Một ngày mùa thu, trên đường từ một vùng hẻo lánh trở về, tôi bị cảm lạnh rồi lăn ra ốm. May sao cơn sốt ập đến khi tôi đang ở quán trọ trong thị trấn huyện. Tôi cho người đi mời thầy thuốc. Nửa giờ sau, ông bác sĩ huyện đến, một người tầm thước, gầy gò, tóc đen. Ông kê cho tôi thứ thuốc ra mồ hôi quen thuộc, bảo đắp thuốc dán mù tạt, rồi rất khéo léo luồn tờ giấy năm rúp vào ống tay áo, vừa luồn vừa ho khan và nhìn sang chỗ khác. Đoạn ông đứng dậy định về, nhưng không hiểu sao lại bắt chuyện rồi ngồi nán lại.
Tôi mệt lả vì sốt. Tôi biết trước đêm ấy sẽ mất ngủ, nên mừng được trò chuyện với một người dễ mến. Trà được mang ra. Ông bác sĩ của tôi bắt đầu nói chuyện cởi mở. Ông là người hiểu biết, ăn nói mạnh mẽ và có phần hóm hỉnh. Trên đời có những chuyện kỳ lạ. Có những người ta sống bên cạnh rất lâu, thân thiết với họ, mà chưa một lần nói chuyện với họ bằng cả tấm lòng. Lại có những người ta vừa mới quen, thế mà bỗng dưng ta dốc hết mọi điều thầm kín với họ, hay họ dốc hết với ta, như đang xưng tội. Tôi không biết tôi được người bạn mới tin cậy vì đâu. Chỉ biết rằng, chẳng có gì dẫn dắt, ông kể cho tôi nghe một chuyện khá lạ. Và đây, tôi xin thuật lại câu chuyện ấy để bạn đọc rộng lượng được biết. Tôi sẽ cố kể bằng chính lời ông bác sĩ.
- Chắc ông không biết, - ông bắt đầu, giọng yếu ớt và run run, hậu quả thường thấy của việc hít thuốc lá bột Bê-rê-dốp nguyên chất, - chắc ông không biết ông chánh án ở đây, ông Mư-lốp, Pa-ven Lu-kích? Ông không biết à? Thôi, cũng chẳng sao.
Ông đằng hắng, dụi mắt.
- Ấy, ông thấy đấy, chuyện xảy ra, nói cho thật chính xác, vào mùa chay, đúng lúc tuyết tan. Tôi đang ngồi ở nhà ông ấy, nhà ông chánh án của chúng tôi ấy mà, đánh bài prê-phê-răng. Ông chánh án của chúng tôi là người tốt, lại thích đánh bài prê-phê-răng. Bỗng nhiên...
Ông bác sĩ hay dùng chữ "bỗng nhiên" lắm.
- Bỗng nhiên người ta bảo tôi: "Có người nhà ai đến hỏi bác sĩ." Tôi hỏi: "Hắn cần gì?" Người ta bảo: "Hắn mang thư đến, chắc là của người bệnh." Tôi bảo: "Đưa thư đây." Đúng là của người bệnh thật. Thế cũng được thôi, ông hiểu đấy, đó là cần câu cơm của mình mà. Nhưng chuyện thế này: một bà góa viết thư cho tôi, bảo: "Con gái tôi sắp chết. Vì Chúa, xin ông đến cho! Ngựa đã gửi đến đón ông rồi." Thế thì cũng được. Nhưng nhà bà ta cách thị trấn hai mươi dặm, ngoài trời đã nửa đêm, mà đường sá thì, trời ơi, không còn ra đường nữa! Bà ta lại nghèo, cùng lắm thì được hai rúp bạc, mà cũng chưa chắc. Có khi chỉ được trả bằng một súc vải với một bao bột yến mạch. Nhưng ông biết đấy, bổn phận là trên hết. Một con người đang sắp chết. Tôi giao ngay quân bài cho ông Ca-li-ô-pin, ủy viên hội đồng tỉnh, rồi về nhà. Tôi nhìn ra: một cỗ xe nhỏ xập xệ đậu trước thềm, thắng ngựa nông dân, béo, béo quá, lông xù như dạ. Còn anh đánh xe thì ngồi bỏ mũ ra cầm tay cho lễ phép. Thế là tôi nghĩ bụng: "Rõ rồi, ông bạn ạ, nhà này chẳng giàu sang gì." Ông cười đấy à, nhưng tôi nói ông nghe, người nghèo như tôi cái gì cũng phải tính đến. Nếu anh đánh xe ngồi chễm chệ như ông hoàng, chẳng thèm chạm tay vào mũ, lại còn cười khẩy sau bộ râu, quất roi đen đét, thì cứ yên trí là được sáu rúp. Nhưng lần này, tôi thấy, mọi chuyện khác hẳn. Thôi thì tôi nghĩ, biết làm sao, bổn phận là trên hết. Tôi vơ vội mấy thứ thuốc cần thiết nhất rồi lên đường.
Ông có tin không? Tôi đến được nơi là may lắm. Đường như đường xuống địa ngục: suối, tuyết, lạch nước, mà con đê ở chỗ ấy bỗng dưng lại vỡ, ấy mới là khổ nhất! Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng tới. Đó là một ngôi nhà nhỏ lợp rạ. Cửa sổ có ánh đèn, nghĩa là người ta đang chờ tôi. Một bà cụ ra đón tôi, trông rất đáng kính, đầu đội mũ vải. Bà bảo: "Ông cứu nó với! Nó sắp chết rồi." Tôi bảo: "Xin bà đừng lo lắng. Người bệnh đâu ạ?" "Mời ông đi lối này." Tôi thấy một căn phòng nhỏ sạch sẽ, ngọn đèn ở góc phòng. Trên giường là một cô gái chừng hai mươi tuổi, đang mê man. Người cô nóng hầm hập, thở nặng nhọc. Cô bị sốt. Còn có hai cô gái khác, em gái cô, hoảng sợ, nước mắt đầm đìa. Họ bảo tôi: "Hôm qua chị ấy còn khỏe mạnh hoàn toàn, ăn uống ngon lành. Sáng nay chị ấy kêu đau đầu, rồi tối nay, bỗng nhiên, ông xem, thành ra thế này." Tôi lại bảo: "Xin đừng lo." Bổn phận của thầy thuốc mà, ông biết đấy. Tôi lại gần cô, trích máu cho cô, bảo họ đắp thuốc dán mù tạt, rồi kê một liều thuốc nước.
Trong lúc ấy tôi nhìn cô. Tôi nhìn cô, ông biết không, trời ơi, lạy Chúa! Tôi chưa bao giờ thấy một khuôn mặt như thế! Nói tóm lại là một người đẹp! Tôi thấy lòng thương xót dâng lên đến run cả người. Nét mặt mới đáng yêu làm sao, đôi mắt mới đẹp làm sao! Nhưng tạ ơn Chúa, cô đỡ dần. Cô toát mồ hôi, như tỉnh lại, nhìn quanh, mỉm cười, đưa tay vuốt mặt. Mấy cô em cúi xuống bên chị. Họ hỏi: "Chị thấy thế nào?" "Không sao đâu," cô nói, rồi quay mặt đi. Tôi nhìn cô. Cô đã ngủ thiếp đi. Tôi bảo: "Thôi, bây giờ nên để người bệnh yên." Thế là tất cả chúng tôi rón rén đi ra. Chỉ còn một chị hầu gái ở lại, phòng khi cần đến. Trong phòng khách có ấm xa-mô-va đặt trên bàn, với một chai rượu rum. Làm nghề chúng tôi mà không có nó thì không xong. Người ta mời tôi uống trà, mời tôi ngủ lại. Tôi nhận lời. Giờ ấy thì còn đi đâu được nữa? Bà cụ cứ rên rỉ mãi. Tôi bảo: "Bà sao thế? Cô ấy sẽ sống mà. Bà đừng lo. Tốt hơn bà nên đi nghỉ một chút. Đã gần hai giờ sáng rồi." "Nhưng nếu có chuyện gì thì ông cho người đánh thức tôi nhé?" "Vâng, vâng."
Bà cụ đi ra, mấy cô gái cũng về phòng mình. Người ta trải giường cho tôi trong phòng khách. Thế là tôi đi nằm, nhưng lạ thay, không tài nào ngủ được, dù thực ra tôi mệt lắm. Tôi không sao gạt được cô bệnh nhân ra khỏi đầu óc. Cuối cùng tôi không chịu nổi nữa. Tôi bỗng đứng dậy, nghĩ bụng: "Mình sẽ đi xem người bệnh thế nào." Phòng ngủ của cô ở sát phòng khách. Thế là tôi dậy, khẽ mở cửa. Tim tôi đập thình thịch! Tôi nhìn vào. Chị hầu gái đang ngủ, mồm há hốc, lại còn ngáy nữa, cái đồ khốn! Còn người bệnh thì nằm quay mặt về phía tôi, hai tay dang rộng, tội nghiệp! Tôi lại gần cô. Thì bỗng nhiên cô mở mắt, nhìn trừng trừng vào tôi! "Ai đấy? Ai đấy?" Tôi bối rối. Tôi bảo: "Cô đừng sợ, tôi là bác sĩ. Tôi đến xem cô thấy trong người thế nào." "Ông là bác sĩ à?" "Vâng, bác sĩ. Mẹ cô cho người lên thị trấn mời tôi. Chúng tôi đã trích máu cho cô rồi. Giờ xin cô ngủ đi, một hai hôm nữa, ơn Chúa, chúng tôi sẽ giúp cô đứng dậy được." "À phải, phải, bác sĩ ơi, đừng để tôi chết... xin ông, xin ông." "Sao cô lại nói thế? Chúa phù hộ cô!" Tôi nghĩ bụng: cô lại sốt rồi. Tôi bắt mạch cho cô. Đúng, cô đang sốt. Cô nhìn tôi, rồi nắm lấy tay tôi. "Tôi sẽ nói với ông vì sao tôi không muốn chết. Tôi sẽ nói với ông. Bây giờ chỉ có hai chúng ta. Có điều, xin ông đừng... đừng nói với ai... Ông nghe này..." Tôi cúi xuống. Cô ghé môi sát tai tôi, tóc cô chạm vào má tôi. Thú thật là đầu óc tôi quay cuồng. Cô bắt đầu thì thầm. Tôi chẳng hiểu được gì cả. Chà, cô đang mê sảng! Cô thì thầm, thì thầm mãi, nhưng nhanh quá, mà hình như không phải tiếng Nga. Cuối cùng cô nói xong, run rẩy gục đầu xuống gối, rồi giơ ngón tay dọa tôi: "Nhớ đấy, bác sĩ, không được nói với ai." Tôi dỗ cho cô yên được, cho cô uống nước, đánh thức chị hầu gái dậy, rồi đi ra.
Đến đây ông bác sĩ lại hít thuốc lá bột, hít một cách hằn học, rồi ngồi đờ ra một lúc như say thuốc.
- Thế nhưng, - ông nói tiếp, - hôm sau, trái với tôi mong đợi, người bệnh không đỡ hơn. Tôi nghĩ đi nghĩ lại, rồi bỗng quyết định ở lại đó, dù những người bệnh khác đang chờ tôi. Mà ông biết đấy, việc ấy không thể coi nhẹ được, bỏ bê là mất khách. Nhưng thứ nhất là người bệnh nguy kịch thật. Thứ hai, nói cho thật, tôi thấy lòng mình bị cô cuốn hút mãnh liệt. Vả lại, tôi mến cả gia đình ấy. Tuy họ nghèo thật, nhưng có thể nói họ là những người có học thức hiếm có. Cha họ từng là một người uyên bác, một nhà văn. Dĩ nhiên ông chết trong nghèo túng, nhưng trước khi chết ông đã kịp cho các con một nền học vấn tuyệt vời. Ông còn để lại rất nhiều sách. Không biết vì tôi chăm sóc người bệnh hết sức chu đáo hay vì một lẽ nào khác, nhưng tôi dám nói là cả nhà quý tôi như người trong gia đình. Trong khi đó đường sá mỗi lúc một tệ hơn. Mọi liên lạc, có thể nói, bị cắt đứt hoàn toàn. Đến thuốc men cũng khó khăn lắm mới lấy được từ thị trấn về. Cô gái ốm vẫn không đỡ. Ngày này qua ngày khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng... thế này...
Ông bác sĩ ngừng một lát.
- Thật tình tôi không biết kể với ông thế nào.
Ông lại hít thuốc, ho, nhấp một ngụm trà.
- Tôi xin nói thẳng chẳng vòng vo. Cô bệnh nhân của tôi... nói thế nào nhỉ? Ấy, cô đã yêu tôi... hay không, không phải là cô yêu... nhưng mà... thật tình, nói thế nào nhỉ?
Ông bác sĩ nhìn xuống, đỏ mặt.
- Không, - ông vội nói tiếp, - yêu cái nỗi gì! Con người không nên tự đánh giá mình quá cao. Cô là một cô gái có học, thông minh, đọc nhiều, còn tôi thì có thể nói đã quên sạch cả tiếng La-tinh. Còn về dáng vẻ, - ông bác sĩ mỉm cười nhìn lại mình, - thì tôi cũng chẳng có gì mà khoe. Nhưng Chúa lòng lành không sinh tôi ra làm thằng ngốc. Tôi không coi đen là trắng. Tôi cũng hiểu biết đôi chút. Chẳng hạn tôi thấy rất rõ rằng A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, đó là tên cô, không phải yêu tôi, mà có một thứ, có thể nói là, cảm tình bè bạn, một thứ kính trọng hay gì đó đối với tôi. Tuy chính cô có lẽ đã nhầm về tình cảm ấy, nhưng dù sao thì thái độ của cô là như thế. Ông tự xét lấy. Nhưng mà, - ông bác sĩ nói thêm, ông đã tuôn ra tất cả những câu rời rạc ấy không kịp thở, với một vẻ lúng túng ra mặt, - hình như tôi nói lan man quá. Kể thế này ông chẳng hiểu gì đâu. Thôi, xin phép ông, tôi kể lại tất cả cho có đầu có đuôi.
Ông uống cạn một cốc trà, rồi bắt đầu kể bằng giọng bình tĩnh hơn.
- Ấy thế đấy. Cô bệnh nhân của tôi cứ mỗi ngày một nặng thêm. Ông không phải thầy thuốc, ông ạ. Ông không thể hiểu được điều gì diễn ra trong lòng người thầy thuốc tội nghiệp, nhất là lúc đầu, khi anh ta bắt đầu ngờ rằng bệnh tật đang thắng mình. Niềm tin vào bản thân của anh ta còn đâu nữa? Bỗng nhiên anh ta đâm ra rụt rè quá, không tả nổi. Lúc ấy anh ta tưởng mình đã quên sạch mọi điều mình biết, tưởng người bệnh không còn tin mình, tưởng người khác bắt đầu nhận ra mình lúng túng, họ kể triệu chứng với mình một cách miễn cưỡng, họ nhìn mình nghi ngờ, họ thì thầm với nhau. Chà! Thật kinh khủng! Bệnh này hẳn phải có thuốc chữa, anh ta nghĩ, giá mà tìm ra. Có phải thuốc này không? Thử xem, không, không phải thuốc này! Anh ta không để cho thuốc đủ thời gian phát huy tác dụng. Anh ta vớ lấy thứ này, rồi lại vớ lấy thứ khác. Có khi anh ta giở sách đơn thuốc ra, nghĩ bụng: đây rồi! Có khi, thật tình, anh ta nhắm mắt chọn bừa một đơn, phó mặc cho số phận. Mà trong lúc ấy một con người đang chết dần, người thầy thuốc khác có khi đã cứu được. Anh ta bảo: "Phải hội chẩn thôi, tôi không dám nhận trách nhiệm một mình." Những lúc ấy trông anh ta mới ngốc nghếch làm sao! Rồi dần dần anh ta học được cách chịu đựng, chẳng còn thấy gì nữa. Một người đã chết, nhưng không phải lỗi của anh ta, anh ta đã chữa đúng phép tắc. Nhưng điều còn hành hạ anh ta hơn nữa là thấy người ta tin mình một cách mù quáng, trong khi tự mình cảm thấy mình chẳng giúp được gì.
Ấy, cả nhà A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na tin tôi mù quáng đúng như thế. Họ quên cả nghĩ rằng con gái họ đang lâm nguy. Về phần mình, tôi cũng trấn an họ rằng không sao đâu, trong khi tim tôi thì thót lại. Khổ thêm nữa là đường sá tệ đến nỗi anh đánh xe đi lấy thuốc mất mấy ngày liền mới về. Còn tôi thì không rời khỏi phòng người bệnh, tôi không sao dứt ra được. Tôi kể cho cô nghe những chuyện vui, ông biết đấy, rồi đánh bài với cô. Ban đêm tôi thức canh bên cô. Bà mẹ già rưng rưng nước mắt cảm ơn tôi, nhưng tôi nghĩ bụng: "Tôi không đáng được bà biết ơn." Tôi xin thú thật với ông, giờ còn giấu giếm làm gì nữa, tôi đã yêu cô bệnh nhân của mình. Còn A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na cũng đâm ra quyến luyến tôi. Có khi cô không cho ai ở trong phòng mình ngoài tôi. Cô bắt đầu trò chuyện với tôi, hỏi tôi học ở đâu, sống thế nào, gia đình tôi có những ai, tôi hay đi thăm những ai. Tôi biết cô không nên nói nhiều, nhưng cấm cô, cấm thật kiên quyết ấy, thì tôi không làm nổi. Có lúc tôi ôm đầu tự hỏi: "Mày đang làm gì thế, đồ khốn nạn?" Còn cô thì cầm tay tôi giữ lấy, nhìn tôi rất lâu, rất lâu, rồi quay đi, thở dài mà nói: "Ông tốt quá!" Hai bàn tay cô nóng như lửa, đôi mắt cô to và mệt mỏi. "Phải," cô nói, "ông là người tốt, người hiền. Ông không giống những người hàng xóm nhà tôi. Không, ông không như thế. Sao đến bây giờ tôi mới biết ông!" Tôi bảo: "A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, cô bình tĩnh lại đi. Tôi thấy, xin cô tin tôi, tôi không biết làm sao tôi lại được... nhưng thôi, cô bình tĩnh đi. Mọi chuyện sẽ ổn cả, cô sẽ khỏe lại."
Mà tôi phải nói với ông, - ông bác sĩ vừa nói tiếp vừa nghiêng người về phía trước, nhướng đôi lông mày, - là họ rất ít giao du với hàng xóm, bởi những người nhỏ bé thì không ngang hàng với họ, còn lòng tự trọng thì không cho họ kết thân với kẻ giàu. Tôi nói ông nghe, đó là một gia đình có học thức hiếm có, nên ông biết đấy, tôi thấy hãnh diện lắm. Cô chỉ chịu uống thuốc từ tay tôi. Cô gái tội nghiệp nhờ tôi đỡ mà nhỏm dậy, uống thuốc, rồi nhìn tôi chăm chăm. Tim tôi như muốn vỡ tung. Trong khi đó cô cứ mỗi lúc một nặng hơn, nặng hơn mãi. Cô sẽ chết, tôi nghĩ bụng, cô phải chết thôi. Ông tin tôi đi, tôi thà tự mình xuống mồ còn hơn. Thế mà mẹ cô và các em cô cứ dõi theo tôi, nhìn vào mắt tôi, và lòng tin của họ vào tôi cứ mòn dần. "Thế nào? Nó thế nào rồi?" "À, không sao, không sao!" Không sao cái nỗi gì! Đầu óc tôi rối bời.
Một đêm nọ, tôi lại ngồi một mình bên người bệnh. Chị hầu gái cũng ngồi đấy, ngáy khò khò hết cỡ. Nhưng tôi không thể trách cô gái tội nghiệp ấy được, cô ta cũng kiệt sức rồi. Cả buổi tối A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na thấy rất khó chịu. Cô sốt cao. Đến nửa đêm cô vẫn trằn trọc vật vã. Cuối cùng hình như cô ngủ thiếp đi, ít ra là cô nằm im không cựa quậy. Ngọn đèn cháy ở góc phòng trước tượng thánh. Tôi ngồi đấy, ông biết không, đầu cúi xuống, thậm chí còn thiu thiu ngủ một chút. Bỗng như có ai chạm vào sườn tôi. Tôi quay lại. Lạy Chúa! A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na đang nhìn tôi chằm chằm, môi hé mở, đôi má như bốc lửa. "Có chuyện gì thế?" "Bác sĩ ơi, tôi sẽ chết phải không?" "Lạy Chúa lòng lành!" "Không, bác sĩ ơi, không. Xin ông đừng nói với tôi là tôi sẽ sống, đừng nói thế. Giá mà ông biết. Ông nghe này! Vì Chúa, xin ông đừng giấu tôi tình trạng thật của tôi." Cô thở gấp quá. "Nếu tôi biết chắc là tôi phải chết, thì tôi sẽ nói với ông tất cả, tất cả!" "A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, tôi xin cô!" "Ông nghe này. Tôi không ngủ tí nào cả. Tôi nhìn ông lâu lắm rồi. Vì Chúa! Tôi tin ông. Ông là người tốt, người trung thực. Tôi van ông, nhân danh tất cả những gì thiêng liêng trên đời, hãy nói thật với tôi! Giá ông biết điều đó quan trọng với tôi đến thế nào. Bác sĩ ơi, vì Chúa, ông nói đi. Tôi có nguy không?" "Tôi biết nói gì với cô bây giờ, A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na?" "Vì Chúa, tôi van ông!" Tôi bảo: "Tôi không thể giấu cô được, A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na. Cô đúng là đang nguy, nhưng Chúa nhân từ lắm." "Tôi sẽ chết, tôi sẽ chết."
Và hình như cô vui mừng. Mặt cô bừng sáng lên. Tôi hoảng sợ. "Ông đừng sợ, đừng sợ! Tôi chẳng sợ chết chút nào đâu." Cô bỗng ngồi dậy, chống khuỷu tay. "Bây giờ... phải, bây giờ thì tôi có thể nói với ông rằng tôi cảm ơn ông bằng cả tấm lòng, rằng ông tốt, ông hiền, rằng tôi yêu ông!" Tôi trố mắt nhìn cô như người bị ma ám. Ông biết không, thật khủng khiếp đối với tôi. "Ông có nghe không, tôi yêu ông!" "A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, tôi có xứng đáng gì đâu..." "Không, không, ông không... ông không hiểu tôi." Rồi bỗng cô giang tay ra, ôm lấy đầu tôi mà hôn. Ông tin tôi đi, tôi suýt nữa hét to lên. Tôi quỳ sụp xuống, vùi đầu vào gối. Cô không nói gì. Những ngón tay cô run run trong tóc tôi. Tôi lắng nghe. Cô đang khóc. Tôi bắt đầu dỗ dành cô, trấn an cô. Thật tình tôi cũng không biết tôi đã nói gì với cô. Tôi bảo cô: "Cô sẽ làm chị hầu thức giấc mất. A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, tôi cảm ơn cô... cô tin tôi đi... cô bình tĩnh lại." "Thôi đủ rồi, đủ rồi!" cô cứ khăng khăng. "Mặc kệ họ. Họ thức thì cứ thức, họ vào thì cứ vào, chẳng sao cả. Ông thấy đấy, tôi đang chết mà. Thế ông sợ gì? Sao ông lại sợ? Ông ngẩng đầu lên đi. Hay là ông không yêu tôi, có lẽ tôi nhầm. Nếu thế thì ông tha lỗi cho tôi." "A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, cô nói gì thế! Tôi yêu cô, A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na."
Cô nhìn thẳng vào mắt tôi, rồi dang rộng hai tay. "Thế thì ông ôm lấy tôi đi." Tôi nói thật với ông, tôi không hiểu sao đêm ấy tôi không phát điên. Tôi cảm thấy cô bệnh nhân của tôi đang tự giết mình. Tôi thấy cô không còn hoàn toàn tỉnh táo. Tôi cũng hiểu rằng nếu cô không tin mình sắp chết thì cô chẳng bao giờ nghĩ đến tôi. Mà thật thế, ông nói gì thì nói, chết ở tuổi hai mươi khi chưa từng biết yêu là chuyện khó lòng. Chính điều đó đang giày vò cô. Chính vì thế mà trong cơn tuyệt vọng cô bám lấy tôi. Giờ thì ông hiểu chưa? Nhưng cô ôm chặt tôi trong vòng tay, không chịu buông ra. Tôi bảo: "Cô thương tôi với, A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na, và thương lấy chính cô." Cô nói: "Sao lại thế? Còn gì mà phải nghĩ nữa? Ông biết là tôi phải chết mà." Cô cứ nhắc đi nhắc lại câu ấy không ngừng. "Nếu tôi biết mình sẽ sống lại, sẽ lại là một cô gái tử tế, thì tôi sẽ xấu hổ, dĩ nhiên là xấu hổ. Nhưng bây giờ thì sao?" "Nhưng ai bảo cô sẽ chết?" "Thôi, thôi, ông đừng nói nữa! Ông không lừa được tôi đâu. Ông không biết nói dối. Ông nhìn lại mặt ông xem." "Cô sẽ sống, A-lếch-xan-đra An-đrê-ép-na. Tôi sẽ chữa khỏi cho cô. Chúng ta sẽ xin mẹ cô chúc phúc, chúng ta sẽ lấy nhau, chúng ta sẽ hạnh phúc." "Không, không, ông đã hứa với tôi rồi. Tôi phải chết. Ông đã hứa với tôi, ông đã nói với tôi rồi."
Thật tàn nhẫn đối với tôi, tàn nhẫn vì nhiều lẽ. Mà ông xem, những chuyện vặt vãnh đôi khi có sức mạnh ghê gớm thế nào. Tưởng chẳng là gì cả, mà lại đau. Cô chợt nghĩ ra hỏi tôi tên gì, không phải họ mà là tên thánh. Khốn nỗi tôi lại xui xẻo mang cái tên Tri-phôn. Vâng, đúng thế, Tri-phôn I-va-nứt. Trong nhà ai cũng gọi tôi là bác sĩ. Nhưng biết làm sao được. Tôi bảo: "Thưa cô, tên tôi là Tri-phôn." Cô nhíu mày, lắc đầu, lẩm bẩm câu gì đó bằng tiếng Pháp, chà, dĩ nhiên là câu gì đó chẳng hay ho, rồi cô cười, cũng cười một cách chẳng dễ chịu gì.
Thế là tôi ở bên cô suốt đêm như thế. Trước lúc trời sáng tôi đi ra, cảm thấy như mình phát điên. Khi tôi trở lại phòng cô thì đã là ban ngày, sau bữa trà sáng. Lạy Chúa! Tôi gần như không nhận ra cô nữa. Người ta đặt vào quan tài còn trông khá hơn thế. Tôi thề với ông, lấy danh dự mà thề, bây giờ tôi không hiểu nổi, hoàn toàn không hiểu nổi, làm sao tôi sống qua được những ngày ấy. Cô bệnh nhân của tôi còn cầm cự được ba ngày ba đêm nữa. Mà những đêm như thế nào! Cô nói với tôi những gì! Và đêm cuối cùng, ông cứ hình dung xem, tôi ngồi bên cô, chỉ cầu xin Chúa một điều: "Xin Người hãy mang cô ấy đi, mang đi nhanh lên, và mang cả con theo." Bỗng bà mẹ già bất ngờ bước vào phòng. Từ tối hôm trước tôi đã nói với bà, với bà mẹ ấy, rằng hy vọng chẳng còn bao nhiêu, nên cho mời cha cố đến. Cô gái ốm thấy mẹ bèn nói: "Mẹ đến thật đúng lúc. Mẹ nhìn chúng con này, chúng con yêu nhau, chúng con đã hứa hẹn với nhau rồi." "Nó nói gì thế, bác sĩ? Nó nói gì thế?" Tôi tái mét mặt. Tôi bảo: "Cô ấy mê sảng đấy ạ, vì sốt." Nhưng cô thì: "Thôi, thôi. Vừa nãy anh nói với em khác hẳn, lại còn cầm nhẫn của em. Sao anh lại giả vờ? Mẹ em tốt lắm, mẹ sẽ tha thứ, mẹ sẽ hiểu. Mà em thì đang chết. Em chẳng cần phải nói dối. Đưa tay anh cho em." Tôi nhảy bật dậy, chạy ra khỏi phòng. Dĩ nhiên bà cụ đoán ra được chuyện gì rồi.
- Thôi, tôi không làm ông mệt thêm nữa. Mà nhớ lại tất cả những chuyện ấy, dĩ nhiên tôi cũng đau lòng. Hôm sau cô bệnh nhân của tôi qua đời. Cầu Chúa cho linh hồn cô được yên nghỉ! - ông bác sĩ nói thêm, nói nhanh và thở dài. - Trước khi chết, cô xin người nhà ra ngoài để cô được ở một mình với tôi. Cô bảo: "Anh tha lỗi cho em. Có lẽ em có lỗi với anh... vì bệnh tật của em... nhưng anh tin em đi, em chưa từng yêu ai hơn anh... anh đừng quên em... anh giữ lấy chiếc nhẫn của em."
Ông bác sĩ quay mặt đi. Tôi nắm lấy tay ông.
- Thôi! - ông nói. - Ta nói chuyện khác đi, hay ông có muốn đánh vài ván prê-phê-răng ăn tiền nho nhỏ không? Người như tôi đâu được phép để mình chìm đắm trong những cảm xúc cao xa. Tôi chỉ còn phải nghĩ mỗi một điều: làm sao cho con khỏi khóc, vợ khỏi mắng. Từ dạo ấy, ông biết đấy, tôi cũng đã kịp, như người ta vẫn nói, kết hôn hợp pháp. Ấy... tôi lấy con gái một nhà buôn, của hồi môn bảy nghìn. Tên cô ấy là A-cu-li-na, đi với cái tên Tri-phôn thì hợp lắm. Tôi phải nói với ông là cô ấy dữ tính, nhưng may thay cô ấy ngủ suốt ngày. Thế nào, đánh prê-phê-răng nhé?
Chúng tôi ngồi đánh prê-phê-răng, mỗi điểm nửa xu. Ông Tri-phôn I-va-nứt ăn của tôi hai rúp rưỡi, rồi về nhà muộn, rất hài lòng vì thắng bạc.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn