Hồi ấy tôi ở căn gác xép tuổi hai mươi của mình trên phố Gra-xi-ơ-dơ. Phố Gra-xi-ơ-dơ là một ngõ dốc đứng chạy xuống đồi Xanh Vích-to, sau Vườn Bách Thảo.
Tôi leo hai tầng gác, nhà cửa ở vùng ấy thấp lắm, phải bám vào một sợi dây thừng cho khỏi trượt trên những bậc thang mòn vẹt, và cứ thế lên tới cái ổ chuột của mình trong bóng tối hoàn toàn. Căn phòng rộng và lạnh, trơ trụi và nhờ nhờ ánh sáng như một hầm mộ. Vậy mà tôi cũng có những ngày nắng rạng trong bóng tối ấy, những ngày trái tim tôi có ánh sáng.
Rồi từ căn gác bên cạnh vọng sang tiếng cười của một con bé. Căn gác ấy có cả một gia đình ở: người bố, người mẹ, và một bé gái bảy tám tuổi.
Người bố trông góc cạnh, cái đầu cắm lệch giữa hai bờ vai nhọn. Khuôn mặt xương xẩu của ông vàng vọt, với đôi mắt đen to tướng trũng sâu dưới cặp lông mày rậm. Người đàn ông ấy, dù bộ mặt u ám, vẫn giữ một nụ cười hiền lành rụt rè. Trông ông như một đứa trẻ lớn năm mươi tuổi, hay bối rối, hay đỏ mặt như con gái. Ông tìm chỗ khuất, men sát tường mà đi với vẻ khiêm nhường của một người tù khổ sai vừa được ân xá.
Vài lần chào hỏi đã khiến ông thành bạn tôi. Tôi thích khuôn mặt kỳ lạ ấy, đầy vẻ hiền hậu mà lo âu. Dần dần, chúng tôi đi tới chỗ bắt tay nhau.
Sau sáu tháng, tôi vẫn chưa biết nghề gì nuôi sống ông hàng xóm Giắc và gia đình ông. Ông ít nói. Chỉ vì quan tâm, tôi đã hỏi bà vợ hai ba lần, nhưng chỉ moi được ở bà những câu trả lời lảng tránh, ấp úng ngượng ngùng.
Một hôm, trời mưa từ hôm trước, và lòng tôi đang đau, khi tôi đi xuống đại lộ Ăng-phe, tôi thấy đi tới trước mặt mình một trong những kẻ cùng đinh của giới thợ thuyền Pa-ri, một người mặc đồ đen, đội mũ đen, thắt cà vạt trắng, nách cắp chiếc áo quan nhỏ hẹp của một đứa trẻ sơ sinh.
Ông đi, đầu cúi, mang gánh nặng nhẹ tênh của mình với vẻ thờ ơ mơ màng, chân đá những hòn sỏi trên đường. Buổi sáng trắng đục. Tôi thấy dễ chịu với nỗi buồn đang đi ngang qua ấy. Nghe tiếng chân tôi, người đàn ông ngẩng đầu lên, rồi vội quay đi, nhưng muộn rồi: tôi đã nhận ra ông. Ông hàng xóm Giắc của tôi làm phu đòn đám ma.
Tôi nhìn ông đi xa dần, xấu hổ vì nỗi xấu hổ của ông. Tôi tiếc đã không đi lối kia. Ông cứ thế đi, đầu cúi thấp hơn, hẳn đang tự nhủ rằng mình vừa mất cái bắt tay mà chúng tôi vẫn trao nhau mỗi tối.
Hôm sau, tôi gặp ông ở cầu thang. Ông sợ sệt nép sát vào tường, thu mình bé lại, khiêm nhường kéo những nếp áo bờ lu cho vải khỏi chạm vào quần áo tôi. Ông đứng đó, trán cúi xuống, và tôi thấy cái đầu xám tội nghiệp của ông run lên vì xúc động.
Tôi dừng lại, nhìn thẳng vào ông. Tôi chìa tay ra, xoè rộng.
Ông ngẩng đầu, ngập ngừng, rồi tới lượt ông nhìn thẳng vào tôi. Tôi thấy đôi mắt to của ông xao động, khuôn mặt vàng vọt của ông ửng lên những vệt đỏ. Rồi bất thình lình nắm lấy tay tôi, ông theo tôi lên gác, và ở đó cuối cùng ông mới nói được.
Ông bảo tôi:
— Cậu là một chàng trai tốt. Cái bắt tay của cậu vừa làm tôi quên đi biết bao ánh mắt độc ác.
Rồi ông ngồi xuống, tâm sự với tôi. Ông thú thật rằng trước khi vào nghề, ông cũng như mọi người, thấy khó chịu mỗi khi gặp một người phu đòn. Nhưng từ khi làm nghề, trong những giờ đi bộ dài, giữa sự im lặng của những đám tang, ông đã suy nghĩ về những điều ấy, và lấy làm lạ về sự ghê tởm và sợ hãi mà ông gây ra trên đường mình đi.
Hồi ấy tôi hai mươi tuổi, tôi có thể ôm hôn cả một tên đao phủ. Tôi lao vào những suy luận triết học, muốn chứng minh cho ông hàng xóm Giắc thấy công việc của ông là thiêng liêng. Nhưng ông nhún đôi vai nhọn, lặng lẽ xoa hai bàn tay vào nhau, rồi nói tiếp bằng cái giọng chậm chạp lúng túng của mình:
— Cậu thấy đấy, những lời đàm tiếu trong xóm, những ánh mắt khó chịu của người qua đường chẳng làm tôi bận tâm mấy, miễn là vợ con tôi có bánh mì ăn. Chỉ có một điều làm tôi day dứt. Nghĩ tới là tôi mất ngủ cả đêm. Vợ chồng tôi là người già rồi, chẳng còn biết xấu hổ. Nhưng con gái trẻ thì hay có chí lớn. Bé Mác-tơ tội nghiệp của tôi rồi sẽ xấu hổ vì bố nó. Năm lên năm, nó gặp một ông bạn đồng nghiệp của tôi, nó khóc nhiều lắm, nó sợ lắm, đến nỗi tới giờ tôi vẫn chưa dám mặc tấm áo choàng đen trước mặt nó. Tôi mặc quần áo và thay quần áo ngoài cầu thang.
Tôi thương ông hàng xóm Giắc. Tôi ngỏ ý để ông cất quần áo trong phòng tôi, và tới đó mặc cho thoải mái, khỏi bị lạnh. Ông cẩn thận nghìn bề khi chuyển bộ đồ tang tóc của mình sang chỗ tôi. Từ hôm ấy, sáng tối nào tôi cũng gặp ông. Ông thay quần áo ở một góc căn gác của tôi.
Tôi có một cái hòm cũ, gỗ đã mủn ra vì mọt ăn. Ông hàng xóm Giắc dùng nó làm tủ áo. Ông lót đáy bằng báo cũ, gấp những bộ đồ đen vào đó thật cẩn thận.
Đôi khi, ban đêm, khi một cơn ác mộng làm tôi choàng tỉnh, tôi hoảng hốt liếc nhìn cái hòm cũ nằm dài dọc tường như một chiếc áo quan. Tôi tưởng như thấy từ trong đó chui ra chiếc mũ, tấm áo choàng đen, chiếc cà vạt trắng.
Chiếc mũ lăn quanh giường tôi, kêu vù vù và nhảy từng bước ngắn giần giật. Tấm áo choàng rộng ra, vẫy vạt áo như đôi cánh đen lớn, bay khắp phòng, rộng thùng thình và lặng lẽ. Chiếc cà vạt trắng dài ra, dài mãi, rồi bắt đầu bò từ từ về phía tôi, đầu ngóc lên, đuôi ngoe nguẩy.
Tôi mở to hết cỡ mắt ra, và thấy cái hòm cũ nằm im lìm, tối sẫm trong góc của nó.
Thời ấy tôi sống trong mơ, mơ về tình yêu, và cả mơ về nỗi buồn. Tôi thích thú với cơn ác mộng của mình. Tôi quý ông hàng xóm Giắc, vì ông sống với người chết, và mang về cho tôi cái mùi hăng hắc của nghĩa địa. Ông đã tâm sự với tôi nhiều điều. Tôi đã viết những trang đầu của cuốn "Hồi ký của một người phu đòn".
Buổi tối, trước khi thay quần áo, ông hàng xóm Giắc ngồi lên cái hòm cũ kể cho tôi nghe một ngày của ông. Ông thích nói về những người chết của mình. Khi thì là một cô gái trẻ, đứa trẻ tội nghiệp chết vì lao phổi, nhẹ bẫng. Khi thì là một viên chức béo tốt, chiếc áo quan nặng tới mức suýt làm gãy tay ông, hẳn ông ta đã mang theo cả vàng trong túi. Và tôi biết những chi tiết riêng tư về từng người chết. Tôi biết họ nặng bao nhiêu, những tiếng động phát ra trong áo quan, cách người ta phải khiêng họ xuống ở những khúc quanh cầu thang.
Có những tối, ông hàng xóm Giắc về nhà nói nhiều hơn và hớn hở hơn. Ông vịn tường mà đi, áo choàng cài trên vai, mũ hất ra sau. Ông đã gặp những người thừa kế rộng rãi trả tiền cho ông "mấy lít rượu và miếng pho mát để giải sầu". Và rốt cuộc ông mủi lòng, ông thề với tôi rằng khi tới lúc, ông sẽ đưa tôi xuống mồ, bằng một bàn tay hết sức nhẹ nhàng, đầy tình bạn.
Tôi sống như thế hơn một năm, giữa toàn chuyện người chết.
Một buổi sáng, ông hàng xóm Giắc không tới. Tám ngày sau, ông chết.
Khi hai người đồng nghiệp của ông tới khiêng xác, tôi đứng ở ngưỡng cửa phòng mình. Tôi nghe họ đùa cợt trong khi khiêng chiếc áo quan xuống, nó rên lên trầm đục mỗi lần va chạm.
Một người, một gã thấp béo, bảo người kia, một gã cao gầy:
— Lão phu đòn giờ cũng đến lượt bị khiêng đi rồi.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn