Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chương một. Bến phà sông Cu-ban

Ông Ác-khíp và bé Li-ôn-ca · Chương 1/2 · của Maxim Gorky

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 21.258 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Chờ phà, hai ông cháu nằm trong bóng râm…
  2. 4:03Thôi!… Li-ôn-ca kéo dài giọng ra chiều hiểu biết.…
  3. 6:45Nói rồi cái gì? Cháu còn dại lắm, chưa…
  4. 10:21Chào các người! Người vừa tới nói ồm ồm…
  5. 12:01Thế rượu à? Tôi không chở rượu.
  6. 14:48Đứng dậy đi ông, tôi chỉ nhà tôi cho,…
  7. 16:49Tai nó vẫn còn nghe những nốt nhạc run…
  8. 20:21Bạn ra khỏi đường đi chứ! Thôi đừng khóc…

Chương 1: Chương một. Bến phà sông Cu-ban

Chờ phà, hai ông cháu nằm trong bóng râm của bờ dốc, im lặng nhìn rất lâu những con sóng nhanh và đục của sông Cu-ban dưới chân mình. Li-ôn-ca thiu thiu ngủ, còn ông Ác-khíp thấy ngực đau âm ỉ, đè nặng, không sao ngủ được. Trên nền đất nâu sẫm, hai cái dáng người rách rưới, co quắp chỉ nổi lên lờ mờ như hai cục khốn khổ, một to, một nhỏ, những khuôn mặt mệt mỏi, rám nắng, bụi bặm hoàn toàn cùng màu với những mảnh áo rách nâu xỉn.

Dáng người xương xẩu, dài ngoẵng của ông Ác-khíp duỗi ngang trên một dải cát hẹp. Dải cát chạy như một dải băng vàng dọc bờ sông, giữa bờ dốc và dòng nước. Li-ôn-ca nằm co tròn như con mèo bên cạnh ông. Li-ôn-ca bé nhỏ, mảnh khảnh, trong bộ áo rách trông như một cái cành khẳng khiu gãy ra từ ông nội, một cái cây già khô héo mà sóng sông đã cuốn tới rồi ném lên bãi cát này.

Ông nhổm đầu tựa trên khuỷu tay, nhìn sang bờ bên kia ngập nắng, viền nghèo nàn bằng mấy bụi liễu thưa thớt. Từ trong bụi thò ra mạn đen của chiếc phà. Bên ấy buồn tẻ, trống vắng. Một dải đường xám từ bờ sông chạy sâu vào thảo nguyên, thẳng một cách tàn nhẫn, khô khốc, gợi nỗi chán chường.

Đôi mắt đục mờ, viêm đỏ, mi sưng húp của ông lão chớp chớp bồn chồn, còn khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn đọng lại một vẻ sầu muộn mỏi mòn. Ông chốc chốc lại ho kìm, nhìn sang đứa cháu, lấy tay che miệng. Cơn ho khàn đặc, nghẹt thở, khiến ông phải nhổm dậy khỏi mặt đất, và vắt ra trên mắt ông những giọt nước mắt to.

Ngoài tiếng ho của ông và tiếng sóng khe khẽ sột soạt trên cát, thảo nguyên không có âm thanh nào… Nó trải ra hai bên bờ sông, mênh mông, nâu xỉn, bị nắng thiêu cháy, và chỉ ở tít đằng xa nơi chân trời, mắt người già khó khăn lắm mới nhìn thấy, một biển lúa mì vàng óng dập dờn tươi tốt, bầu trời chói loà rơi thẳng xuống đó. Trên nền trời nổi lên ba dáng cây dương thanh mảnh xa xa. Tưởng như chúng lúc thì thấp đi, lúc lại cao lên, còn bầu trời và lúa mì bị trời phủ lên thì chao đảo, nhô lên hạ xuống. Rồi bỗng tất cả khuất sau một tấm màn bạc lấp lánh của ảo ảnh thảo nguyên…

Tấm màn ấy, gợn như dòng chảy, sáng loá và đánh lừa người ta, đôi khi từ xa tràn tới gần sát bờ sông, và khi ấy chính nó như một dòng sông bỗng từ trời đổ xuống, cũng trong và lặng như trời.

Những lúc ấy ông Ác-khíp, không biết hiện tượng này là gì, lại dụi mắt, buồn rầu nghĩ bụng cái nóng và thảo nguyên này đang lấy mất của ông cả đôi mắt, như đã lấy mất chút sức tàn trong đôi chân.

Hôm nay ông thấy trong người tệ hơn mọi hôm dạo gần đây. Ông cảm thấy mình sắp chết. Dẫu ông coi chuyện ấy hoàn toàn dửng dưng, chẳng nghĩ ngợi, như một nghĩa vụ phải làm, nhưng ông vẫn muốn được chết ở xa, không phải ở đây, mà ở quê nhà. Lại còn ý nghĩ về đứa cháu làm ông bối rối lắm… Rồi Li-ôn-ca sẽ đi đâu?…

Mỗi ngày ông tự hỏi câu ấy mấy lần, và lần nào cũng thấy trong lòng có cái gì thắt lại, lạnh đi, buồn nôn đến mức ông chỉ muốn quay về nhà ngay lập tức, về nước Nga…

Nhưng đường về Nga xa lắm… Đằng nào cũng chẳng tới nơi, sẽ chết dọc đường đâu đó. Ở đây dọc sông Cu-ban người ta bố thí rộng rãi. Dân ở đây khá giả cả, tuy khó tính và hay chế giễu. Họ không ưa người ăn xin, vì họ giàu…

Dừng đôi mắt ngấn lệ trên đứa cháu, ông thận trọng đưa bàn tay ráp vuốt đầu nó.

Thằng bé cựa mình, ngước lên nhìn ông đôi mắt xanh, to, sâu, trầm tư không như trẻ con, càng to hơn trên khuôn mặt nhỏ gầy rỗ hoa, đôi môi mỏng không chút máu, cái mũi nhọn.

— Phà sang chưa ông? Nó hỏi, đưa tay lên che mắt, nhìn ra dòng sông đang hắt lại nắng.

— Chưa, chưa sang. Còn đứng đấy. Sang đây làm gì? Chẳng ai gọi, thì nó đứng đấy… Ác-khíp chậm rãi nói, vẫn vuốt đầu cháu. Cháu ngủ được không?

Li-ôn-ca lắc đầu không rõ ý, duỗi người trên cát. Hai ông cháu im lặng.

— Giá cháu biết bơi thì cháu tắm, Li-ôn-ca chăm chú nhìn dòng sông tuyên bố. Sông chảy xiết quá! Quê mình không có sông như thế. Nó vội vàng cái gì không biết? Chạy như sợ muộn…

Rồi Li-ôn-ca không bằng lòng quay mặt khỏi dòng nước.

— Thế này nhé, ông nghĩ một lúc rồi nói, ta cởi thắt lưng ra, buộc hai cái lại, ông buộc vào chân cháu, thế là cháu xuống mà tắm…

— Thôi!… Li-ôn-ca kéo dài giọng ra chiều hiểu biết. Ông nghĩ ra cái gì thế! Ông tưởng nó không lôi được ông xuống à? Rồi chết đuối cả hai.

— Ừ, đúng đấy! Nó lôi đi được. Xem nó chảy kìa… Chắc mùa xuân lũ về thì ghê lắm!… Mà đồng cỏ ở đây mênh mông! Đồng cỏ chẳng thấy bờ!

Li-ôn-ca không muốn nói chuyện, nó để mặc lời ông không đáp, cầm một cục đất sét khô lên, nghiêm trang, chăm chú bóp vụn ra thành bụi.

Ông nhìn nó, nheo mắt nghĩ ngợi điều gì.

— Ông này… Li-ôn-ca khẽ khàng nói đều đều, phủi bụi trên tay. Đất này bây giờ ấy… cháu cầm lên tay, bóp vụn, thế là thành bụi… chỉ còn những mảnh tí xíu, nhìn mãi mới thấy…

— Thì sao nào? Ác-khíp hỏi rồi ho, qua làn nước mắt nhìn vào đôi mắt to khô khốc sáng rực của đứa cháu. Cháu nói thế là sao? Ông hỏi thêm khi đã hết ho.

— Thì… Li-ôn-ca lắc đầu… Là vì cả cái đất này nó to thế kia!… Nó vung tay chỉ sang bên kia sông. Mà trên đó người ta xây bao nhiêu là thứ… Ông với cháu đi qua bao nhiêu thành phố rồi! Nhiều khiếp! Mà đâu cũng bao nhiêu là người!

Không nắm bắt được ý mình, Li-ôn-ca lại lặng im nghĩ ngợi, nhìn quanh.

Ông cũng im một lúc, rồi nhích sát vào cháu, âu yếm nói:

— Cháu khôn của ông! Cháu nói đúng, tất cả là bụi… thành phố cũng thế, người ta cũng thế, cả ông với cháu, chỉ là bụi thôi. Chà Li-ôn-ca ơi là Li-ôn-ca!… Giá cháu được biết chữ!… cháu sẽ đi xa lắm. Rồi đời cháu sẽ ra sao đây?…

Ông kéo đầu cháu vào lòng mà hôn.

— Khoan đã… Li-ôn-ca gỡ mái tóc màu lanh khỏi những ngón tay khẳng khiu run rẩy của ông, hơi phấn chấn lên, kêu lên. Ông nói sao? Bụi à? Thành phố với tất cả à?

— Chúa đã sắp đặt thế đấy, con bồ câu ạ. Mọi thứ đều là đất, mà đất thì là bụi. Mọi thứ trên đất đều chết… Thế đấy! Vì vậy con người phải sống trong lao động và nhẫn nhục. Ông đây rồi cũng sắp chết… ông nhảy sang chuyện khác, rồi buồn bã nói thêm: Rồi không có ông, cháu đi đâu?

Li-ôn-ca đã nghe ông hỏi câu này nhiều lần, nó đã chán bàn chuyện chết chóc lắm rồi. Nó lặng lẽ quay đi, nhổ một ngọn cỏ, bỏ vào miệng chậm rãi nhai.

Nhưng đó là chỗ đau của ông.

— Sao cháu im thế? Không có ông thì cháu sống thế nào? Ông khẽ hỏi, cúi xuống cháu, lại ho.

— Cháu nói rồi mà… Li-ôn-ca lơ đãng, không vui đáp, liếc nhìn ông.

Nó không thích những câu chuyện này còn vì chúng hay kết thúc bằng cãi nhau. Ông cứ nói mãi về cái chết đã gần kề của mình. Lúc đầu Li-ôn-ca chăm chú nghe, sợ hãi trước cái cảnh mới mẻ hiện ra trước mắt, rồi khóc, nhưng dần dần nó mệt, không nghe ông nữa, chìm vào những ý nghĩ của riêng mình. Ông nhận ra, liền giận, trách rằng Li-ôn-ca không thương ông, không quý những lo lắng của ông, và cuối cùng trách Li-ôn-ca muốn ông, ông nội nó, chết cho sớm.

— Nói rồi cái gì? Cháu còn dại lắm, chưa hiểu được đời cháu đâu. Cháu bao nhiêu tuổi? Mới lên mười. Lại còn yếu ớt, chẳng làm được việc gì. Cháu đi đâu được? Cháu tưởng người tốt sẽ giúp à? Giá cháu có tiền, thì họ sẽ giúp cháu tiêu hết số tiền ấy, đúng thế. Còn đi ăn xin thì chẳng sung sướng gì, đến ông, một ông già, cũng thấy thế. Phải cúi chào từng người, phải van từng người. Người ta chửi, có lúc còn đánh, rồi đuổi… Cháu tưởng người ta coi kẻ ăn xin là người à? Chẳng ai coi đâu! Mười năm nay ông đi ăn xin khắp thiên hạ, ông biết. Cho miếng bánh mà coi như đáng nghìn rúp. Cho xong là nghĩ cửa thiên đàng sắp mở cho mình rồi. Cháu tưởng người ta cho nhiều để làm gì? Để cho yên lương tâm của họ, thế đấy cháu ạ, chứ chẳng phải vì thương đâu! Dúi cho cháu miếng bánh, thế là chính họ ăn thì không thấy xấu hổ. Người no là con thú. Chẳng bao giờ nó thương người đói. Người no với người đói là kẻ thù của nhau, muôn đời làm cái gai trong mắt nhau. Vì thế mà không thể nào thương nhau, hiểu nhau được…

Ông hăng lên vì giận và buồn. Môi ông run run, đôi mắt già đục mờ đảo nhanh trong khung mi đỏ, và những nếp nhăn trên khuôn mặt sẫm màu hằn rõ hơn.

Li-ôn-ca không thích ông như thế, và có phần sợ sợ điều gì.

— Ông hỏi cháu đấy, cháu sẽ làm gì với thiên hạ? Cháu là đứa trẻ ốm yếu, còn thiên hạ là con thú dữ. Nó sẽ nuốt chửng cháu ngay. Mà ông không muốn thế… Ông thương cháu lắm, con ơi!… Ông chỉ có mình cháu, cháu chỉ có mình ông… Thế thì ông chết làm sao được? Ông không thể chết mà để cháu ở lại… Ở lại với ai?… Lạy Chúa!… Sao Chúa không thương kẻ tôi tớ của Chúa?! Sống thì không còn sức, chết thì không được, vì có đứa nhỏ, phải che chở nó. Bảy năm trời ông bế ẵm nó… trên đôi tay này… đôi tay già… Lạy Chúa, xin giúp con!…

Ông ngồi dậy rồi khóc, gục đầu vào hai đầu gối run run.

Dòng sông hối hả lăn đi xa, vỗ vào bờ vang vang, như muốn lấy tiếng vỗ của mình át đi tiếng nức nở của ông già. Bầu trời không một gợn mây mỉm cười rạng rỡ, rót xuống cái nóng bỏng rát, bình thản lắng nghe tiếng ồn nổi loạn của những con sóng đục.

— Thôi, đừng khóc nữa ông, Li-ôn-ca nhìn sang bên, nói bằng giọng nghiêm khắc, rồi quay mặt về phía ông, nói thêm: Mình nói hết chuyện ấy rồi còn gì. Cháu không chết đâu. Cháu sẽ vào làm ở một quán ăn nào đó…

— Người ta đánh chết cháu mất… ông rên lên qua làn nước mắt.

— Có khi không đánh chết. Mà nếu không đánh chết thì sao! Li-ôn-ca kêu lên có phần hăng hái. Cháu chẳng để đứa nào đánh đâu!…

Nhưng tới đây Li-ôn-ca bỗng chẳng hiểu sao ngừng lại, im một lúc rồi khẽ nói:

— Hoặc là cháu vào tu viện…

— Giá mà vào được tu viện! Ông thở dài, tươi lên, rồi lại bắt đầu quằn quại trong một cơn ho nghẹt thở.

Trên đầu họ vang lên tiếng la và tiếng bánh xe cót két…

— Phà ơi!… Phà ơi hơi! Một cái cổ họng khoẻ khoắn nào đó làm rung chuyển cả không khí.

Hai ông cháu nhảy dựng dậy, nhặt bị gậy.

Một chiếc xe ngựa hai bánh rít lên chói tai lăn xuống bãi cát. Trên xe có một người Cô-dắc đứng, ngửa đầu ra sau, cái mũ lông xù đội lệch một bên tai, đang chuẩn bị hét, há miệng hít vào thật nhiều không khí, khiến bộ ngực rộng ưỡn ra phía trước càng ưỡn thêm. Hàm răng trắng sáng loá trong khung râu đen mượt như lụa mọc tận tới đôi mắt đỏ ngầu. Từ dưới áo sơ mi phanh cúc và chiếc áo choàng vắt hờ trên vai lộ ra tấm thân đầy lông, rám nắng. Và từ cả cái dáng người vững chãi, to lớn của anh ta, cũng như từ con ngựa béo nục, lang lổ, cũng to lớn một cách dị dạng, từ những bánh xe cao bọc đai sắt dày, toát ra sự no đủ, sức mạnh, sức khoẻ.

— Hây!… Hây!…

Hai ông cháu bỏ mũ ra, cúi rạp xuống chào.

— Chào các người! Người vừa tới nói ồm ồm dứt khoát, rồi nhìn sang bờ bên kia, nơi chiếc phà đen đang chậm chạp, vụng về bò ra khỏi bụi liễu, anh ta bắt đầu chăm chú quan sát hai người ăn xin. Từ Nga sang à?

— Vâng ạ, thưa ân nhân! Ác-khíp cúi chào đáp.

— Bên ấy đói lắm hả?

Anh ta nhảy khỏi xe xuống đất, bắt đầu siết lại cái gì đó trên bộ yên cương.

— Đến gián còn chết đói đấy ạ.

— Hô hô! Đến gián cũng chết à? Vậy là đến vụn bánh cũng chẳng còn, ăn sạch rồi à? Các người ăn giỏi thế. Còn làm thì chắc dở lắm. Vì làm cho tốt thì đâu có đói.

— Thưa ông, nguyên nhân chính là ở đất. Đất không cho hạt. Chúng con hút kiệt đất rồi.

— Đất à? Người Cô-dắc lắc đầu. Đất lúc nào cũng phải cho hạt, đất được ban cho con người là vì thế. Phải nói thế này: không phải tại đất, mà tại tay. Tay kém. Tay giỏi thì đến đá cũng chẳng chối được, cũng phải cho hạt.

Chiếc phà sang tới.

Hai người Cô-dắc khoẻ mạnh, mặt đỏ gay, chống đôi chân to tướng xuống sàn phà, đánh rầm chiếc phà vào bờ, lảo đảo, buông dây thừng, nhìn nhau rồi thở phì phò.

— Nóng hả? Người vừa tới nhe răng cười, dắt ngựa lên phà, đưa tay chạm vào mũ.

— Ừ! Một người lái phà đáp, thọc sâu hai tay vào túi chiếc quần ống rộng, rồi tới bên chiếc xe, ngó vào trong, hít mạnh khịt khịt mũi.

Người kia ngồi xuống sàn, rên rỉ cởi ủng.

Ông và Li-ôn-ca bước lên phà, tựa vào mạn, nhìn mấy người Cô-dắc.

— Nào, đi thôi! Người chủ xe ra lệnh.

— Thế anh không mang theo cái gì để uống à? Người vừa xem xét chiếc xe hỏi. Bạn anh ta cởi xong ủng, nheo một mắt nhìn vào trong ống ủng.

— Chẳng có gì. Sao? Nước sông Cu-ban ít à?

— Nước!… Tôi đâu nói nước.

— Thế rượu à? Tôi không chở rượu.

— Sao anh lại không chở? Người vừa hỏi trầm ngâm, mắt nhìn xuống sàn phà.

— Thôi, thôi, đi nào!

Người Cô-dắc nhổ nước bọt vào hai bàn tay rồi nắm lấy dây thừng. Người khách sang sông cũng giúp một tay.

— Thế ông lão không giúp à? Người lái phà đang loay hoay với cái ủng hỏi ông Ác-khíp.

— Con làm sao nổi, anh ơi! Ông ngân nga giọng thảm thiết, lắc đầu.

— Mà cũng chẳng cần giúp họ. Một mình họ cũng xong!

Rồi như muốn cho ông thấy lời mình là thật, anh ta nặng nề quỳ xuống, rồi nằm dài ra sàn phà.

Bạn anh ta uể oải chửi anh ta một câu, không được trả lời, liền giậm chân thình thịch, tì chân vào sàn kéo dây.

Bị dòng nước đẩy, những con sóng vỗ trầm đục vào mạn, chiếc phà run lên, chòng chành, chầm chậm tiến về phía trước.

Nhìn xuống nước, Li-ôn-ca thấy đầu mình quay cuồng dễ chịu, đôi mắt mỏi vì nhìn những con sóng chạy nhanh díp lại buồn ngủ. Tiếng ông thì thầm trầm đục, tiếng dây thừng cót két và tiếng sóng vỗ róc rách ru nó ngủ. Nó đã muốn nằm xuống sàn trong cơn lả đi ngái ngủ, nhưng bỗng có cái gì xô nó một cái mạnh làm nó ngã.

Nó mở to mắt nhìn quanh. Mấy người Cô-dắc đang cười nó, buộc phà vào một gốc cây cháy dở trên bờ.

— Sao, ngủ gật à? Yếu ớt thế. Lên xe đi, tao chở tới làng. Cả ông nữa, lên đi.

Cố ý dùng giọng mũi thảm thiết cảm ơn người Cô-dắc, ông rên rỉ trèo lên xe. Li-ôn-ca cũng nhảy lên, và họ đi giữa những đám bụi đen mịn làm ông nghẹt thở mà ho.

Người Cô-dắc cất tiếng hát. Anh ta hát bằng những âm thanh lạ lùng, ngắt những nốt nhạc ở giữa rồi kết thúc chúng bằng tiếng huýt sáo. Tưởng như anh ta đang tháo những âm thanh ra từ một cuộn len như tháo sợi chỉ, và hễ gặp nút thắt là dứt đứt.

Bánh xe kêu cót két thảm thiết, bụi cuộn lên, ông lắc đầu ho không ngớt, còn Li-ôn-ca thì nghĩ rằng sắp tới làng rồi, và sẽ lại phải hát giọng mũi dưới các cửa sổ: “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô”… Lại sẽ có lũ trẻ trong làng trêu chọc nó, và mấy bà mấy cô quấy rầy hỏi han chuyện nước Nga. Những lúc ấy nhìn ông cũng chẳng dễ chịu gì. Ông ho nhiều hơn, còng lưng hơn, khiến chính nó thấy ngượng và đau lòng, ông nói bằng một giọng thảm thiết, chốc chốc lại sụt sịt, và kể những chuyện chẳng hề có ở đâu bao giờ… Ông bảo ở Nga người ta chết đầy đường, nằm la liệt, chẳng ai dọn, vì người ta đói quá hoá ngây dại cả… Ông với nó chưa từng thấy những chuyện ấy ở đâu. Nhưng nói thế là để người ta cho nhiều hơn. Mà ở đây cho nhiều thì cũng biết để đâu? Ở nhà thì lúc nào cũng bán được bốn mươi cô-pếch, có khi năm mươi cô-pếch một bao, còn ở đây chẳng ai mua. Rồi những mẩu bánh ấy, có khi ngon lắm, cũng phải lấy ra khỏi bị mà vứt giữa thảo nguyên.

— Đi xin à? Người Cô-dắc hỏi, ngoái qua vai nhìn hai cái dáng người co ro.

— Vâng, tất nhiên rồi ạ, thưa ông! Ông Ác-khíp thở dài đáp.

— Đứng dậy đi ông, tôi chỉ nhà tôi cho, tối tới nhà tôi mà ngủ.

Ông cố đứng dậy, nhưng ngã, sườn đập vào thành xe, rên lên trầm đục.

— Chà, ông già!… Người Cô-dắc lầm bầm thương hại. Thôi, không nhìn cũng được. Tới giờ đi ngủ thì cứ hỏi An-đrây Tro-nưi, tôi chính là An-đrây Tro-nưi. Giờ thì xuống đi. Chào nhé!

Hai ông cháu đứng trước một khóm dương. Sau những thân cây thấy mái nhà, hàng rào. Khắp nơi, bên phải bên trái, những khóm cây y như thế vươn lên trời. Lá xanh của chúng phủ một lớp bụi xám, còn vỏ những thân cây to thẳng tắp nứt nẻ vì nóng.

Ngay trước mặt hai người ăn xin, giữa hai hàng rào phên, có một con ngõ hẹp. Họ đi vào ngõ bằng dáng đi lắc lư của những người đã đi bộ nhiều.

— Thế nào, Li-ôn-ca, mình đi cùng nhau hay đi riêng? Ông hỏi, rồi không chờ trả lời đã nói thêm: Đi cùng thì hơn, người ta cho cháu ít lắm. Cháu không biết xin…

— Thì nhiều để làm gì? Đằng nào cũng ăn chẳng hết… Li-ôn-ca nhìn quanh, cau có đáp.

— Để làm gì à? Cháu khờ quá!… Lỡ có người tới mua thì sao? Thế là có việc để làm đấy!… Người ta sẽ trả tiền. Mà tiền thì to chuyện lắm. Có tiền thì khi ông chết rồi, chắc cháu sẽ không chết đói.

Rồi ông âu yếm cười, đưa tay vuốt đầu cháu.

— Cháu có biết chuyến này ông dành dụm được bao nhiêu không? Hả?

— Bao nhiêu? Li-ôn-ca dửng dưng hỏi.

— Mười một rúp rưỡi!… Thấy chưa?!

Nhưng con số ấy và giọng hân hoan của ông chẳng gây được ấn tượng gì với Li-ôn-ca.

— Chà, cháu ơi là cháu! Ông thở dài. Thế thì đi riêng nhé?

— Đi riêng…

— Ừ… Xong thì ra nhà thờ nhé.

— Vâng.

Ông rẽ vào con ngõ bên trái, còn Li-ôn-ca đi tiếp. Đi được chừng mười bước, nó nghe một tiếng kêu run rẩy: “Lạy các ân nhân, lạy những người làm phúc!…” Tiếng kêu ấy như một bàn tay quệt qua cây đàn hạc sai dây, từ sợi dây trầm nhất tới sợi mảnh nhất. Li-ôn-ca giật mình, rảo bước. Lúc nào nghe ông van xin, nó cũng thấy khó chịu và buồn buồn, còn khi người ta từ chối ông, nó còn thấy sợ, chờ ông sắp oà lên khóc.

Tai nó vẫn còn nghe những nốt nhạc run rẩy, thảm thương của giọng ông lạc lõng trong bầu không khí ngái ngủ nóng bức trên làng. Xung quanh im ắng như ban đêm. Li-ôn-ca tới bên một hàng rào, ngồi xuống trong bóng mát của những cành anh đào rủ ra đường. Đâu đó một con ong vo ve…

Quăng cái bị khỏi vai, Li-ôn-ca gối đầu lên, nhìn lên trời qua tán lá trên mặt một lúc, rồi ngủ say, khuất khỏi mắt người qua đường sau đám cỏ dại rậm rạp và bóng mát lưới mắt cáo của hàng rào…

Nó thức dậy vì những âm thanh lạ lùng dao động trong không khí đã mát dịu vì chiều sắp xuống. Có ai đang khóc gần đó. Khóc kiểu trẻ con, dỗi hờn và không dứt. Tiếng nức nở lịm đi trong một nốt trầm buồn mảnh mai, rồi bỗng lại bùng lên với sức mạnh mới, tuôn ra, mỗi lúc một gần. Nó ngẩng đầu, nhìn qua đám cỏ dại ra đường.

Trên đường có một cô bé chừng bảy tuổi, ăn mặc sạch sẽ, khuôn mặt đỏ, sưng vì khóc, chốc chốc lại lấy vạt váy trắng lau. Cô bé đi chậm chạp, kéo lê đôi chân trần trên đường, tung lên làn bụi dày, và rõ ràng chẳng biết mình đi đâu, đi làm gì. Cô có đôi mắt đen to, giờ đây tủi thân, buồn bã và ướt át. Đôi tai nhỏ, mỏng, hồng hồng tinh nghịch thò ra từ những lọn tóc màu hạt dẻ rối bù xoã xuống trán, xuống má, xuống vai.

Li-ôn-ca thấy cô bé buồn cười lắm, dù đang khóc, buồn cười và vui vui… Mà chắc cũng nghịch lắm đây!…

— Sao bạn khóc? Nó hỏi, đứng dậy khi cô bé đi tới ngang nó.

Cô bé giật mình dừng lại, lập tức nín khóc, nhưng vẫn còn khe khẽ nấc. Rồi sau vài giây nhìn nó, môi cô lại run lên, khuôn mặt nhăn lại, ngực phập phồng, và lại oà khóc to, cô bé bước đi.

Li-ôn-ca cảm thấy trong mình có cái gì thắt lại, và bỗng nó cũng đi theo cô bé.

— Bạn đừng khóc nữa. Lớn rồi, xấu hổ lắm! Nó nói khi chưa đuổi kịp, rồi khi đã đuổi kịp, nó nhìn vào mặt cô bé, hỏi lại: Nào, sao bạn khóc ầm lên thế?

— Thì đấy!… Cô bé kéo dài giọng. Giá mà là bạn… Rồi bỗng cô bé ngồi bệt xuống bụi trên đường, lấy tay che mặt, rên rỉ tuyệt vọng.

— Hừ! Li-ôn-ca khinh khỉnh khoát tay. Con gái!… Đúng là con gái. Phì!…

Nhưng chẳng giúp được gì cho cô bé, cũng chẳng giúp được gì cho nó. Nhìn những giọt nước mắt nối nhau chảy giữa những ngón tay mảnh mai hồng hồng của cô bé, Li-ôn-ca cũng thấy buồn, muốn khóc theo. Nó cúi xuống, thận trọng giơ tay lên, khẽ chạm vào tóc cô bé, nhưng lập tức sợ sự bạo dạn của mình, giật tay lại. Cô bé vẫn khóc, chẳng nói gì.

— Này!… Im một lúc, Li-ôn-ca lại nói, nó thấy rất cần phải giúp cô bé. Bạn làm sao thế? Bị đánh à?… Thì rồi sẽ hết đau thôi!… Hay là chuyện gì khác? Bạn nói đi! Này bạn ơi, hả?

Cô bé không bỏ tay khỏi mặt, buồn bã lắc đầu, rồi cuối cùng qua tiếng nức nở chầm chậm trả lời nó, nhún nhún đôi vai bé:

— Cái khăn… mất rồi!… Bố mua ở chợ về… màu xanh, có hoa, mình quàng vào, thế là mất. Rồi cô bé lại khóc, to hơn, mạnh hơn, nấc lên, kêu lên bằng một giọng rên rỉ lạ lùng: ô-ô-ô!

Li-ôn-ca thấy mình bất lực không giúp gì được, nó rụt rè lùi ra, trầm ngâm buồn bã nhìn lên bầu trời đã sẫm lại. Nó thấy nặng lòng, thương cô bé lắm.

— Đừng khóc!… biết đâu lại tìm thấy… nó khẽ thì thầm, nhưng thấy cô bé không nghe lời an ủi của mình, nó lại lùi xa hơn, nghĩ rằng chắc thế nào bố cũng đánh cô vì mất khăn. Và ngay lập tức nó hình dung ra người bố, một người Cô-dắc to lớn, đen đúa, đang đánh cô bé, còn cô bé thì nghẹn ngào trong nước mắt, run lẩy bẩy vì sợ và vì đau, lăn lộn dưới chân ông…

Nó đứng dậy bỏ đi, nhưng đi được năm bước lại ngoắt quay lại, đứng trước mặt cô bé, nép vào hàng rào, cố nhớ ra điều gì đó thật dịu dàng, thật tốt…

— Bạn ra khỏi đường đi chứ! Thôi đừng khóc nữa! Về nhà mà kể hết như thế nào. Là mất rồi… Có gì mà ghê thế?…

Nó bắt đầu nói bằng giọng khe khẽ, thông cảm, rồi kết thúc bằng một câu kêu phẫn nộ, và nó mừng thấy cô bé đứng dậy khỏi mặt đất.

— Thế là được!… Nó tươi cười, hăng hái nói tiếp. Đi đi nào. Muốn tớ đi cùng rồi kể hết cho không? Tớ sẽ bênh bạn, đừng sợ!

Rồi Li-ôn-ca kiêu hãnh nhún vai, nhìn quanh mình.

— Thôi… cô bé thì thầm, chậm rãi phủi bụi trên váy, vẫn còn nấc.

— Hay là tớ đi nhé? Li-ôn-ca nói to, hết sức sẵn sàng, rồi đẩy chiếc mũ lệch sang một bên tai.

Giờ nó đứng trước cô bé, hai chân dạng rộng, khiến bộ áo rách trên người như dựng lên ngang tàng. Nó gõ gậy xuống đất chắc nịch, nhìn cô bé không rời, đôi mắt to buồn bã sáng lên một niềm kiêu hãnh và gan dạ.

Cô bé liếc nhìn nó, quệt nước mắt nhoè khắp khuôn mặt nhỏ, lại thở dài rồi nói:

— Thôi, đừng đi… Mẹ mình không ưa người ăn xin đâu.

Rồi cô bé bỏ đi, ngoái lại nhìn hai lần.

Li-ôn-ca thấy buồn. Nó lặng lẽ, từ từ đổi đi cái dáng đứng cương quyết, thách thức, lại khom lưng, ngoan ngoãn, rồi quàng cái bị vẫn treo trên tay ra sau lưng, gọi với theo cô bé khi cô đã khuất sau khúc ngoặt của con ngõ:

— Tạm biệt!

Cô bé vừa đi vừa quay lại nhìn nó rồi biến mất.

— Hết chương 1 —

Mục lục Ông Ác-khíp và bé Li-ôn-ca

  1. 1Chương một. Bến phà sông Cu-ban21 phút
  2. 2Chương hai. Chiếc khăn xanh có hoaĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMaxim Gorky (1868 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Дед Архип и Лёнька, in lần đầu trên báo «Волгарь», Nizhny Novgorod, 1894
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →