Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ông già giữ nước thánh

của Guy de Maupassant

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 7.947 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xưa ông sống trong một ngôi nhà nhỏ…
  2. 1:29Ông chạy như thế cho đến sáng, làm đầy…
  3. 2:45Tôi cũng biết một người đã lạc mất con…
  4. 3:42Ở ngưỡng cửa một trong những nhà thờ họ…
  5. 5:46Thế nào! Bà có nhận ra anh ta không?
  6. 6:27Ông nhắc lại, khẽ hơn:
  7. 6:44Anh đã quên hết, quên cái họ của bố…

Ngày xưa ông sống trong một ngôi nhà nhỏ bên đường cái, ở đầu một ngôi làng. Ông làm nghề thợ đóng xe sau khi cưới con gái một bác chủ trại trong vùng. Và vì cả hai vợ chồng đều làm lụng chăm chỉ, họ gom góp được một gia tài nho nhỏ. Có điều họ không có con, chuyện ấy làm họ buồn vô cùng. Cuối cùng họ cũng có một đứa con trai. Họ đặt tên nó là Giăng, và họ thay nhau âu yếm nó, bao bọc nó bằng tình yêu thương, quý nó đến nỗi không thể xa nó một giờ mà không nhìn nó.

Khi nó lên năm, có một gánh xiếc rong đi qua vùng ấy và dựng lều trên quảng trường trước toà thị chính.

Thằng Giăng, đã trông thấy họ, trốn khỏi nhà. Và bố nó, sau khi tìm mãi, thấy nó giữa đám dê làm trò và chó làm xiếc, đang cười như nắc nẻ trên đầu gối một lão hề già.

Ba ngày sau, vào giờ ăn tối, lúc sắp ngồi vào bàn, bác thợ đóng xe và vợ nhận ra con trai không còn ở trong nhà nữa. Họ tìm nó ngoài vườn, và vì không thấy nó đâu, ông bố ra đứng bên vệ đường, gào lên hết sức:

- Giăng ơi!

Đêm đang xuống. Chân trời đầy một làn hơi màu nâu đẩy mọi vật lùi vào một khoảng xa tối tăm và đáng sợ. Ba cây thông lớn gần đó dường như đang khóc. Không có tiếng nào đáp lại. Nhưng trong không khí như có những tiếng rên không rõ. Ông bố lắng nghe rất lâu, cứ tưởng như nghe thấy gì đó, lúc thì bên phải, lúc thì bên trái. Và đầu óc rối loạn, ông lao vào màn đêm, gọi mãi không thôi:

- Giăng ơi! Giăng ơi!

Ông chạy như thế cho đến sáng, làm đầy bóng tối bằng tiếng gọi của mình, làm kinh hãi những con thú đang rình mò, bị một nỗi lo âu khủng khiếp tàn phá, và có lúc tưởng mình phát điên. Vợ ông ngồi trên bậc đá trước cửa, nức nở cho đến sáng.

Người ta không tìm lại được con trai họ.

Thế là họ già đi nhanh chóng trong một nỗi buồn không gì nguôi được.

Cuối cùng họ bán nhà và lên đường để tự mình đi tìm.

Họ hỏi những người chăn cừu trên sườn đồi, những người lái buôn đi ngang qua, những người nông dân trong các làng và các nhà chức trách ở các thành phố. Nhưng con trai họ đã mất tích từ lâu. Chẳng ai biết gì. Chính nó chắc giờ cũng đã quên tên mình và tên quê mình rồi. Và họ khóc, không còn hy vọng gì nữa.

Chẳng bao lâu họ hết tiền. Thế là họ đi làm thuê theo ngày ở các trang trại và các quán trọ, làm những việc hèn mọn nhất, sống bằng đồ thừa của người khác, nằm ngủ trên đất cứng và chịu rét. Nhưng vì vất vả mãi nên họ trở nên rất yếu, người ta không muốn thuê họ làm việc nữa, và họ buộc phải đi ăn xin trên các nẻo đường. Họ đến gần những người lữ khách với khuôn mặt buồn rầu và giọng van nài. Họ xin một mẩu bánh mì của những người gặt lúa đang ăn trưa quanh một gốc cây giữa đồng. Rồi họ lặng lẽ ăn, ngồi bên bờ mương.

Một hôm, một ông chủ quán trọ, nghe họ kể nỗi bất hạnh của mình, bảo họ:

- Tôi cũng biết một người đã lạc mất con gái. Chính ở Pa-ri mà ông ấy tìm lại được con.

Họ lập tức lên đường đi Pa-ri.

Khi bước vào thành phố lớn, họ hoảng sợ vì nó rộng mênh mông và vì những đám người đông nghịt qua lại.

Tuy vậy họ hiểu rằng con mình hẳn phải ở giữa tất cả những người ấy, nhưng họ không biết phải làm sao để tìm nó. Rồi họ lại sợ không nhận ra nó, vì lúc ấy đã mười lăm năm rồi họ không thấy mặt nó.

Họ đi khắp các quảng trường, các con phố, dừng lại ở mọi đám đông họ trông thấy, hy vọng vào một cuộc gặp gỡ do trời định, một sự tình cờ kỳ diệu nào đó, một chút thương xót của số phận.

Họ thường cứ thế đi thẳng, chẳng biết đi đâu, người nọ sát người kia, trông buồn bã và nghèo khổ đến nỗi người ta bố thí cho họ dù họ chẳng xin.

Chủ nhật nào họ cũng đứng cả ngày ở cửa các nhà thờ, nhìn những đám đông vào ra và tìm trên các khuôn mặt một nét giống nào đó, dù xa xôi. Nhiều lần họ tưởng đã nhận ra nó, nhưng lần nào cũng nhầm.

Ở ngưỡng cửa một trong những nhà thờ họ hay quay lại nhất, có một ông già giữ nước thánh đã trở thành bạn của họ. Chuyện đời ông cũng rất buồn, và lòng thương cảm họ dành cho ông đã làm nảy sinh giữa họ một tình bạn lớn. Rốt cuộc cả ba người sống chung trong một căn gác nghèo nàn trên tầng cao nhất của một toà nhà lớn, ở tít xa, gần những cánh đồng. Và đôi khi bác thợ đóng xe thay người bạn mới ở nhà thờ, những lúc ông ấy ốm. Rồi một mùa đông đến, rét khủng khiếp. Ông già cầm bình rảy nước thánh tội nghiệp qua đời, và ông cha xứ của giáo xứ, đã biết những nỗi bất hạnh của bác thợ đóng xe, cử bác thay chỗ ông ấy. Thế là sáng nào bác cũng đến ngồi ở đúng chỗ ấy, trên đúng chiếc ghế ấy, lưng không ngừng cọ mòn cái cột đá cũ mà bác tựa vào. Bác nhìn chằm chằm mọi người đàn ông bước vào, và bác mong đến chủ nhật sốt ruột như một cậu học trò, vì hôm ấy nhà thờ lúc nào cũng đông người.

Bác trở nên rất già, càng yếu đi vì hơi ẩm của những mái vòm. Và hy vọng của bác cứ vụn dần đi mỗi ngày.

Giờ thì bác biết tất cả những người đến dự lễ. Bác biết giờ giấc của họ, thói quen của họ. Bác phân biệt được tiếng bước chân của họ trên nền đá.

Cuộc sống của bác co lại đến nỗi một người lạ bước vào nhà thờ đã là một sự kiện lớn đối với bác. Một hôm có hai bà đến. Một bà già và một cô gái trẻ. Có lẽ là hai mẹ con. Sau lưng họ có một người đàn ông xuất hiện, đi theo họ. Lúc ra về anh ta chào họ, và sau khi mời họ nước thánh, anh khoác tay bà già.

- Chắc là chồng chưa cưới của cô gái, bác thợ đóng xe nghĩ.

Rồi suốt cho tới tối, bác lục tìm trong ký ức xem ngày xưa mình đã có thể thấy ở đâu một người đàn ông giống người ấy. Nhưng người mà bác nhớ thì giờ hẳn đã là một ông già, vì bác có cảm giác đã quen người ấy ở quê xưa, hồi bác còn trẻ. Người đàn ông ấy còn đến nhiều lần nữa cùng với hai bà kia, và cái nét giống mơ hồ, xa xăm mà quen thuộc mà bác không sao tìm ra làm ông già giữ nước thánh khổ sở đến nỗi bác đưa cả vợ mình đến để giúp cho trí nhớ đã yếu của mình.

Một buổi chiều, khi trời đã nhá nhem, ba người lạ cùng bước vào. Khi họ đã đi qua, người chồng hỏi:

- Thế nào! Bà có nhận ra anh ta không?

Người vợ lo lắng cũng cố nhớ lại. Bỗng bà nói rất khẽ:

- Có, có, nhưng anh ta đen hơn, cao hơn, to khoẻ hơn và ăn mặc như một ông lớn. Thế nhưng ông ạ, ông xem, đó chính là khuôn mặt của ông hồi ông còn trẻ.

Ông già giật nảy mình.

Đúng thế thật. Anh ta giống ông, và giống cả người anh trai đã mất của ông, và giống cả bố ông mà ông đã biết khi bố còn trẻ. Hai ông bà xúc động đến nỗi không tìm ra lời nào. Ba người kia đang đi xuống, sắp ra về. Người đàn ông chạm ngón tay vào cây rảy nước thánh. Thế là ông già, tay run đến nỗi rảy xuống đất cả một trận mưa nước thánh, kêu lên:

- Giăng?

Người đàn ông dừng lại, nhìn ông.

Ông nhắc lại, khẽ hơn:

- Giăng?

Hai người đàn bà nhìn ông, không hiểu gì.

Thế là ông nói lần thứ ba, nức nở:

- Giăng?

Người đàn ông cúi sát xuống mặt ông, và bừng sáng lên vì một kỷ niệm thời thơ ấu, anh đáp:

- Bố Pi-e! Mẹ Gian-nơ!

Anh đã quên hết, quên cái họ của bố mình và quên tên quê mình. Nhưng anh vẫn luôn nhớ hai tiếng mà ngày xưa anh đã nhắc đi nhắc lại bao lần: bố Pi-e, mẹ Gian-nơ!

Anh ngã quỵ xuống, úp mặt vào đầu gối ông già, và anh khóc, và anh ôm hôn lần lượt bố rồi mẹ, hai ông bà nghẹn ngào vì một niềm vui quá lớn.

Hai người đàn bà cũng khóc, vì hiểu rằng một niềm hạnh phúc lớn vừa đến.

Rồi tất cả cùng về nhà chàng trai, và anh kể cho họ nghe chuyện đời mình.

Bọn xiếc rong đã bắt cóc anh. Suốt ba năm anh đi theo họ qua bao nhiêu xứ sở. Rồi gánh xiếc tan rã, và một hôm, trong một lâu đài, có một bà già đã bỏ tiền ra để giữ anh lại, vì bà thấy anh dễ thương. Vì anh thông minh, người ta cho anh đi học, rồi vào trung học, và bà già không có con nên đã để lại gia tài cho anh. Anh cũng đã đi tìm bố mẹ. Nhưng vì chỉ nhớ có hai cái tên ấy, bố Pi-e, mẹ Gian-nơ, nên anh không tìm ra được. Giờ anh sắp cưới vợ, và anh giới thiệu vị hôn thê của mình, một cô gái rất hiền và rất xinh.

Khi hai ông bà kể lại nỗi đau khổ và những nhọc nhằn của mình, họ lại ôm hôn anh thêm lần nữa. Và đêm hôm ấy họ thức rất khuya, không dám đi ngủ, vì sợ rằng niềm hạnh phúc đã trốn chạy họ bao lâu nay lại bỏ họ đi trong lúc họ ngủ.

Nhưng họ đã làm mòn được sự dai dẳng của bất hạnh, vì từ đó họ sống hạnh phúc cho đến khi qua đời.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1876
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Donneur d'eau bénite, in trên tạp chí La Mosaïque năm 1876 với bút danh Guy de Valmont, theo bản Conard in kèm tập Boule de suif
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →