khó.

— Thế được rồi đấy, — Kẻ Ác nói. Hắn vẫn thường xuyên ghé vào xem cậu béo lên tới đâu. — Tao đi báo lũ quỷ nước tối nay đến ăn cỗ. Bắc nồi lên bếp đi, nhưng nhớ là tuyệt đối không được nếm nước dùng.

Mụ Lung vội vàng làm theo. Mụ cời lửa, vì lửa đã gần tàn, đổ đầy nước vào nồi, luồn một sợi dây treo từ trần nhà qua quai nồi, treo lủng lẳng trên ngọn lửa. Rồi mụ dắt Ôm Cầu vào. Thấy mọi thứ đã sửa soạn đâu vào đấy, cậu bé ước cho nước, chừng nào cậu còn ở trong nồi, thì chỉ reo xèo xèo, sủi lục bục, chứ không sôi thật, và ước cho các thần linh biến nước thành mỡ.

Nồi nước chẳng mấy chốc đã reo lên, sủi lục bục, và Ôm Cầu bị nhấc bỏ vào. Một lát sau lớp mỡ để làm nước xốt nổi lên mặt nồi. Ôm Cầu dập dềnh bên này bên kia, gọi to bảo Mụ Lung nên nếm thử nước dùng, vì cậu nghĩ phải nêm thêm ít muối. Mụ hầu biết rõ chủ đã cấm làm thế. Nhưng ý nghĩ ấy đã chui vào đầu rồi thì mùi thơm bốc lên từ nồi ngon quá, mụ bèn gỡ cái môi cán dài trên tường xuống, thọc vào nồi.

— Đứng xa thế thì đổ hết mất, — cậu bé nói. — Sao không lại gần hơn chút nữa?

Mụ vừa bước lại gần, cậu liền kêu các thần linh cho mình trở lại vóc người và sức lực như cũ, và cho nước nóng bỏng lên. Rồi cậu đạp đổ cái nồi, cả nồi nước sôi trút lên người mụ. Cậu nhảy qua người mụ, chộp lại túi vàng và chiếc cầu, nhặt chùy, cung và tên, châm lửa đốt lều Kẻ Ác, rồi chạy xuống bờ sông. Nhờ chiếc cầu, cậu qua sông an toàn.

Túp lều làm bằng gỗ, cháy rụi trước khi Kẻ Ác dẫn một đám đông quỷ nước trở về. Chẳng còn bóng người, chẳng còn vật gì. Hắn chạy ra bờ sông, thấy Ôm Cầu đang ngồi thảnh thơi bên kia. Bấy giờ Kẻ Ác mới hiểu chuyện gì đã xảy ra. Hắn bảo lũ quỷ nước rằng chẳng có tiệc tùng gì nữa đâu, rồi gọi với sang Ôm Cầu, lúc ấy đang ngồi ăn một quả táo.

— Giờ thì tao biết tên mày rồi, — hắn nói. — Mày đã làm tao khánh kiệt, tao chẳng còn giàu có gì nữa. Mày có nhận tao làm đầy tớ không?

— Được thôi, dù ông đã định giết tôi, — Ôm Cầu đáp, vừa nói vừa quăng chiếc cầu bắc ngang dòng nước.

Nhưng khi Kẻ Ác ra tới giữa dòng, cậu bé ước cho chiếc cầu thu nhỏ lại. Kẻ Ác rơi tõm xuống nước, chết đuối, và thế gian thoát khỏi hắn.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chàng Ôm Cầu và Kẻ Ác

  1. 1Chàng Ôm Cầu và Kẻ Ác11 phút
  2. 2Ôm Cầu làm trọn việc mìnhĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện kể của người da đỏ Bắc Mỹ, theo tư liệu của Cục Dân tộc học Hoa Kỳ; dịch từ bản tiếng Anh Ball-carrier and the Bad One và How Ball-carrier Finished His Task do bà Leonora Lang kể lại, Andrew Lang, The Brown Fairy Book, 1904
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →